Bí Sự Linh Trạch - Chương 15: Sâu trong khu phố cổ của Tân Thành, có một tòa hí lâu Thăng Bình được giấu mình suốt nửa thế kỷ.

Sâu trong khu phố cổ của Tân Thành, có một tòa hí lâu Thăng Bình được giấu mình suốt nửa thế kỷ. Gạch xanh ngói xám, mái cong vút lên, tấm biển thếp vàng…

Nội dung chương

Sâu trong khu phố cổ của Tân Thành, có một tòa hí lâu Thăng Bình được giấu mình suốt nửa thế kỷ.

Gạch xanh ngói xám, mái cong vút lên, tấm biển thếp vàng treo trên cổng lớn đã phai màu bong tróc từ lâu, chỉ còn sót lại nửa chữ “Thăng Bình”, toát ra vẻ tiêu điều khó tả. Nơi này từng trống chiêng vang trời, khách ngồi kín chỗ, vậy mà giờ đây mạng nhện giăng đầy, cửa nẻo tan hoang, thành ổ trú của mèo hoang chó hoang, càng là tòa hí lâu hung hiểm mà người địa phương nhắc đến cũng không dám nhắc.

Nguyên do ẩn trong một chuyện cũ bốn mươi năm trước.

Năm ấy, trong hí lâu có một đào hoa đán nổi danh một vùng, tên là Thẩm Thanh Hoan. Người cũng như tên, dung mạo thanh tuyệt, một khúc “Bá Vương Biệt Cơ” nàng hát khiến cả thành rơi lệ. Nàng và võ sinh trong gánh hát là Chu Cảnh Ngôn phải lòng nhau, hẹn rằng đợi vở “Bá Vương Biệt Cơ” này diễn xong, hai người sẽ rời khỏi hí lâu, sống những ngày tháng yên ổn.

Nhưng ông chủ hí lâu ham mê sắc đẹp của Thẩm Thanh Hoan, ép buộc dụ dỗ không thành, bèn vào đêm nàng lên sân khấu, ngầm ra tay, khóa chết lối ra phía hậu đài, rồi châm một mồi lửa, thiêu rụi phục trang, màn sân khấu và cảnh dựng.

Trận hỏa hoạn ấy cháy suốt một đêm.

Thẩm Thanh Hoan bị nhốt giữa sân khấu, không kêu cứu, không khóc gào, chỉ mặc bộ áo diễn Ngu Cơ đỏ tươi ấy, hát cho xong đoạn cuối của “Bá Vương Biệt Cơ”. Hát đến câu cuối cùng, nàng rút kiếm tự vẫn, ngã xuống giữa biển lửa hừng hực.

Từ đó, hí lâu Thăng Bình hoàn toàn bỏ hoang.

Những chuyện quỷ dị cũng theo đó mà đến.

Cứ đến nửa đêm, trong hí lâu lại vọng ra tiếng hát ê a, tiếng đàn nhị, tiếng chiêng trống nghe rõ mồn một, như thể bên trong đang mở một vở đại hí. Người đi ngang qua thỉnh thoảng liếc vào trong, luôn có thể nhìn thấy trên sân khấu đứng một bóng người mặc áo diễn đỏ, tay áo nước khẽ phất, hết lần này đến lần khác hát khúc tuyệt xướng chưa từng hát trọn ấy.

Đáng sợ hơn là, hễ ai nửa đêm đến gần hí lâu, đều sẽ nghe thấy một câu hỏi u uẩn:

“Thanh kiếm của ta… đẹp không?”

Ai trả lời “đẹp”, ngày hôm sau trên cổ tay sẽ vô cớ xuất hiện một vết thương dài mảnh.

Ai trả lời “không đẹp”, đều sẽ bệnh nặng một trận, sốt cao không dứt.

Lâu dần, không còn ai dám đến gần sân khấu tuyệt xướng này nữa.

Hôm ấy, một ông lão tóc bạc phơ tìm đến ba người Lâm Vũ.

Ông lão là cầm sư của gánh hát năm xưa, nay đã hơn tám mươi tuổi, chân tay bất tiện, nhưng vẫn cố chấp đích thân tìm đến.

“Tôi cầu xin các cô cậu… hãy đến hí lâu một chuyến.” Ông lão lau nước mắt, giọng run rẩy. “Cô nương Thanh Hoan bị vây ở đó bốn mươi năm, oán khí không tan, không phải vì muốn hại người, mà là đang chờ một sự thật… Năm đó kẻ phóng hỏa không phải ông chủ, có người gánh tội thay hắn, hung thủ thật sự vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật!”

Ba người Lâm Vũ nhìn nhau, lập tức gật đầu.

Nhà dữ, lầu ma, thôn hoang bọn họ đều từng đi qua, nhưng một tòa hí lâu cất giấu tuyệt xướng và oan khuất, vẫn là lần đầu tiên.

Đêm hôm ấy, ba người mang theo giấy bùa, nút bình an, đèn pin, đến hí lâu Thăng Bình.

Còn chưa tới gần, họ đã cảm nhận được một luồng âm lạnh thấu xương.

Dưới màn đêm bao phủ, cả tòa hí lâu giống như một con cự thú đang ngủ đông, im lìm mà quái dị. Cánh cổng lớn khép hờ, vừa đẩy nhẹ đã phát ra một tiếng “kẽo kẹt...” kéo dài, trong đêm tĩnh mịch nghe càng chói tai.

“Bên trong… thật sự đang hát hí à?” Lý Na nín thở, nghiêng tai lắng nghe.

Quả nhiên.

Từ phía sân khấu lờ mờ vọng đến tiếng đàn nhị, thê lương, ai oán, kéo theo âm đuôi thật dài. Ngay sau đó, là giọng nữ nhẹ nhàng mà u oán, từng chữ từng câu, hát đúng khúc “Bá Vương Biệt Cơ”.

“Quân Hán đã lấn đất, bốn bề vang tiếng Sở ca…”

Ba người men theo lối đi phủ đầy bụi, chậm rãi tiến về phía trước.

Hàng ghế hai bên đã mục nát nứt toác, dưới đất vương vãi những cuốn kịch bản cũ rách, ảnh diễn phai màu, mặt nạ hí kịch vỡ vụn. Trong không khí tràn ngập mùi ẩm mốc, mùi bụi bặm, còn có một mùi hương phấn son nhàn nhạt, đó là mùi thuộc về Thẩm Thanh Hoan.

Đi tới trước sân khấu, chùm sáng đèn pin chiếu lên trên...

Dù đã chuẩn bị tâm lý, Lý Na vẫn hít ngược một hơi lạnh.

Giữa sân khấu, thật sự đứng một bóng dáng đỏ rực.

Mũ phượng áo thêu, tay áo nước buông dài, tóc đen như mực, quay lưng về phía bọn họ, thân hình mảnh mai, đang nhẹ nhàng múa theo làn điệu hát. Bộ áo diễn ấy trong bóng tối đỏ đến nhức mắt, như đã thấm đẫm máu tươi.

Nàng không quay đầu lại, nhưng như đã biết từ lâu rằng họ đã đến.

Tiếng hát hơi khựng lại.

Sau đó, câu nói từng khiến vô số người rợn tóc gáy nhẹ nhàng bay xuống:

“Thanh kiếm của ta… đẹp không?”

Cả người Lý Na cứng đờ, sợ đến mức không dám lên tiếng.

Những người trước đây hoặc bị dọa đến bị thương, hoặc bị dọa đến ngã bệnh. Giờ đến lượt bọn họ, sống chết chỉ nằm trong một câu trả lời.

Lâm Vũ bước lên một bước, giọng trầm ổn, không có chút sợ hãi:

“Kiếm là kiếm tốt, chỉ là không nên nhuốm máu của cô nương Thanh Hoan.”

Bóng đỏ bỗng run mạnh.

Tiếng hát im bặt.

Tiếng chiêng trống, tiếng đàn nhị, đồng thời biến mất.

Cả tòa hí lâu rơi vào tĩnh mịch chết chóc.

Thẩm Thanh Hoan chậm rãi xoay người.

Ánh đèn pin phác ra gương mặt nàng... mày mắt như tranh, thanh lệ thoát tục, chỉ là sắc mặt trắng bệch như giấy, hai mắt đen kịt, không có lòng trắng, khóe môi treo một nụ cười như có như không. Trong tay nàng nắm một thanh đoản kiếm màu bạc, thân kiếm lóe lên ánh lạnh, chính là thanh kiếm năm xưa nàng dùng để tự vẫn.

“Các người… đến giúp ta?”

Giọng nàng nhẹ bẫng, mang theo tủi hờn và cô quạnh của bốn mươi năm.

“Phải.” Lâm Vũ gật đầu. “Chúng tôi biết cô không tự nguyện tự vẫn. Cô bị người ta khóa trên sân khấu, bị thiêu sống, bị ép hát xong vở diễn cuối cùng. Chúng tôi cũng biết, hung thủ thật sự phóng hỏa năm đó vẫn chưa bị vạch mặt.”

Thân ảnh Thẩm Thanh Hoan trong khoảnh khắc bắt đầu vặn vẹo.

Oán khí ngút trời!

Trong hí lâu âm phong cuồng loạn nổi lên, bụi trên mái nhà rơi xuống lả tả, màn sân khấu hai bên điên cuồng phất động. Hồn ma vốn đang yên tĩnh, thoáng chốc trở nên hung lệ.

“Là hắn… là hắn lừa ta…”

“Hắn khóa cửa, phóng hỏa, ta hát đến đứt cổ họng, cũng không có ai đến cứu ta…”

“Ta đợi bốn mươi năm… đợi suốt bốn mươi năm rồi…”

Tiếng khóc thê lương thay cho tiếng hát, lặp đi lặp lại vang vọng trong hí lâu, nghe đến lòng người chua xót.

Lý Na không nhịn được đỏ hoe mắt: “Chị Thẩm, chị nói cho chúng tôi biết, rốt cuộc hung thủ thật sự là ai? Chúng tôi nhất định giúp chị đưa hắn ra trước pháp luật!”

Thẩm Thanh Hoan giơ thanh kiếm trong tay lên, mũi kiếm chỉ về phía hậu đài.

“Hắn ở bên trong… hắn vẫn luôn ở đó… hắn sợ ta nói ra chân tướng, bốn mươi năm qua, đêm nào cũng đến hí lâu trấn áp hồn phách của ta…”

Ba người đột ngột quay đầu.

Cánh cửa hậu đài chẳng biết từ lúc nào đã mở ra một khe hở.

Trong khe cửa, một đôi mắt vẩn đục mà âm hiểm đang nhìn chằm chằm vào bọn họ.

Trương Phong lập tức siết chặt nắm đấm: “Hung thủ thật sự trốn suốt bốn mươi năm, cuối cùng cũng chịu hiện thân rồi.”

Lâm Vũ che chở Lý Na, từng bước đi về phía hậu đài.

Mỗi bước đi, tiếng hát của Thẩm Thanh Hoan lại vang lên lần nữa, càng lúc càng lớn, càng lúc càng oán hận. Cả tòa hí lâu như trở về đêm bốn mươi năm trước, khi ngọn lửa bốc cao ngút trời.

Ánh đèn lúc sáng lúc tắt.

Tay áo nước tung bay.

Tuyệt xướng lại cất lên.

Mà lần này, nàng hát không phải khúc biệt ly, mà là khúc đòi mạng.

Cánh cửa cũ nát của hậu đài, trước mặt bọn họ, chậm rãi mở rộng.

Một ông lão mặc áo dài đen, tóc đã hoa râm, đứng sau cánh cửa, trong tay cầm một xâu khóa đồng năm xưa dùng để khóa cửa, trên mặt lộ ra nụ cười dữ tợn mà tuyệt vọng.

“Đã đến rồi… thì ở lại hết đi, bầu bạn với cô nương Thanh Hoan, hát hí cả đời này…”

Chương khác

Xem thêm