Khế Ước Sinh Tử: Ta Cược Cả Tu Tiên Giới - Chương 414: Hai vực đầu tiên ký
Ngày 3 của ba mươi ngày vận động. Sáng sớm, khi Lục Tri Vi còn đang trên đường đến vực thứ ba, tin tức từ các vực liên tục báo về qua chim đưa thư, khiến…
Nội dung chương
Ngày 3 của ba mươi ngày vận động.
Sáng sớm, khi Lục Tri Vi còn đang trên đường đến vực thứ ba, tin tức từ các vực liên tục báo về qua chim đưa thư, khiến cả đoàn vui mừng khôn xiết. Mỗi tin báo về là một vực đã ký xong, mỗi con chim bay đến là một niềm vui mới. Tô Ngưng đọc tin mà tay run run vì xúc động, nàng không ngờ mọi việc lại thuận lợi đến vậy, không ngờ dân chúng lại tin tưởng đến vậy. Nàng đưa tin cho Lục Tri Vi xem, hắn đang nghỉ chân bên đường, đọc xong cũng mỉm cười, nụ cười nhẹ nhõm sau bao ngày căng thẳng. Hắn nói với Tô Ngưng: dân tin ta, ta càng phải trân trọng niềm tin ấy, không được phụ lòng họ. Xích Đồng Vực, vực thứ hai mà Lục Tri Vi đến, là vực đầu tiên ký xong với số lượng gần như toàn bộ dân vực, vì họ tin hắn tuyệt đối. Nơi đây là quê hương của hắn, là nơi hắn từng thắng trận cược sinh tử, là nơi dân chúng đã chứng kiến hắn từ một kẻ thắng bằng kẽ hở trở thành người dám trả giá vì công bằng. Khi hắn đến, dân vực ra đón từ ngoài cổng thành, đông đến mức đường vào thành tắc nghẽn, có người còn mang cả rượu thịt đến đãi hắn như đãi người thân đi xa về. Các bô lão trong vực đích thân ra đón, nắm tay hắn mà nước mắt lưng tròng, nói: Xích Đồng Vực nợ ngươi một ân tình lớn, hôm nay chúng ta trả bằng chữ ký. Hắn đọc khế cho dân nghe, dân nghe xong không cần hỏi nhiều, ký ngay, vì họ tin hắn, tin tuyệt đối, tin như tin người thân trong nhà.
Nhưng niềm vui lớn nhất đến từ Hắc Thủy Vực, nơi Tạ Vãn Thư phụ trách. Vực này vốn nổi tiếng là khó tính nhất trong chín vực. Dân chúng ở đây từng bị lừa nhiều lần bởi những bản khế ước đầy kẽ hở: có người mất đất, có người mất nhà, có người còn mất cả người thân vì những kẽ hở ấy. Nên họ rất đa nghi, họ không dễ dàng tin vào bất kỳ bản khế ước nào nữa. Khi Tạ Vãn Thư đến, dân vực nhìn nàng bằng ánh mắt đầy nghi ngờ và đề phòng, có người còn nói thẳng vào mặt nàng: lại một kẻ đến lừa chúng ta nữa đây, các người lừa chúng ta chưa đủ sao. Nàng không giận, chỉ mỉm cười, vì nàng biết, muốn lấy được niềm tin của những người đã bị lừa quá nhiều, phải dùng sự thật, không thể dùng lời nói suông.
Tạ Vãn Thư đến Hắc Thủy Vực vào ngày 2. Nàng không vội vàng đọc khế như Lục Tri Vi, mà làm một việc khác, một việc chỉ chấp luật như nàng mới nghĩ ra được. Nàng dựng một tấm bảng lớn ở quảng trường trung tâm. Trên bảng nàng viết từng điều khoản của bản khế mới, bên cạnh là phần đối chiếu với các bản khế cũ từng được dùng để lừa dân vực này, những bản khế mà đến giờ nhắc lại dân vẫn còn căm hận.
Nàng cho người đi khắp vực, đi từng nhà, mời tất cả những người từng bị lừa bởi khế ước cũ đến, cùng nhau đối chiếu từng chữ, từng câu. Tin lan ra nhanh chóng, người đến ngày càng đông, có người còn mang theo cả bản khế cũ đã ố vàng đến để đối chiếu trực tiếp, xem kẽ hở đã hại mình năm xưa giờ đã được bịt kín như thế nào. Nàng chỉ ra rành mạch. Đây, điều khoản về thuế trong khế cũ có kẽ hở ở chữ vô điều kiện, kẻ lừa đảo đã lợi dụng nó để thu thêm thuế gấp mấy lần, khiến bao gia đình tan nát. Còn trong bản khế mới, kẽ hở đã được bịt kín bằng câu này, ý định ghi rõ như thế này, không ai có thể lợi dụng được nữa. Đây, điều khoản về đất đai trong khế cũ mập mờ ở chữ tạm thời. Kẻ có quyền đã chiếm đất của dân rồi nói là tạm thời, mà tạm thời đến mấy chục năm, dân kêu trời không ai thấu. Còn bản khế mới ghi rõ thời hạn từng ngày, ghi rõ mức bồi thường từng khoản, không một chữ mập mờ, không một chỗ để lách.
Dân chúng vây quanh tấm bảng từ sáng sớm đến tối mịt, xì xào bàn tán không ngớt, có người xem xong lại rủ người nhà đến xem cùng. Có người đọc xong, gật gù thán phục: đúng thật, kẽ hở đã bị bịt kín thật rồi, không còn chỗ nào để lừa nữa. Có người vẫn nghi ngờ, lắc đầu: liệu còn kẽ hở nào tinh vi hơn mà chúng ta chưa thấy không, kẻ lừa đảo ngày càng cao tay, không thể không đề phòng.
Tạ Vãn Thư nghe vậy, không giận mà còn mỉm cười hiền hậu. Vì nàng hiểu nỗi sợ của họ, nàng cũng từng thấy quá nhiều người bị lừa:
- Bà con cứ từ từ xem, xem kỹ từng chữ, xem bao lâu cũng được, ta ở đây chờ, không đi đâu hết. Ta là chấp luật của Giám Khế Viện, nghề của ta là tìm kẽ hở trong khế ước, tìm ra kẽ hở để bảo vệ dân. Ta đã soi bản khế này ba ngày ba đêm không ngủ, soi từng chữ một, và ta dám thề trước thiên địa, ta không tìm được một kẽ hở nào. Nếu bà con tìm được một kẽ hở, ta sẽ là người đầu tiên đứng ra tố cáo bản khế này.
Để chứng minh thêm, nàng còn mời vài vị túc nho đức cao vọng trọng trong vực cùng lên đối chiếu, vì nàng biết dân chúng tin lời túc nho hơn tin lời quan. Mấy vị túc nho ban đầu còn kiêu ngạo, vuốt râu cho rằng một nữ chấp luật trẻ tuổi thì biết gì về khế văn, khế văn là thứ phải nghiên cứu mấy chục năm mới hiểu được. Nhưng sau khi đối chiếu từng chữ, từng điều xong, ai cũng phải gật đầu thán phục, có người còn đỏ mặt vì xấu hổ với thái độ ban đầu của mình, có người còn chắp tay xin lỗi Tạ Vãn Thư, nói mình đã xem thường người trẻ.
Một vị túc nho râu dài nhất vực, sau khi xem xong toàn bộ, thở dài một hơi thật dài. Ông ta nói với đám đông:
- Lão phu nghiên cứu khế văn bốn mươi năm, đã xem qua không biết bao nhiêu bản khế lớn nhỏ, chưa từng thấy bản khế nào chặt chẽ, hoàn hảo như vậy. Từng chữ đều có ý định ghi rõ, từng điều đều có ví dụ minh họa cụ thể, không thể xuyên tạc, không thể bẻ cong, không thể lợi dụng. Người soạn bản khế này, không chỉ giỏi chữ nghĩa, mà còn có tấm lòng thật sự vì dân, vì người nghèo. Lão phu phục, thật sự phục, phục cả tài lẫn đức.
Nghe lời của vị túc nho đáng kính nhất vực, người mà cả vực đều kính trọng, dân chúng cuối cùng cũng tin hoàn toàn. Họ xếp hàng ký tên, hàng dài không thấy cuối, kéo từ quảng trường ra tận ngoài phố. Ai cũng vui vẻ, có người còn hát nghêu ngao trong lúc xếp hàng. Vì lần đầu tiên trong đời, họ ký một bản khế mà mình hiểu rõ từng chữ, ký mà không sợ bị lừa, ký mà trong lòng thanh thản, ký mà thấy tương lai sáng sủa hơn.
Có một bà lão ký xong, nắm chặt tay Tạ Vãn Thư không chịu buông, nước mắt lưng tròng:
- Cô nương, cảm ơn cô đã cho chúng tôi thấy sự thật, cho chúng tôi thấy bản khế mới khác bản khế cũ ở chỗ nào. Cả đời tôi ký không biết bao nhiêu khế ước, lần nào cũng lo sợ, tay run đến mức viết không nổi chữ, chỉ có lần này là tôi ký mà cười được, cười vì yên tâm, cười vì từ nay không còn sợ bị lừa nữa.
Tạ Vãn Thư ôm lấy bà lão vào lòng, mắt cũng đỏ hoe, giọng nghẹn ngào. Nàng thấy, những gì mình làm ba ngày qua thật sự có ý nghĩa, ý nghĩa hơn bất kỳ vụ xử án nào nàng từng làm, ý nghĩa hơn cả những năm tháng nàng ngồi trong công đường xử những vụ kiện không hồi kết.
Tối hôm đó, Tạ Vãn Thư ngồi trong phòng trọ, mở cuốn sổ tay của mình ra, chấm mực, viết một dòng mà nàng sẽ nhớ cả đời. Nàng viết chậm rãi, từng chữ nắn nót, như khắc vào lòng mình. Nàng nhớ lại ba ngày vất vả qua, nhớ những ánh mắt nghi ngờ ban đầu của dân Hắc Thủy Vực, nhớ những giọt nước mắt của bà lão khi ký xong, nhớ lời của vị túc nho râu dài. Nàng làm chấp luật đã nhiều năm, từng thấy vô số bản khế đầy kẽ hở, từng chứng kiến bao nhiêu người bị lừa vì những kẽ hở đó, từng phải xử những vụ kiện mà kẻ lừa đảo thoát tội nhờ kẽ hở. Hôm nay, lần đầu tiên trong đời, nàng được giám sát một bản khế hoàn hảo, một bản khế mà người soạn đã dốc hết tâm huyết, thậm chí trả cả ba trăm năm tuổi thọ để đảm bảo nó công bằng. Nàng thấy, nghề chấp luật của mình cuối cùng cũng có ý nghĩa thật sự. Không phải đi dọn dẹp hậu quả của kẽ hở, không phải xử những vụ kiện mà người bị hại không bao giờ lấy lại được công bằng. Mà là chứng kiến một bản khế không có kẽ hở ra đời, chứng kiến dân chúng ký khế mà cười, chứ không phải ký khế mà khóc. Nàng nhớ lại lần đầu gặp Lục Tri Vi, khi hắn còn là một khế tu trẻ tuổi hay dùng thủ đoạn, nàng từng coi thường hắn, từng thề sẽ giám sát hắn cả đời. Giờ nàng mới hiểu, con người có thể thay đổi, và sự thay đổi của hắn đã mang lại điều tốt đẹp cho biết bao người.
Tối hôm đó, Tạ Vãn Thư ghi vào sổ: Lần đầu tiên ta giám sát một bản khế mà không tìm được lỗi.