Bát Sọ Trấn Long Mạch - Chương 1: Hố Móng Hắc Ám

Tầng hầm B6 của tòa tháp Cát Tường nằm ở độ sâu hai mươi chín mét dưới mực nước biển, nơi không khí đặc quánh mùi vữa non, hóa chất phụ gia đóng rắn…

Nội dung chương

Tầng hầm B6 của tòa tháp Cát Tường nằm ở độ sâu hai mươi chín mét dưới mực nước biển, nơi không khí đặc quánh mùi vữa non, hóa chất phụ gia đóng rắn nhanh và hơi ẩm rỉ ra từ vách tường vây barrette. Tiếng máy nén khí trên mặt đất dội xuống đây chỉ là những nhịp thở nghẹn ngào, truyền qua hàng trăm mét dầm chuyển và cột bê tông dự ứng lực mác C60.

Tôi cúi người, siết chặt ốc vít của máy siêu âm khuyết tật bê tông SonReb. Mũi khoan rút lõi đường kính một trăm milimét đặt cạnh chân tôi đã chạy liên tục ba giờ đồng hồ. Nước làm mát mũi khoan trộn lẫn bột đá xám xịt chảy tràn khắp sàn epoxy màu xám tro, tụ lại quanh rãnh thu nước tạm thời.

- Kỹ sư Phong, bên anh đo đạc xong chưa?

Giọng nói càu nhàu của Phạm Hùng - Đội trưởng đội giám sát thi công thuộc tập đoàn Cát Tường Holdings - vang lên từ phía sau lưng tôi. Gã đứng dựa lưng vào một thanh giằng thép hình chữ H, chiếc mũ bảo hộ màu trắng ngả màu bết dính bụi xi măng, điếu thuốc lá trên môi gã đỏ rực từng chặp trong bóng tối lờ nhờ của dải đèn huỳnh quang chống ẩm.

Tôi không ngẩng đầu lên, tay vẫn giữ chặt đầu dò tiếp xúc bề mặt bê tông:

- Tần số truyền sóng âm ở vị trí này tụt xuống dưới ba ngàn mét một giây. Vùng bê tông liên kết quanh đài cọc trung tâm C1 bị rỗ tổ ong nghiêm trọng, hoặc tệ hơn là tồn tại một khoảng rỗng lớn chưa được bơm vữa lấp đầy.

Hùng phà một ngụm khói đắng ngắt vào không gian kín. Khói thuốc không thoát đi đâu được, quẩn quanh trước chóa đèn bảo vệ:

- Tòa nhà đã cắt băng khánh thành cả tháng nay. Sáu mươi tám tầng bên trên đang bắt đầu cho các quỹ tài chính thuê mặt bằng. Anh bảo móng có khoảng rỗng, chẳng khác nào nói tòa tháp nặng hơn hai trăm ngàn tấn này đang đứng trên một cái bong bóng xà phòng?

- Tôi không nói về cảm tính, anh Hùng. Tôi đọc kết quả từ máy móc.

Tôi đứng thẳng dậy, vặn lưng để xoa dịu cơn đau buốt dọc sống lưng. Ba mươi tư tuổi, năm năm học Đại học Xây dựng Hà Nội, bốn năm học thạc sĩ và làm việc tại Viện Công nghệ Đô thị Tokyo, tôi được Tập đoàn Giám định Độc lập Việt Nam cử đến đây vì những biến dạng lún lệch bất thường được cảm biến gia tốc gắn ở tầng mái ghi nhận vào tuần trước. Một công trình cao hai trăm tám mươi mét vươn thẳng lên bầu trời vùng duyên hải không thể nào có độ võng ngược chiều gió thịnh hành. Quy luật cơ học kết cấu không cho phép điều đó tồn tại.

Màn hình kỹ thuật số của máy đo GPR (Ground Penetrating Radar) đặt trên xe đẩy chuyên dụng hiển thị các dải màu sắc biến thiên kỳ quái. Theo bản vẽ hoàn công mà Cát Tường Holdings nộp cho cơ quan quản lý đô thị, đáy đài móng trụ C1 là một khối bê tông cốt thép nguyên khối dày bốn mét rưỡi, ngàm chặt lên hệ thống bốn mươi cọc khoan nhồi đường kính hai mét, cắm sâu tám mươi mét vào tầng đá gốc. Mặt cắt địa chất của khu đất này vốn là lớp bùn sét yếu của cửa sông cũ, bên dưới có một thấu kính cát chứa mạch nước ngầm thông thẳng ra biển.

Nhưng tia radar phản xạ đáy đang vẽ nên một hình thù hoàn toàn trái ngược với hồ sơ thiết kế.

Ngay tại tâm đài cọc, nơi chịu toàn bộ tải trọng đứng của lõi thang máy và hệ thống khung thép chịu lực tòa nhà, sóng điện từ đập vào một mặt phẳng rỗng có kích thước đáy chừng hai mét vuông, cao gần một mét tám. Một căn phòng kỹ thuật ngầm. Hoặc đúng hơn là một cái hộc rỗng được giấu kín dưới chân đài móng.

- Bản vẽ kết cấu không có khoang rỗng này - Tôi chỉ ngón tay vào màn hình, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt thô ráp của Hùng. - Tại sao lại có một hộc kỹ thuật nằm dưới lớp bê tông bảo vệ cọc khoan nhồi? Đây là lỗi thi công bỏ sót cốt pha, hay cố tình thay đổi thiết kế chịu lực?

Hùng tiến lại gần, gót ủng cao su dẫm bẹp một vũng nước xi măng. Gã liếc nhìn đồ thị phản xạ sóng, cơ mặt co giật nhẹ:

- Chắc là túi khí sinh ra trong quá trình đổ bê tông khối lớn. Khi đổ hàng ngàn khối bê tông tự đầm cùng lúc, nhiệt thủy hóa tăng vọt lên bảy mươi độ C, tạo bọt khí là chuyện bình thường. Anh đừng chuyện bé xé ra to. Sếp tổng bên tôi muốn biên bản nghiệm thu độc lập được ký trước sáng thứ Hai.

- Nhiệt thủy hóa không thể tạo ra một cái túi khí vuông vức cạnh hai mét, có cốt thép bao quanh định hình thế này. - Tôi rút chiếc búa thử độ cứng Schmidt ra khỏi bao da bên hông. - Anh Hùng, tôi làm nghề thẩm định mười năm rồi. Bê tông đài móng trụ C1 này không phải tự đầm lỗi. Có người đã ngăn dòng chảy bê tông bằng vách tôn định hình trước khi trút mẻ vữa cuối cùng.

Hùng không trả lời ngay. Gã dụi tắt mẩu thuốc lá vào một lỗ bu-lông chờ trên thân cột, giọng chùng xuống thấp hẳn:

- Cát Tường Holdings trả phí dịch vụ kiểm định cho công ty anh cao gấp ba lần mức giá thị trường. Kỹ sư Phong, người thông minh thì biết khi nào nên dừng mũi khoan lại. Tòa nhà này đã hoàn thiện, đã đón khách tham quan, các quan chức thành phố đã đứng trên đài quan sát tầng sáu mươi lăm để cắt băng khánh thành. Anh nghĩ một tờ biên bản từ chối của anh có thể bắt chủ đầu tư phá bỏ đài móng đáy biển này ra để kiểm tra lại từ đầu sao?

- Trách nhiệm của tôi là an toàn công trình. - Tôi đáp gãy gọn, xếp các dây cáp tín hiệu vào hộp đựng thiết bị. - Nếu một rung chấn cấp sáu xảy ra ngoài khơi, túi rỗng này sẽ tạo ra hiện tượng tập trung ứng suất. Trụ C1 sẽ nứt toác đầu tiên. Khi lõi trung tâm mất khả năng chịu lực, hai trăm tám mươi mét tháp phía trên sẽ đổ sập theo hiệu ứng domino chỉ trong vòng bốn mươi giây. Hàng ngàn sinh mạng bên trên không thể đánh cược bằng sự cẩu thả của các anh.

Hùng nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt lạnh tanh. Gã khẽ nhếch mép, để lộ hàm răng ố vàng vì khói thuốc:

- Thôi được. Anh cứ đo đạc cho thỏa thích. Nhưng tôi nói trước, bảo vệ chỉ trực ca ở cửa hầm đến mười một giờ đêm. Sau giờ đó, hệ thống thông gió tầng hầm B6 sẽ tự động ngắt để tiết kiệm điện vận hành. Dưới này thiếu oxy, ngạt thở ráng chịu.

Gã quay lưng, những bước chân nặng nề nện trên nền sàn ẩm ướt xa dần về phía thang máy vận chuyển công nhân. Tiếng xích sắt kéo cửa thang vang lên khô khốc, rồi tiếng động cơ điện gầm rú đưa buồng thang trồi lên mặt đất.

Khu vực đáy hầm sâu nhất thành phố rơi vào im lặng hoàn toàn.

Một sự tĩnh lặng nặng nề, dường như bị đè nén bởi hàng trăm ngàn tấn bê tông và sắt thép phía trên. Tôi kéo chiếc ghế nhựa gấp lại gần trụ C1, tháo găng tay bảo hộ rồi xoa nhẹ hai bàn tay vào nhau để tìm chút hơi ấm. Dưới này nhiệt độ luôn thấp hơn mặt đất bên ngoài khoảng bốn độ, nhưng không khí mang theo một mùi lạ lùng. Không đơn thuần là mùi vôi vữa hay dầu bôi trơn ván khuôn. Nó thoảng qua một vị khen khét, ngai ngái, gợi nhớ đến thứ mùi chất béo hữu cơ bị đốt cháy dở dang.

Điện thoại trong túi quần tôi rung lên liên hồi. Màn hình hiện tên vợ cũ cùng mã vùng nước ngoài. Tôi nhấn nút nghe, áp điện thoại vào tai:

- A-lô, Thục Anh?

- Anh Phong à? Em vừa đưa bé An từ phòng khám về. - Giọng vợ cũ của tôi bên kia đầu dây nghe xa xăm, lẫn trong tiếng gió ù ù đặc trưng của vịnh Sydney. - Con bé đỡ sốt rồi, nhưng nó cứ quấy khóc, bảo nhìn thấy bóng đen đứng ngoài ban công tầng hai. Em đã dặn anh bao nhiêu lần, trước khi ly hôn anh phải dọn sạch mớ sách bùa chú, la bàn phong thủy của ba anh gửi từ Hà Nội vào. Con bé lôi mấy bức vẽ đồ hình quái đản trong ngăn kéo của anh ra xem rồi gặp ác mộng suốt cả tuần nay.

Tôi day day sống mũi, cảm giác mệt mỏi dâng lên tận thái dương:

- Anh đã vứt toàn bộ đồ đạc của gia đình cũ từ ngày dọn ra khỏi căn hộ đó rồi. Những thứ sách vở cổ hủ ấy là do ba anh gửi vào trước khi ông mất, anh chưa từng mở ra một lần. Em đưa con đi khám bác sĩ tâm lý trẻ em xem sao. Đừng gán ghép mọi chuyện vào ba thứ dị đoan vô căn cứ.

- Anh lúc nào cũng khoa học, lúc nào cũng số liệu. - Giọng Thục Anh gay gắt hơn. - Anh trốn chạy nguồn cội của mình, từ bỏ nghề gia truyền của dòng họ Nguyễn để đi làm một kỹ sư suốt ngày chui rúc dưới mương rãnh công trình. Nhưng anh nhìn lại mình xem, anh có thoát được cái bóng của gia đình anh không? Ba anh trước khi nhắm mắt đã nói gì, anh quên rồi à? Máu phong thủy ngấm vào xương tủy anh rồi, anh càng phủ nhận thì nó càng tìm đến anh theo cách tồi tệ nhất.

- Đủ rồi, Thục Anh. - Tôi cắt ngang lời cô ấy. - An đỡ sốt là tốt rồi. Chi phí điều trị của con bên đó thiếu bao nhiêu cứ nhắn, anh sẽ chuyển khoản ngay trong tuần. Giờ anh đang ở hiện trường, dưới tầng ngầm không tiện nói chuyện lâu.

Tôi ngắt cuộc gọi trước khi Thục Anh kịp phản ứng. Đặt điện thoại lên nắp hộp dụng cụ, tôi tựa đầu vào vách bê tông thô ráp của trụ C1.

Những lời của vợ cũ vô tình chạm vào vết thương mà tôi đã cố công băng bó suốt mười lăm năm qua. Cha tôi - một thầy địa lý nức tiếng đất kinh kỳ, người từng được giới thương nhân giàu có trải thảm đỏ đón rước để định vị thế đất, tầm long tróc mạch. Cả tuổi thơ của tôi trôi qua bên những chiếc la kinh xỉn màu, những cuốn sách thẻ tre chữ Hán mục nát và những bài giảng u u minh minh về huyệt vị, tử khí, sinh khí. Tôi ghét cay ghét đắng thứ lý thuyết mơ hồ không thể định lượng ấy. Tôi thi vào Đại học Xây dựng với điểm số thủ khoa, chọn đi du học Tokyo chỉ để chứng minh cho ông thấy: thế giới này vận hành bằng định luật bảo toàn năng lượng, bằng cơ học đất, bằng sức bền vật liệu, chứ không phải bằng mấy câu khẩu quyết vô căn cứ.

Cha tôi qua đời trong một cơn đột quỵ cách đây sáu năm. Trước lúc nhắm mắt, ông nắm chặt cổ tay tôi, bàn tay khẳng khiu như cành củi khô bấu chặt đến mức để lại vết bầm tím: *"Phong, con có chạy đằng trời cũng không thoát được mạch đất. Những kẻ xây tháp chọc trời ở đất này... chúng đang đào bới mồ mả của rồng... sẽ có ngày con phải dùng chính mắt mình để nhìn thấy cái giá phải trả..."*

Tôi thở dài, xua đuổi những ký ức u tối ra khỏi đầu. Tôi là một kỹ sư. Nhiệm vụ của tôi ở đây là xác định khuyết tật kết cấu, lập báo cáo kỹ thuật và yêu cầu Cát Tường Holdings phải khoan phụt vữa áp lực cao để gia cố lại đài móng C1. Mọi chuyện chỉ đơn giản có vậy.

Tôi cầm búa thử Schmidt lên, tiến lại gần vị trí mà máy quét GPR xác định có khoảng rỗng.

Đó là một mảng tường bê tông nằm ở mặt phía tây của đài cọc, nơi tiếp giáp trực tiếp với rãnh thu nước ngầm sâu nhất của tầng hầm B6. Khu vực này ánh sáng đèn huỳnh quang không rọi tới được, chỉ có ánh đèn pin gắn trên mũ bảo hộ của tôi quét qua từng vệt sáng trắng sắc lạnh.

Khi soi đèn ở cự ly gần, tôi nhận ra điểm bất thường trên bề mặt khối bê tông.

Lớp mặt ngoài này có màu xám sáng hơn so với khối đài móng chung quanh. Nó không được đổ bằng cốt pha thép tiêu chuẩn mà dường như được trát thủ công bằng tay, bề mặt gồ ghề, lồi lõm những vết bay miết vụng về. Thậm chí, viền mép của mảng bê tông này còn có một khe co giãn rộng chừng năm milimét chạy vòng quanh, tạo thành một khung hình chữ nhật cao đúng một mét tám, rộng một mét hai.

Một cánh cửa.

Ai đó đã dùng vữa mác cao để trám bít một lối đi kỹ thuật dẫn thẳng vào lòng đài móng cọc khoan nhồi.

Tôi dùng đầu búa gõ nhẹ lên bề mặt mép vữa.

*Coong.*

Âm thanh phát ra không phải tiếng đanh chắc của bê tông cốt thép đặc khối chịu nén, mà là một tiếng vang trầm đục, rỗng tuếch, dội ngược trở lại từ một không gian kín phía sau. Lớp vữa trát ngoài rất mỏng, chỉ dày chừng ba đến bốn phân. Phía sau lớp vữa này là một tấm kim loại.

Tôi tăng lực gõ búa vào góc mép dưới. Mảng vữa xốp vỡ vụn ra từng mảng, rơi lộp bộp xuống nền nước xi măng. Dưới ánh đèn pin sáng rực, một tấm thép tấm dày khoảng mười lăm milimét lộ ra, bề mặt được quét một lớp sơn chống rỉ màu đỏ thẫm. Điều đáng sợ là trên mặt tấm thép này, người ta không dùng bu-lông liên kết thông thường mà dùng que hàn điện đắp chết toàn bộ chu vi mép vào hệ khung thép chờ.

Một mối hàn vội vã, những đường xỉ hàn chưa thèm gõ sạch, văng tung tóe những hạt kim loại nhỏ li ti bám chặt vào bề mặt.

Nhưng điều khiến tôi khựng lại là những hình vẽ nguệch ngoạc được khắc trực tiếp lên mặt tấm thép đỏ bằng ngọn lửa mỏ cắt oxy-gas.

Đó không phải ký hiệu kỹ thuật xây dựng, không phải đánh dấu tim cốt hay cao độ trắc đạc. Chúng là những ký tự xoắn vặn kỳ quái, sắc nhọn như móng vuốt, đan xen vào nhau tạo thành hình một khuôn mặt quỷ dữ ba mắt với chiếc miệng há hốc, bao quanh bởi một vòng tròn chia làm tám hướng.

Ký ức tuổi thơ bị chôn vùi bỗng chốc cựa quậy trong đầu tôi. Hình vẽ này... tôi từng nhìn thấy một biến thể tương tự trong cuốn đồ thư cổ mà cha tôi từng cất kỹ dưới đáy rương gỗ nghiến. Thứ mà ông gọi là đồ hình trấn yểm mạch nước ngầm của mật giáo phương Bắc.

- Vô lý. - Tôi lẩm bẩm một mình, giọng nói run rẩy trong không gian vắng lặng. - Đây là công trình hiện đại bậc nhất thành phố. Làm sao có thể có thứ này ở đây?

Tôi đưa tay chạm vào bề mặt tấm thép.

Một cảm giác buốt lạnh thấu xương lập tức truyền qua lớp da tay tôi, xộc thẳng lên cánh tay, khiến toàn thân tôi rùng mình ớn lạnh. Nhiệt độ của tấm thép này thấp một cách phi lý. Trong môi trường hầm kín ngột ngạt gần ba mươi độ C, bề mặt kim loại lại lạnh ngắt như thể nó đang tiếp xúc với một khối băng ngầm vĩnh cửu.

Cùng lúc đó, một mùi hôi thối nồng nặc xộc ra từ kẽ hở giữa mảng vữa vừa vỡ.

Đó là mùi lưu huỳnh nồng nặc trộn lẫn với mùi tanh tưởi của bùn đáy biển mục rữa lâu năm, và nồng đượm nhất là mùi mỡ động vật ôi thiu bị đốt cháy. Mùi vị ghê tởm ấy xộc thẳng vào mũi, bóp nghẹt khí quản khiến tôi ho sặc sụa, phải lùi lại mấy bước, suýt ngã ngửa vào vũng nước làm mát mũi khoan.

Dưới chân tôi, mặt sàn epoxy bắt đầu rung nhẹ.

Không phải rung chấn cơ học do xe cộ chạy trên đường phố bên trên hay dư chấn động đất. Đó là một nhịp rung có chu kỳ, đều đặn và chậm rãi.

*Thịch.*

*Thịch.*

*Thịch.*

Cứ cách ba giây, sàn bê tông lại khẽ nảy lên một nhịp cực nhỏ, mắt thường khó nhìn thấy nhưng lòng bàn chân tôi cảm nhận rất rõ ràng qua đế ủng cao su. Cảm giác rung giật này truyền thẳng từ đáy sâu của đài móng C1 lên, mang theo tiếng nước ngầm réo rắt bên dưới lớp đá nền. Tiếng nước chảy không êm ả như dòng chảy tự nhiên qua tầng ngậm nước, mà gầm gừ, cuộn xoáy như thể một khối chất lỏng khổng lồ đang bị ép qua một cái van nghẹt.

Tôi hít một hơi thật sâu, nén cơn buồn nôn đang dâng lên cổ họng, quay lại xe đẩy lấy chiếc xà bén bằng thép tôi dài tám mươi phân.

Lý trí mách bảo tôi phải dừng lại, thu dọn đồ đạc và rời khỏi tầng hầm ngay lập tức. Nhưng trách nhiệm nghề nghiệp và nỗi hoài nghi ngột ngạt thôi thúc tôi không thể quay lưng. Bản báo cáo giám định độc lập của tôi không thể kết luận dựa trên những giả định mơ hồ. Tôi phải tận mắt nhìn thấy thứ gì đang nằm trong cái hộc rỗng kia, thứ gì đang phá hủy tính toàn vẹn của kết cấu móng tòa nhà này.

Tôi chèn đầu nhọn của chiếc xà bén vào khe hở giữa tấm thép và khung bê tông, nơi lớp xỉ hàn bị nứt do ứng suất nhiệt.

- Có ai ở dưới đó không? - Tôi hét lớn vào kẽ hở.

Chỉ có tiếng dội lại của chính giọng nói tôi, hòa cùng tiếng nước réo rắt rợn người.

Tôi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể sáu mươi bảy ký của mình lên cán xà bén, ghì mạnh xuống.

*Rắc!*

Một mối hàn bị xé toạc ra. Tấm thép biến dạng cong vênh, để lộ một khe hở rộng bằng ba ngón tay dẫn thẳng vào khoảng không đen ngòm bên trong đài móng.

Một luồng gió buốt giá từ khe hở thổi tạt ra ngoài, mang theo thứ mùi hôi thối nồng nặc gấp mười lần lúc trước. Ngọn đèn pin trên mũ bảo hộ của tôi chập chờn chớp tắt mấy lần trước khi ổn định trở lại.

Tôi ghé sát mắt vào khe hở, điều chỉnh chùm sáng đèn pin rọi thẳng vào lòng hộc tối.

Bên trong không hề có cốt thép đan lưới hay các thanh giằng chịu lực. Đó là một căn phòng rỗng hình lập phương được lát kín bằng những phiến đá bazan màu đen tuyền, không hề thấm nước.

Và ngay tại trung tâm của căn phòng đá ấy, trên một bệ xi măng cao chừng nửa mét nhô lên khỏi vũng chất lỏng đen ngòm sủi bọt, một vật thể quái dị đang nằm im lìm dưới ánh đèn pin của tôi.

Đó là một vật hình tròn, màu trắng ngà xỉn vàng, có đường viền được bọc một lớp kim loại màu đồng đỏ chạm khắc hoa văn tinh xảo. Bên trong lòng vật thể hình vòm ấy chứa đầy một thứ chất lỏng đặc quánh, bề mặt óng ánh ánh bạc phản chiếu ánh đèn như gương.

Một chiếc bát bằng sọ người.

Cắm ngập xuyên qua đáy chiếc bát sọ ấy, đâm thẳng xuống nền đá móng bên dưới, là một mũi kim loại ba cạnh đen đúa, gỉ sét nhưng toát ra luồng tử khí sắc lạnh rợn người.

Bên dưới đáy hộc ngầm, vũng bùn đen quanh mũi kim loại bắt đầu sôi lên sùng sục, từng bọt khí vỡ ra, giải phóng một tiếng thì thầm rên xiết nghe hệt như tiếng thở dài của một người đàn bà bị chôn sống dưới mồ sâu.

Chương khác

Xem thêm