Bát Sọ Trấn Long Mạch - Chương 3: Ký Ức Phong Thủy
Mùi khét của lưu huỳnh và mỡ cháy bám chặt vào từng sợi vải trên bộ đồ bảo hộ của tôi. Tôi ngồi bệt trên mặt sàn epoxy lạnh ngắt, lưng tựa vào chiếc cột…
Nội dung chương
Mùi khét của lưu huỳnh và mỡ cháy bám chặt vào từng sợi vải trên bộ đồ bảo hộ của tôi.
Tôi ngồi bệt trên mặt sàn epoxy lạnh ngắt, lưng tựa vào chiếc cột phụ B6-12 cách hộc ngầm chừng bốn mét. Hai lá phổi co thắt dữ dội sau từng nhịp hít thở gấp gáp. Không khí tầng hầm thứ sáu đặc quánh hơi ẩm mặn chát của biển và vị kim loại han gỉ.
Trước mắt tôi, khe hở trên vách đài móng C1 vẫn phả ra từng luồng khí lạnh buốt. Tấm thép chịu lực bị nạy cong vênh để lộ một vệt đen ngòm sâu hoắm, nơi chiếc bát sọ Kapala và cây chùy sắt ba cạnh đang ngự trị giữa vũng thủy ngân sủi bọt.
Tôi đưa tay run rẩy lau mồ hôi đọng quanh viền mắt. Bản năng sinh tồn gào thét đòi tôi phải thu dọn đồ đạc, bấm thang máy chở hàng đi thẳng lên mặt đất, rời xa cái đáy vực sâu hai mươi tư mét này. Nhưng mười hai năm kinh nghiệm trong ngành giám định kết cấu kéo giật tôi lại. Là kỹ sư trưởng của đoàn thẩm định độc lập, tôi hiểu rất rõ một nguyên tắc: mọi hiện tượng lạ trên công trường đều phải được quy đổi ra số liệu. Không một cơ quan pháp lý hay tòa án nào chấp nhận những câu chuyện ma quái về sọ người hay dòng nước ngầm rên rỉ. Họ chỉ đọc biểu đồ biến dạng, cường độ chịu nén của bê tông và tọa độ sai lệch kết cấu.
Nếu muốn dừng dự án tháp Cát Tường trước khi thảm họa xảy ra, tôi cần một biên bản sai phạm kỹ thuật không thể chối cãi. Một khoang rỗng trái phép có thể tích ước tính gần một mét khối nằm ngay tại trung tâm đài móng cọc khoan nhồi B60 là bằng chứng sắt đá về việc cố ý phá hoại an toàn công trình. Tôi phải đo đạc, lập bản đồ đám mây điểm 3D và định vị chính xác tọa độ của cái hộc này.
Tôi gượng đứng dậy. Khớp gối nhức buốt vì ngâm nước ngầm bốc mùi tử khí. Tôi bước tới chiếc xe đẩy dụng cụ, mở khóa chiếc hòm chuyên dụng Pelican màu cam chống va đập. Bên trong là máy toàn đạc điện tử Leica FlexLine cùng hệ thống máy quét laser 3D quét đa hướng, thiết bị đo đạc chính xác cao nhất mà cơ quan trang bị cho tôi.
Tôi nhấc chân máy ba càng bằng sợi carbon ra, đặt vững chãi trên ba điểm cao của sàn bê tông cách miệng hộc ngầm ba mét rưỡi. Tôi siết chặt khóa vặn, gắn thân máy toàn đạc lên bệ đỡ, xoay nhẹ ba ốc cân bằng để đưa giọt nước tròn ở bọt thủy điện tử vào đúng tâm điểm. Đèn màn hình LCD màu xanh lục bật sáng, phát ra tiếng tít tít báo hiệu thiết bị đã hoàn thành việc tự hiệu chuẩn trọng lực.
Tôi gạt công tắc kích hoạt chùm laser đo khoảng cách quang học bước sóng 635 nanomet. Một chấm sáng đỏ rực xuất hiện trên bề mặt tấm thép biến dạng.
Tôi ghé mắt vào ống ngắm quang học, tay phải xoay ốc vi động ngang và đứng để hướng chấm laser xuyên qua khe hở của tấm thép, nhắm thẳng vào lòng hộc đá bazan đen tuyền bên trong.
Ống ngắm phóng đại ba mươi lần phóng to từng chi tiết của chiếc bệ xi măng.
Chấm laser đỏ trượt qua vũng bùn đen, quét lên thành chiếc bát sọ màu trắng ngà xỉn vàng. Ngay khi điểm sáng chạm vào mép dải đồng đỏ bọc quanh xương sọ, một hiện tượng quang học dị thường xảy ra ngay trước mắt tôi.
Tia laser màu đỏ không phản xạ ngược lại gương phản xạ của máy theo định luật thẳng góc thông thường.
Đường sáng bỗng cong vút sang một bên, uốn lượn quanh vành bát sọ hệt như một sợi chỉ đỏ bị luồng xoáy nước ngầm cuốn đi. Trên màn hình máy toàn đạc, các con số hiển thị tọa độ X, Y, Z bắt đầu nhảy múa điên cuồng. Khoảng cách đo được từ tâm máy đến vật thể liên tục thay đổi: 3.52m, nhảy vọt lên 18.90m, rồi tụt xuống âm 4.21m, trước khi màn hình nhấp nháy dòng chữ báo lỗi quang học toàn phần: *E-04: PHASE SHIFT OVERFLOW*.
- Lỗi dịch pha ánh sáng? - Tôi lẩm bẩm, ngón tay run rẩy gõ vào bàn phím máy.
Ánh sáng laser truyền qua không khí trong một khoảng cách ba mét không thể nào bị bẻ cong theo góc chín mươi độ trừ khi nó đi qua một vùng dị thường từ trường có mật độ năng lượng cực lớn hoặc một khối vật chất có độ cong không-thời gian đặc biệt. Nhưng đây chỉ là một tầng hầm bê tông cốt thép thông thường.
Tôi không tin vào mắt mình. Tôi tắt nguồn máy toàn đạc, tháo ống kính lau lại bằng giấy chuyên dụng, rồi khởi động lại hệ thống quét 3D toàn phần. Tôi muốn dựng lại hình ảnh đám mây điểm của cây chùy sắt ba cạnh cắm giữa lòng bát sọ.
Khi chùm tia laser bắt đầu quét theo ma trận lưới dày đặc, quét qua ba mặt chạm khắc phẫn nộ trên chuôi chùy Phurba, hiện tượng biến dạng quang học càng trở nên tồi tệ hơn. Ánh laser đỏ bị hút xoáy vào phần rãnh khắc của mũi kim loại ba cạnh. Từng tia sáng tán xạ vỡ vụn thành những đốm sáng lập lòe trôi nổi lơ lửng trong không khí u tối của hộc ngầm.
Cùng lúc đó, loa cảnh báo của máy đo từ trường cầm tay trong túi ngực tôi rú lên từng hồi the thé. Kim đo từ thông dạt thẳng sang vạch đỏ tối đa: trên 20.000 Gauss. Sức hút từ trường mạnh đến mức chiếc kẹp kim loại cài trên cổ áo tôi bị giật mạnh về phía trước, cọ xát vào lớp vải phát ra tiếng sột soạt.
Tôi ghé sát mắt vào thị kính một lần nữa, chỉnh vòng lấy nét thủ công để quan sát rõ hơn những ký tự đang phát sáng mờ mờ trên thân chùy sắt thiên thạch và dải đồng bọc quanh chiếc bát sọ.
Hình ảnh phóng đại hiện lên rõ mồn một.
Trên dải kim loại ôm lấy đường khớp sọ người, từng nét chạm khắc hình đầu lâu thu nhỏ xếp nối tiếp nhau thành một tràng hạt dài hai mươi mốt hạt. Xen kẽ giữa các đầu lâu là những phù chú tiếng Phạn cổ khắc chìm, nhưng mép các nét khắc lại bị cố ý cào xước bằng một thứ kim loại sắc nhọn khác để tạo hình một đồ án bát quái ngược chiều kim đồng hồ.
Máu trong người tôi như đông cứng lại.
Từng đường nét, từng góc cạnh gấp khúc của những ký hiệu cấm kỵ kia kích hoạt một chuỗi ký ức ngột ngạt mà tôi đã cố gắng chôn vùi suốt mười hai năm ròng rã.
Hình ảnh ngôi nhà cổ bốn gian lợp ngói vảy cá ở phố Hàng Bạc, Hà Nội bỗng hiện về rõ mòn mọt trong tâm trí tôi.
Đó là căn nhà của cha tôi - ông Nguyễn Kỳ Lương. Cả cuộc đời ông gắn liền với la bàn phong thủy, thước Lỗ Ban và những tập cổ tịch chữ Hán, chữ Nôm viết trên giấy dó ngả vàng. Gia tộc họ Nguyễn của tôi ba đời làm nghề địa lý phong thủy nức tiếng đất kinh kỳ, từng được các bậc quyền quý mời đi khắp Bắc Nam để tầm long điểm huyệt, an táng mồ mả, dựng phủ lập dinh.
Năm tôi mười tám tuổi, trong căn phòng thờ ngạt ngào mùi hương bài và trầm mục, cha tôi từng mở chiếc rương gỗ gụ có khóa đồng ba tầng, lôi ra một cuốn sách bọc bằng da dê màu nâu thẫm đã mòn vẹt bốn góc. Cuốn sách không có tên tác giả, bìa chỉ có duy nhất một chữ "Sát" viết bằng mực chu sa pha máu chó mực.
Khi đó, cha tôi trỏ ngón tay gầy guộc đầy vết sẹo vào trang vẽ một mũi cọc ba cạnh cắm xuyên qua đỉnh đầu người, giọng ông trầm đặc và lạnh lẽo:
"Phong à, cái nghề phong thủy chân chính là thuận theo trời đất, tìm nơi tụ khí tàng phong để con người được an cư lạc nghiệp. Nhưng trên đời này luôn có những kẻ điên cuồng muốn cướp đoạt sinh khí của đất trời bằng tà thuật. Độc ác nhất, tàn bạo nhất trong số đó là cấm thuật Đinh Long Sát của mật phái phương Bắc."
"Đinh Long Sát là gì hả cha?" - Cậu thiếu niên mười tám tuổi là tôi khi ấy tròn mắt hỏi.
"Là dùng sắt thiên thạch rèn thành chùy ba góc Kim Cang Phổ Ba, đặt trong bát sọ của người chết oan vào giờ hung, rồi đóng thẳng vào huyệt đạo trung tâm của long mạch. Mạch nước ngầm là huyết quản của đất. Đóng chiếc đinh này xuống, dòng long mạch sẽ không thể lưu chuyển, toàn bộ sinh khí nuôi dưỡng cả một vùng đất rộng lớn sẽ bị khóa chặt lại, không ngừng chảy vào nơi cây đinh cắm xuống. Kẻ sở hữu trận pháp sẽ gom hết tài lộc, giàu sang tột đỉnh chỉ sau một đêm. Nhưng cái giá phải trả là xương máu của muôn người sống bên trên."
Cha tôi vuốt ve trang sách da dê, mắt ông ướt nước vì một nỗi sợ hãi mơ hồ truyền đời:
"Trận pháp này là nghịch thiên đoạt mệnh. Vùng đất bị cắm đinh sẽ dần biến thành đất chết. Mạch nước ngầm mang theo oán khí của sọ người sẽ đầu độc tâm trí cư dân. Họ sẽ suy nhược, bệnh tật, hoang tưởng, và cuối cùng là tìm đến cái chết để hiến tế linh hồn cho cây chùy sắt. Nếu sau này con gặp phải trận pháp này, tuyệt đối không được dùng sức người mà nhổ bừa. Nhổ sai một phân, long mạch đứt gãy, đất lún nhà sập, họa diệt môn khó tránh."
Ngày đó, tôi đã cười nhạo lời cha.
Tôi gạt phắt cuốn sách da dê sang một bên, đập bàn đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt người cha già đang run rẩy vì tức giận. Tôi bảo ông rằng những thứ huyền thuật ma mị ấy chỉ là trò bịp bợm của những kẻ không hiểu biết về địa chất và cơ học công trình. Trái Đất vận hành theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, theo ứng suất cắt của Terzaghi và cơ học đất của Mohr-Coulomb. Làm gì có rồng nào dưới đất? Làm gì có long mạch nào chịu đau đớn vì một thanh sắt mục?
Tôi xé rách đơn đăng ký kế nghiệp gia đình, nộp hồ sơ thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, rồi giành học bổng sang Đại học Tokyo làm nghiên cứu sinh thạc sĩ ngành kết cấu công trình ngầm. Tôi muốn dùng bê tông cốt thép, dùng những công thức toán học thực nghiệm chính xác tuyệt đối để chứng minh rằng thế giới này hoàn toàn duy lý. Suốt hơn mười năm, tôi từ chối bước chân về lại căn nhà ở phố Hàng Bạc, từ chối mọi cuộc gọi của cha, chỉ để chứng minh bản thân đúng.
Nhưng giờ đây, đứng tại đáy sâu hai mươi tư mét của một trong những cao ốc hiện đại bậc nhất khu vực Đông Nam Á, nhìn chùm tia laser trắc đạc hiện đại nhất của Thụy Sĩ bị uốn cong bởi một cây chùy sắt thiên thạch cắm trong bát sọ người, toàn bộ hệ thống tri thức duy lý mà tôi dày công xây dựng đang rung chuyển dữ dội.
Những ký tự khắc chìm trên vành đồng của chiếc bát Kapala trong hộc móng hoàn toàn trùng khớp với hình vẽ trong cuốn sách da dê của cha tôi.
Đó chính xác là đồ hình Đinh Long Sát.
Tập đoàn Cát Tường Holdings không chỉ đơn thuần xây dựng một tòa tháp tài chính sáu mươi tám tầng. Họ đã cấu kết với một tà sư cao tay, bí mật đúc một khoang rỗng ngay dưới đáy cọc khoan nhồi trung tâm để thực hiện cấm thuật phong thủy tàn độc nhất. Tòa tháp cao hai trăm tám mươi mét này chính là một cái bẫy hút sinh khí khổng lồ, một cây kim khổng lồ cắm thẳng vào mạch máu của thành phố ven biển này để hút cạn kiệt vận khí muôn người, đổ dồn vào túi tiền của ban lãnh đạo tập đoàn.
Cơn ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên đỉnh đầu tôi.
Tôi thở dốc, buông tay khỏi thị kính của máy toàn đạc. Tôi cần phải kiểm tra kết cấu liên kết giữa thân chùy và đài móng. Theo nguyên lý kết cấu, dù cây chùy có mang tà thuật gì đi chăng nữa, nó vẫn là một thanh kim loại cắm vào nền địa chất. Nếu có thể đưa kích thủy lực hạng nặng vào, liệu chúng tôi có thể nhổ bật cây chùy này lên khỏi mạch nước ngầm để phá hủy trận pháp hay không?
Tôi cúi người, lấy ra chiếc đèn pin công suất mười nghìn lumen gắn trên gậy tự sướng kim loại có thể kéo dài ba mét, kèm theo một camera nội soi công nghiệp đầu mềm có đường kính chỉ tám milimét.
Tôi cẩn thận luồn đầu camera nội soi qua khe hở của tấm thép, hướng ống kính xuống sát chân bệ xi măng, nơi mũi nhọn của cây chùy Phurba đâm xuyên qua đáy bát sọ và ngập sâu vào lớp bê tông móng cọc nhồi. Màn hình điều khiển cầm tay hiển thị hình ảnh có độ phân giải 4K sắc nét.
Tôi nín thở nhìn vào màn hình.
Và một cảnh tượng hãi hùng bày ra trước mắt khiến toàn thân tôi run lên bần bật.
Nơi thân chùy sắt thiên thạch tiếp xúc với bê tông đài móng không hề có khe nứt cơ học hay dấu vết khoan đục sau khi đổ bê tông. Trái lại, xung quanh thân chùy đen đúa là hàng trăm, hàng ngàn những đường gân kim loại màu tím đen, mảnh như sợi chỉ nhưng đan kết chằng chịt như mạng nhện.
Những đường gân kim loại ấy không đứng yên.
Dưới ánh sáng cực mạnh của đèn soi nội soi, tôi nhìn thấy rõ ràng các đường gân sắt thiên thạch đang khẽ phập phồng. Chúng co bóp nhịp nhàng theo chu kỳ ba giây một lần, đồng bộ tuyệt đối với tiếng đập thổn thức dội lên từ lòng đất. Từng đường gân sắt đang từ từ bò lan, luồn lách qua các lỗ rỗng vi mô của bê tông, bám chặt lấy các thanh cốt thép chịu lực đường kính bốn mươi milimét (thép D40) nằm sâu bên trong đài móng.
Kinh hoàng hơn nữa, tại điểm tiếp xúc giữa thép xây dựng hiện đại và gân sắt thiên thạch cổ xưa, hai loại kim loại hoàn toàn khác biệt về cấu trúc tinh thể đang tự động nung chảy và hàn gắn hữu cơ vào nhau ở nhiệt độ thường.
Các vân sắt Widmanstätten đặc trưng của sắt thiên thạch không gian đang hòa tan vào các gờ xoắn của thép carbon cường độ cao. Chúng quấn chặt lấy nhau, biến các thanh cốt thép chịu lực gánh tải cho cả tòa tháp sáu mươi tám tầng thành một hệ thống mao mạch dẫn truyền kim loại khổng lồ.
Cây chùy Phurba không còn là một vật thể độc lập bị cắm xuống đáy móng nữa.
Nó đã sống dậy. Nó đã biến thành một bộ phận tim mạch cơ khí - sinh học, hòa làm một thể thống nhất với bộ khung xương thép của tòa nhà Cát Tường. Toàn bộ trọng lượng hàng trăm nghìn tấn của hai trăm tám mươi mét bê tông cốt thép bên trên lúc này đang đè nặng lên chính cây chùy sắt thiên thạch này, và ngược lại, cây chùy đang dùng chính hệ thống khung giằng thép của tòa nhà để neo chặt móng vuốt của nó sâu vào mạch nước ngầm dưới đáy vịnh.
Một thể cộng sinh kim loại quái dị, không thể tách rời.
- Không thể nhổ được... - Cổ họng tôi nghẹn đắng, một tiếng thì thầm tuyệt vọng bật ra khỏi bờ môi khô khốc.
Nếu dùng máy cắt hay kích thủy lực để phá hủy hoặc rút cây chùy Phurba ra, toàn bộ hệ cốt thép chịu lực của cọc móng trung tâm C1 sẽ bị xé toạc theo hiệu ứng dây chuyền. Đài móng sẽ nứt toác, các cọc khoan nhồi xung quanh sẽ mất khả năng phân bổ tải trọng, và tòa tháp sáu mươi tám tầng cao hai trăm tám mươi mét sẽ đổ sập xuống ngay giữa trung tâm thành phố trong vòng chưa đầy ba mươi giây.
Nhưng nếu để nguyên cây chùy ở đó, nó sẽ tiếp tục hút cạn sinh khí của long mạch, biến cả đô thị này thành một vùng đất chết chóc ngập ngụa bệnh tật và những vụ nhảy lầu tự sát.
Một cái bẫy hoàn hảo không có lối thoát. Kẻ thiết kế ra trận pháp này đã tính toán đến từng milimét kết cấu cơ học đất và từng đường đi của phong thủy cổ xưa. Chúng biến sự an toàn của hàng nghìn con người thành tấm lá chắn bảo vệ cho trận pháp trấn yểm tàn bạo của mình.
*Rắc!*
Một tiếng nứt thanh giòn vang lên ngay dưới đế ủng của tôi.
Tôi giật bắn mình, hạ thấp đèn pin rọi xuống mặt sàn bê tông tầng hầm B6.
Từ chân đài móng C1, nơi tấm thép bị nạy bung, một vết nứt mới toanh vừa xuất hiện. Vết nứt hình zíc-zắc dài chừng hai mét, đang từ từ bò dọc theo mạch sàn epoxy về phía chân tôi, từ kẽ nứt rỉ ra một thứ nước ngầm đen ngòm bốc mùi thối rữa của mỡ người.
Đáy tháp đang bắt đầu phản ứng. Sự hiện diện của tôi và chiếc máy đo đạc laser dường như đã đánh thức một luồng tà lực ngủ say dưới đáy sâu.
Tôi vội vã tháo máy toàn đạc khỏi chân ba càng, nhét vội ống ngắm vào hộp đệm mút, khóa chặt các chốt an toàn. Đôi bàn tay tôi run rẩy đến mức đánh rơi chiếc nắp đậy ống kính xuống vũng nước đen dưới sàn. Tôi không buồn nhặt lại, vơ vội ba lô thiết bị khoác lên vai, đẩy chiếc xe dụng cụ lao nhanh về phía cửa thoát hiểm dẫn lên ram dốc tầng B5.
Mỗi bước chạy của tôi, sàn bê tông dưới chân lại nảy lên một nhịp rùng mình.
*Thịch.*
*Thịch.*
*Thịch.*
Tiếng đập từ lòng đất lúc này không còn trầm đục như trước. Nó vang lên dồn dập hơn, đanh thép hơn, dội thẳng vào lồng ngực tôi như một lời cảnh cáo tàn nhẫn từ cõi u minh. Những giọt nước ngầm đen kịt bắn lên ống quần bảo hộ của tôi, buốt lạnh thấu xương tủy.
Khi tôi vừa đẩy tung cánh cửa thép chống cháy của lối thoát hiểm B6 để bước lên bậc thang bộ, chiếc điện thoại di động trong túi quần rung lên dữ dội.
Màn hình hiển thị một cuộc gọi quốc tế đường dài từ Sydney, Úc.
Đó là số điện thoại của vợ cũ tôi. Giữa không gian tầng hầm ngột ngạt tử khí và tiếng bê tông rên rỉ dưới lòng đất sâu, hồi chuông điện thoại vang lên chói gắt, báo hiệu một tai ương khác đang ập đến từ nửa bên kia bán cầu.