Bát Sọ Trấn Long Mạch - Chương 2: Hộc Ngầm Đáy Tháp

Khí độc đặc quánh trong khoang rỗng tràn ra ngoài theo từng đợt gió rít, khiến mặt nạ lọc độc hữu cơ trên mặt tôi rung lên bần bật. Mùi mỡ người cháy…

Nội dung chương

Khí độc đặc quánh trong khoang rỗng tràn ra ngoài theo từng đợt gió rít, khiến mặt nạ lọc độc hữu cơ trên mặt tôi rung lên bần bật.

Mùi mỡ người cháy khét trộn lẫn dầu mỡ thi thể thối rữa lâu ngày xông thẳng qua phin lọc than hoạt tính, chọc thủng niêm mạc mũi, đọng lại nơi cuống họng một vị tanh nồng nhợt nhạt. Cơn buồn nôn quặn thắt từ dạ dày trào ngược lên tận thực quản. Tôi phải cắn chặt răng, nuốt ực ngụm nước bọt chua chát xuống cổ họng, gí chặt gót ủng xuống sàn bê tông để giữ thăng bằng. Bàn tay đeo găng cao su nitrile dày ba lớp vẫn nắm chặt chuôi xà bén, các khớp ngón tay trắng bệch vì dùng lực quá mức.

Trước mắt tôi, tấm thép hợp kim dày mười lăm milimét bị nạy bung một góc bốn mươi lăm độ. Phía sau nó không có lưới thép cốt D40 đan dày mười phân một thanh theo bản vẽ thiết kế kết cấu đã được Sở Xây dựng phê duyệt. Đáng lẽ khối bê tông mác B60 của đài móng C1 phải là một thể đồng nhất đặc khít, chịu tải trọng hơn tám vạn tấn của toàn bộ sáu mươi tám tầng tháp phía trên. Thế nhưng, tại đúng tọa độ tim cọc trung tâm, một khoang rỗng nhân tạo vuông vức hiện ra trơ trọi.

Tôi bật công tắc đèn pha LED công suất cao gắn trên trán, đồng thời với tay lấy chiếc đèn pin halogen cầm tay trên xe đồ nghề, chiếu hai luồng sáng cực mạnh quét thẳng vào lòng hộc.

Không gian bên trong có dạng hình lập phương hoàn hảo, mỗi cạnh dài đúng một mét tám mươi. Sáu mặt xung quanh đều được ốp kín bằng những phiến đá bazan đen tuyền cắt gọt phẳng lỳ, mép đá khít khao đến mức lưỡi dao trổ cũng khó lòng lách qua. Màu đen của đá bazan hút sạch ánh sáng đèn pin, tạo ra cảm giác hun hút sâu thẳm. Bề mặt các phiến đá rịn ra từng giọt chất lỏng sẫm màu, bóng nhẫy như mồ hôi nhớp nháp trên da người chết trôi.

Tôi quỳ xuống mép cửa hầm, với tay lấy thước đo khoảng cách laser Leica Disto từ túi đồ nghề đeo bên hông. Điểm đỏ định vị bắn thẳng vào phiến đá vách đối diện. Màn hình điện tử nhấp nháy, hiển thị con số một phẩy tám linh hai mét. Lòng hộc rỗng hoàn toàn phi kỹ thuật. Đây không phải lỗi rỗ tổ ong do đầm dùi bê tông không kỹ, cũng không phải bóng khí trong quá trình đổ khối lớn. Kẻ thi công đã chủ đích lắp đặt ván khuôn định hình bằng thép và đá hộc trước ngày đổ bê tông đài móng, tạo ra một mật thất ngầm nằm sâu mười chín mét dưới lòng đất.

Tôi tháo máy ảnh kỹ thuật số chuyên dụng của cơ quan giám định ra khỏi bao da chống sốc. Dây đeo máy ảnh siết chặt vào cổ áo bảo hộ.

- Ghi nhận hiện trường lúc mười hai giờ bốn mươi phút sáng. - Tôi mở máy ghi âm mini kẹp ở ngực áo, giọng trầm đục sau lớp mặt nạ phòng độc. - Phát hiện khoang rỗng dị thường tại tim móng C1, cao độ âm mười chín phẩy hai mét. Kích thước hộc một mét tám nhân một mét tám, đáy lót đá bazan. Không có cốt thép chịu lực.

Tiếng màn trập cơ học vang lên khô khốc trong không gian chật hẹp. Đèn flash chớp sáng liên hồi, soi rõ chi tiết trung tâm đáy hộc mà lúc nãy qua khe hở tôi chỉ mới nhìn thấy một phần.

Ngay chính giữa lòng hộc đá là một bệ tròn đúc bằng xi măng xám tro, cao chừng năm mươi phân, chu vi đáy khoảng tám mươi phân. Mặt bệ nhẵn bóng, trên đó đặt một vật hình vòm khum úp ngược, nhưng phần nắp vòm đã bị cắt gọt khéo léo để biến thành một chiếc bát đựng lòng sâu.

Đó chính xác là nửa trên của một hộp sọ người trưởng thành.

Bề mặt xương sọ đã ngả sang màu vàng xỉn của sáp ong, lộ rõ những đường khớp sọ ngoằn ngoèo tựa như rễ cây khô ăn sâu vào thớ xương. Toàn bộ mép vành xương sọ được bọc kín bằng một dải viền kim loại màu đồng đỏ rộng chừng hai đốt ngón tay. Trên dải đồng ấy chạm khắc nổi hình những chiếc đầu lâu tí hon nối tiếp nhau thành một vòng chuỗi liên hoàn, xen lẫn các ký tự ngoằn ngoèo giống chữ Phạn cổ.

Một chiếc bát sọ Kapala.

Ký ức mơ hồ thời niên thiếu từng nghe người lớn trong dòng họ nhắc tới bất thần trỗi dậy trong đầu tôi. Đó là pháp khí tối thượng trong các nghi lễ bí truyền phương Bắc, thứ dùng để chứa máu huyết hiến tế hoặc các chất dịch đặc biệt nhằm triệu thỉnh quỷ thần. Chiếc bát sọ đặt ở đáy tháp này chứa đầy một dung dịch lỏng màu xám bạc ánh kim, sóng sánh tráng đều mép xương.

Tôi rướn người, ghé sát thấu kính máy ảnh xuống mép hộc để chụp cận cảnh lòng bát. Lớp chất lỏng ấy nặng trĩu, phản chiếu ánh đèn halogen thành một vầng sáng lạnh tanh, chuyển động chậm chạp không khác gì dòng thủy ngân nguyên chất. Nhưng xen lẫn trên bề mặt thủy ngân là những vệt mỡ màu vàng đục, đóng thành từng mảng váng mỏng dính, bốc lên mùi khét lẹt của chất béo động vật bị đốt cháy dở dang. Mùi dầu thi thể. Thứ mùi này không thể lẫn vào đâu được, nó găm vào cuống họng, bám chặt vào tế bào khứu giác khiến đầu óc tôi nhức buốt từng cơn.

Kinh hoàng hơn cả chiếc bát sọ là vật thể đang xuyên thủng tâm điểm của nó.

Một cây chùy kim loại ba cạnh dài khoảng sáu mươi phân, toàn thân đen bóng như than đá, găm thẳng đứng xuyên qua tâm đáy bát sọ, đâm ngập sâu xuống lớp đá bazan bên dưới bệ xi măng.

Phần chuôi chùy phía trên được đúc thành ba gương mặt phẫn nộ hướng về ba phía, mỗi gương mặt mang biểu cảm trừng trừng dữ tợn với ba con mắt lồi ra ngoài, chiếc miệng há to để lộ những chiếc răng nanh nhọn hoắt cắn chặt một vòng lưỡi rực lửa. Thân chùy xoắn ốc theo trục dọc, tụ lại thành một lưỡi dao ba cạnh sắc bén cắm ngập xuống lòng đất.

Chùy Phurba Kim Cang Phổ Ba.

Chất liệu làm nên cây chùy này không mang sắc xám đen thông thường của sắt thép xây dựng hay gang đúc. Dưới ánh đèn flash, bề mặt kim loại ánh lên những hoa văn zic-zac tự nhiên li ti, đan xen như mạng nhện, bề mặt rỗ những lỗ khí siêu nhỏ đặc trưng của thiên thạch rơi xuống từ không gian ngoài tầng khí quyển. Sắt thiên thạch. Người ta đã dùng một cây chùy sắt trời giáng để đóng thẳng xuyên qua sọ người, neo chặt chiếc bát sọ vào long mạch ngầm bên dưới tòa cao ốc.

Mũi chùy găm vào đâu?

Tôi rọi đèn xuống chân bệ xi măng. Nền đá bazan quanh chân bệ bị nứt toác thành một khe hở hình tròn đường kính khoảng ba mươi phân. Từ khe hở ấy, nước ngầm đen ngòm đang dâng lên sùng sục. Từng chùm bọt khí to bằng quả trứng gà liên tục trồi lên khỏi mặt nước, vỡ bung ra, phát ra những tiếng lục bục nghẹn ngào như tiếng người đang sặc nước dưới đầm lầy.

Tiếng réo rắt của dòng nước ngầm bị bóp nghẹt dưới chân móng chính là bắt nguồn từ miệng giếng này.

Lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi bên trong lớp găng cao su. Trực giác mách bảo tôi phải rời khỏi đây ngay lập tức. Cảnh tượng này vượt xa khỏi phạm vi một vụ vi phạm quy chuẩn xây dựng thông thường. Đây là một đàn tế tà thuật man rợ, được che giấu tinh vi bên dưới vỏ bọc một công trình kiến trúc hiện đại hàng đầu thành phố.

Nhưng nếu tôi bỏ chạy lúc này mà không có bằng chứng vật lý xác thực, mọi kết luận trong biên bản giám định sẽ bị coi là vu khống. Ban quản lý dự án của Cát Tường Holdings có thể lấp kín cái hộc này bằng bê tông tự lèn chỉ trong vòng hai giờ đồng hồ, xóa sạch mọi dấu vết trước khi cơ quan thanh tra kịp vào cuộc.

Tôi hít sâu một hơi qua màng lọc, lấy bình xịt cồn y tế khử trùng đôi kẹp gắp mẫu kim loại dài bốn mươi phân và rút từ bao dụng cụ ra một ống nghiệm thủy tinh chịu áp suất có nắp đậy kín.

Tôi chống hai tay xuống mép tấm thép bị cong, đu người trườn qua khe hở, hạ chân xuống lòng hộc đá.

Ủng cao su chạm đáy. Lớp nước đen dưới sàn ngập qua mắt cá chân tôi, lạnh buốt thấu xương. Cảm giác lạnh giá truyền qua lớp đế cao su ba lớp dày cộp khiến các ngón chân tôi tê dại đi trong chớp mắt. Nước ngầm ở độ sâu này thường duy trì nhiệt độ ổn định khoảng hai mươi tư đến hai mươi sáu độ C do địa nhiệt. Độ lạnh buốt như băng tuyết này hoàn toàn trái ngược với quy luật nhiệt động lực học tự nhiên.

Tôi đứng khom lưng trong không gian cao một mét tám, đầu mũ bảo hộ suýt chạm vào trần đá bazan bên trên. Mùi thối rữa và mùi kim loại nặng nồng nặc đến mức mắt tôi cay xè dù đã đeo kính bảo hộ kín viền.

Tôi rút súng đo nhiệt độ hồng ngoại Fluke từ thắt lưng ra, hướng chùm tia laser đỏ vào giữa vũng nước ngầm đang sủi bọt cuồn cuộn quanh mũi chùy Phurba.

Mặt nước đang sôi ùng ục, bọt khí nổi lên không ngừng như nước trong nồi nước dùng đặt trên ngọn lửa lớn.

Ngón tay tôi bóp cò súng đo nhiệt.

Màn hình kỹ thuật số nhấp nháy ba lần rồi hiện lên một con số khiến sống lưng tôi lạnh toát.

Âm bốn độ C.

Tôi giật mình buông ngón tay, chớp mắt nhìn kỹ lại màn hình hiển thị. Con số vẫn không đổi: âm bốn phẩy hai độ C.

Chất lỏng đang sôi sục nhưng nhiệt độ lại dưới điểm đóng băng của nước tinh khiết. Nước không hề đông đá thành mảng, mà chuyển động cuộn xoáy như một khối thủy ngân đen đặc có ý thức riêng, liên tục xoay tròn quanh thân mũi chùy sắt thiên thạch.

Tôi chĩa súng nhiệt độ vào lòng chiếc bát sọ Kapala. Điểm laser đỏ nằm gọn trong lớp thủy ngân tráng bạc.

Âm mười hai độ C.

Không khí xung quanh chiếc bát sọ như bị ngưng đọng lại thành một vùng trường khí buốt giá. Hơi thở tôi phả ra qua van một chiều của mặt nạ lọc độc ngưng tụ thành từng đám khói trắng đục, rơi lả tả xuống sàn đá như bụi sương muối.

Tôi cắn chặt môi dưới, cố giữ cho bàn tay không run rẩy. Tay trái tôi mở nắp ống nghiệm thủy tinh, tay phải cầm kẹp gắp mẫu dài vươn về phía chiếc bát sọ. Tôi cần lấy một mẫu váng dầu thi thể và vài giọt chất lỏng trong bát để đem về phòng thí nghiệm quang phổ hóa học. Đó sẽ là bằng chứng không thể chối cãi về việc sử dụng chất hữu cơ người trái phép trong thi công kết cấu ngầm.

Đầu kẹp kim loại sáng loáng tiến dần đến mép sọ bọc đồng đỏ.

Khi đầu kẹp chỉ còn cách bề mặt thủy ngân chừng hai phân, một tiếng rít the thé đột ngột xé toạc không gian tĩnh mịch của hộc ngầm.

Âm thanh đó phát ra từ chính thân cây chùy Phurba.

Ba khuôn mặt kim loại trừng mắt trên chuôi chùy dường như rung lên bần bật. Lớp bọt khí dưới chân bệ xi măng trồi lên dồn dập hơn, tiếng ục ục biến thành tiếng khò khè nghẹn ứ, như cổ họng một kẻ đang hấp hối bị đổ đầy chì nóng.

Mặt nước đen quanh mũi chùy đổi hướng cuộn xoáy, từ từ dâng cao lên mép bệ xi măng.

Dưới lòng bàn chân tôi, sàn đá bazan rung chuyển dữ dội.

Không phải chấn động cơ học lan truyền từ máy móc tầng hầm B1 hay tiếng xe tải nặng chạy ngoài đường lộ. Xung lực này truyền thẳng từ đáy sâu địa tầng, xuyên qua mạch nước ngầm phóng thẳng lên thân tháp.

*Thịch.*

*Thịch.*

*Thịch.*

Nhịp rung không nhanh, cứ cách đều đặn đúng hai giây rưỡi lại giật mạnh lên một lần. Mỗi nhịp đập truyền qua đế ủng khiến cơ hoành trong lồng ngực tôi thắt lại, trái tim tôi tự động điều chỉnh nhịp đập đập dồn theo đúng tần số của mặt sàn.

Tôi vội vàng rút chiếc máy đo gia tốc rung chấn ba chiều bỏ túi gắn cảm biến thạch anh piezoelectric ra, đặt áp sát mặt đế cảm biến xuống bề mặt phiến đá bazan ngay dưới chân.

Màn hình đồ họa của máy đo rung chấn lập tức vẽ nên những đường sóng sin màu xanh lục.

Dạng sóng hiển thị trên màn hình không mang hình răng cưa hỗn loạn của rung chấn kiến tạo địa chất hay dao động điều hòa của tải trọng gió trên đỉnh tháp. Đường cong nhấp nhô tuần hoàn, bao gồm một đỉnh sóng nhỏ đi trước, theo sau là một đỉnh sóng cực cao vút lên rồi hạ nhanh xuống, kết thúc bằng một đoạn thoái trào ngắn.

Sóng P, phức bộ QRS, sóng T.

Đó là đồ thị điện tâm đồ của một quả tim sống.

Chiếc máy đo rung chấn địa kỹ thuật của tôi đang ghi nhận nhịp co thắt của một quả tim khổng lồ nằm sâu trong lòng đất, đập đều đặn với tần số hai mươi tư nhịp một phút. Mỗi lần xung lực ấy phát ra, cây chùy Phurba lại rung lên một tần số siêu âm làm cho lớp thủy ngân trong bát sọ Kapala dậy sóng, những gợn sóng li ti giao thoa nhau tạo thành hình đồ hình mạn-đà-la phức tạp phản chiếu lấp lánh dưới ánh đèn trần.

- Không thể nào... - Tôi thốt lên nghẹn ngào, hơi thở dồn dập khiến phin lọc mặt nạ kêu rít lên từng hồi.

Tòa nhà hai trăm tám mươi mét phía trên đầu tôi không phải đang đứng trên một khối địa tầng tĩnh lặng. Nó đang đè nghiến lên một sinh thể ngầm, và cây chùy sắt thiên thạch này là chiếc đinh khổng lồ ghim chặt trái tim của long mạch xuống đáy sâu, biến nguồn sinh khí ngàn năm của vùng đất ven biển này thành một dòng năng lượng đen kịt bị vắt kiệt từng giây từng phút.

Nước đen dưới sàn bắt đầu tràn qua cổ ủng cao su của tôi.

Cái lạnh buốt giá ngấm thẳng vào lớp tất len, cắn xé da thịt như hàng ngàn mũi kim băng châm chích. Cơn tê dại lan nhanh từ bàn chân lên bắp chân, khiến hai đầu gối tôi run rẩy, chực quỵ xuống vũng nước tanh tưởi.

Tôi cố gồng hết sức bình sinh, vươn dài chiếc kẹp kim loại về phía chiếc bát sọ. Đầu kẹp chạm nhẹ vào lớp váng dầu màu vàng nổi trên mặt thủy ngân.

*Xèo!*

Một vệt khói đen bốc lên từ điểm tiếp xúc, kèm theo tiếng xèo xèo như mỡ sôi đổ vào chảo lửa. Lớp kim loại thép không gỉ của đầu kẹp lập tức bị ăn mòn, xỉn đen lại và sùi bọt khí. Tôi nhanh tay xoay cổ tay, múc lấy một giọt chất dịch nhờn quánh cho vào miệng ống nghiệm thủy tinh, rồi nhanh chóng vặn chặt nắp ren kim loại có gioăng cao su bảo vệ.

Ống nghiệm vừa đóng nắp, lớp thủy ngân bên trong chiếc bát sọ bỗng nhiên lõm sâu xuống ngay tâm điểm, nơi thân chùy Phurba đâm qua.

Tiếng thì thầm rên xiết vang lên từ đáy giếng ngầm lúc này biến thành một chuỗi âm thanh rõ rệt, rợn người. Đó là tiếng tụng niệm trầm đục, nghẹt thở bằng một thứ ngôn ngữ cổ xưa không thuộc về tiếng Việt hay bất kỳ ngôn ngữ hiện đại nào, vang vọng từ sâu dưới lòng đất, dội vào các phiến đá bazan tạo thành một trường âm thanh cộng hưởng khiến màng nhĩ tôi nhức nhối như bị kim đâm.

Các khớp sọ người trên chiếc bát Kapala bỗng hé mở ra một kẽ nứt cực nhỏ. Từ kẽ nứt ấy, một dòng chất lỏng màu đỏ thẫm như máu tươi bắt đầu rỉ ra, hòa lẫn vào lớp thủy ngân màu bạc.

Bản năng sinh tồn gióng lên hồi chuông báo động dữ dội trong tâm trí tôi.

Phải thoát ra ngoài. Ngay bây giờ.

Tôi nhét vội ống nghiệm vào túi bảo hộ chống va đập bên hông, quàng dây máy ảnh lên vai rồi xoay người bám lấy mép tấm thép bị nạy bung. Bàn tay đeo găng trơn trượt vì dính phải lớp bùn đen bám trên vách đá. Tôi dồn toàn bộ sức mạnh của hai cánh tay, đạp chân vào gờ bệ xi măng, đẩy thân người trườn ngược ra ngoài khe hở.

Đúng lúc nửa thân trên của tôi vừa lọt ra khỏi khoang hầm, một luồng lực hút vô hình cực mạnh từ đáy hộc ngầm đột ngột giật giật lấy mắt cá chân phải của tôi.

Cảm giác lạnh toát, buốt giá bóp chặt lấy cổ chân qua lớp ủng cao su, nhớp nháp và dai dẳng như một bàn tay chết ngâm nước lâu ngày đang cố lôi tôi trở lại lòng hố tối tăm.

- Buông ra! - Tôi gầm lên qua mặt nạ, chân trái co lên, gót ủng bọc thép đạp thốc xuống mép tấm thép cong vênh bên dưới.

*Keng!*

Tiếng kim loại va đập chát chúa dội vang khắp tầng hầm B6 vắng lặng.

Lực kéo dưới chân bất thần chùng xuống. Tôi chớp lấy thời cơ, trườn hẳn ra sàn bê tông epoxy, lăn hai vòng ra xa khỏi miệng hộc ngầm, thở hổn hển trong cơn hoảng loạn tột cùng.

Sau lưng tôi, từ khe hở của tấm thép méo mó, tiếng nước sôi ùng ục và tiếng tim đập thổn thức từ đáy sâu đài móng vẫn tiếp tục vang lên đều đặn.

*Thịch.*

*Thịch.*

*Thịch.*

Từng nhịp chấn động truyền qua nền sàn lạnh lẽo, chạy dọc sống lưng tôi, dội thẳng vào những ký ức phủ đầy bụi bặm của gia tộc phong thủy Hà Nội mà suốt mười hai năm qua tôi đã chối bỏ để chọn lấy con đường khoa học duy lý. Những nét chạm khắc trên dải đồng bọc sọ người, những ký tự Phạn tự uốn lượn và hình dạng ba mặt phẫn nộ của cây chùy sắt thiên thạch... tôi đã từng nhìn thấy chúng trong một cuốn sách bọc da dê cũ nát bị khóa chặt trong chiếc rương gỗ gụ nơi gian thờ tổ tiên của cha tôi.

Đó là cấm thuật trấn yểm đoạt mạch cổ xưa nhất, thứ chỉ được nhắc đến trong những lời cảnh cáo tuyệt mật truyền đời của dòng họ.

Tôi run rẩy tháo mặt nạ lọc độc ra, ngồi bệt trên sàn xi măng ướt sũng, nhìn chằm chằm vào chiếc ống nghiệm chứa giọt chất lỏng đang bốc khói mờ mờ trong túi áo.

Một hiểm họa tăm tối và khổng lồ đang thức giấc dưới chân tòa tháp sáu mươi tám tầng này, và tôi biết, mình không còn đường lùi lại phía sau được nữa.

Chương khác

Xem thêm