Linh Quang Giám Bảo - Quyển 4: Huyết Ấn Truyền Quốc - Chương 49: Tiếng Đục Phố Cổ
Nắng phương Nam tháng ba đổ dài trên những tán me cổ thụ, rải xuống nền gạch vỉa hè đường Lê Công Kiều từng vệt sáng loang lổ. Gió mang theo hơi ẩm nồng…
Nội dung chương
Nắng phương Nam tháng ba đổ dài trên những tán me cổ thụ, rải xuống nền gạch vỉa hè đường Lê Công Kiều từng vệt sáng loang lổ.
Gió mang theo hơi ẩm nồng nàn từ bến Bạch Đằng thổi ngược vào con phố ngắn chưa đầy hai trăm mét, cuốn theo mùi gỗ mục, mùi vecni, mùi giấy bản bồi tranh và cả mùi khói trầm vấn vít phát ra từ những tiệm đồ cổ san sát nhau. Nơi đây, nhịp sống dường như tách biệt hẳn với sự hối hả của trung tâm quận Nhất. Tiếng còi xe máy ngoài đường Trần Hưng Đạo dội vào chỉ còn là những âm thanh trầm đục, nhường chỗ cho tiếng dao cạo nhẹ trên thớ gỗ lim, tiếng búa gõ tí tách của người thợ kim hoàn sửa đồ đồng, và tiếng lách cách của những mảnh bát sành va vào nhau.
Lâm Tuấn dừng chân trước căn nhà số bốn mươi mốt.
Cánh cửa gỗ bức bàn sơn then đã tróc từng mảng lớn, để lộ ra những đường vân gỗ xám xịt vì mưa nắng. Ổ khóa đồng chữ U bám một lớp gỉ xanh dày cộp. Hơn một tháng ròng rã dấn thân vào vùng núi đá hiểm trở miền Bắc, trải qua những phen thập tử nhất sinh dưới lòng Thiên Đường Cung, anh mới lại được hít thở bầu không khí ngai ngái quen thuộc của chốn này.
- Đi một vòng lớn như vậy, suýt mất mạng mấy bận, cuối cùng cũng mò về đến cái xó này.
Lão Hải đứng sau lưng anh, tay cầm xâu chìa khóa sắt nặng trịch cọt kẹt tra vào ổ. Lão thở hắt ra một hơi, chiếc áo bà ba màu nâu sẫm bạc phếch dính đầy bụi đường. Trên vai lão là túi vải dù lép kẹp, bên trong chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo cũ và con dao trổ chuôi sừng bò đã mòn vẹt đầu lưỡi.
- Tiệm Hải Phong đóng cửa lâu quá rồi, chú Hải. Bụi đóng thành lớp dày thế kia, khách quen chắc tưởng chú cháu mình trốn nợ biệt tích luôn rồi.
Lâm Tuấn cười khẽ, giơ tay đón lấy cánh cửa nặng trịch khi then cài vừa bật mở. Bản lề han rỉ rên lên một tiếng ken két khô khốc.
Bên trong gian nhà, ánh sáng lọt qua những khe cửa sổ con soi rõ từng hạt bụi đang lơ lửng giữa không trung. Những kệ gỗ chất đầy lục bình gốm Cây Mai, đĩa lam Huế thời Thiệu Trị, khay trà xà cừ khảm ốc xà cừ Bắc Ninh, tất cả đều phủ một lớp màng xám ngoét. Mùi ẩm mốc lâu ngày không có hơi người bốc lên ngột ngạt.
Tô Diệp Nhi xắn cao tay áo sơ mi trắng, búi gọn mái tóc dài sau gáy bằng một chiếc kẹp gỗ mộc. Cô không hề tỏ ra e ngại bụi bặm hay mùi ẩm ướt của gian nhà cổ, nhanh nhẹn bước tới góc tường nhấc cây chổi đót và chiếc xô thiếc đã móp méo:
- Chú Hải ngồi nghỉ uống nước đi, để cháu với anh Tuấn dọn dẹp. Mở hết các cánh cửa sổ phía sau cho gió thông vào đã, không khí tù đọng thế này hại phổi lắm.
- Cô tiểu thư luật sư quốc tế mà cũng biết cầm chổi quét mạng nhện à?
Lão Hải nhếch mép cười, nhưng ánh mắt già nua ánh lên vẻ trìu mến hiếm thấy. Lão bước tới bên chiếc chõng tre cũ kỹ kê sát vách, lấy vạt áo lau qua một lượt rồi ngồi phịch xuống, rút chiếc quạt mo cau giắt sau lưng ra phẩy lấy phẩy để:
- Tuấn này, mày từ chối cái chức Cố vấn Louvre với mấy chục triệu đô tiền cổ phần sàn đấu giá quốc tế, quay về đây quét mạng nhện với ông già này, có thấy mình dại dột quá không con? Người ta bảo mày bị bùa ngải ngoài đất Bắc lú lẫn đấy.
Lâm Tuấn vừa nhúng giẻ lau vào chậu nước lã, vừa vắt khô rồi bước tới lau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ của cha mình để lại:
- Chú biết rõ câu trả lời rồi còn hỏi làm gì. Đứng trên bục giảng đường Tây phương hay ngồi ghế phòng lạnh ngửi mùi nước hoa đắt tiền, nhìn người ta đem linh hồn của tiền nhân ra đấu giá từng đồng, cháu chịu không nổi ba ngày. Ở đây cháu nghe được tiếng đục đá, ngửi được mùi sơn ta, thế mới là sống.
Anh đặt tấm giẻ lau xuống, quay ra nhìn chiếc thùng gỗ thông lớn đặt cạnh cửa ra vào.
Chiếc thùng ấy chứa tấm biển hiệu mới toanh vừa được chuyển tới từ một xưởng mộc gia truyền bên Chợ Lớn vào sáng sớm nay. Lâm Tuấn bước lại, dùng xà bén nậy từng chiếc đinh sắt gỉ. Nắp gỗ bật mở, để lộ ra tấm biển bằng gỗ mít ta nguyên khối, dày chừng ba đốt ngón tay. Mặt gỗ được đánh bóng bằng sáp ong tự nhiên, không sơn phết cầu kỳ, làm nổi bật những dòng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ được chạm chìm mạ vàng quỳ:
"Linh Bảo Đường - Lớp Học Phục Chế Di Sản Miễn Phí"
Lão Hải ngừng tay quạt, mắt nhìn chăm chú vào từng đường khắc sắc sảo trên mặt gỗ mít. Đôi con ngươi đục mờ vì tuổi tác khẽ run rẩy. Lão đứng dậy, bước từng bước chậm rãi lại gần, bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo do dao trổ cứa nhẹ nhàng vuốt dọc theo bốn chữ "Linh Bảo Đường".
- Linh Bảo Đường... Tên xưởng gốm của ba mày ngày xưa ở xóm Lò Gốm Hưng Ký. Ba mươi năm trước, lúc ông cụ Vĩnh Nghiệp bị bọn con buôn ép giá rồi đốt sạch xưởng, ông ấy từng ôm cái chân bàn cháy dở mà khóc, bảo rằng đời này nợ tiền nhân một lời hứa. Lời hứa giữ lại ngọn lửa nghề cho người nghèo, để đồ cổ Việt Nam không bị biến thành công cụ lừa đảo của phường gian thương.
Lão Hải nghẹn giọng, khóe mắt hoe đỏ:
- Hôm nay mày dựng lại cái tên này, còn mở lớp dạy không lấy một đồng học phí... Ông Vĩnh Nghiệp dưới suối vàng chắc ngậm cười rồi con ạ.
- Cha cháu chưa bao giờ muốn giữ nghề làm của riêng.
Lâm Tuấn nâng một đầu tấm biển gỗ lên, ra hiệu cho Lão Hải giữ đầu còn lại:
- Ngày trước, phường thợ cứ giấu ngón nghề, cha truyền con nối, hễ mất một người là mất luôn một pho bí kíp. Đến khi đồ giả tràn ngập thị trường thì thợ thật chẳng còn ai biết cách phục chế cho đúng hồn cốt tổ tiên. Chú Hải, cùng cháu treo nó lên.
Hai người đàn ông, một già một trẻ, cẩn thận nhấc tấm biển gỗ mít nặng trịch đặt lên hai chiếc móc sắt kiên cố trên xà ngang cửa chính.
Tô Diệp Nhi đứng phía dưới lề đường ngắm nghía, giơ tay ra hiệu:
- Sang bên phải một chút nữa anh Tuấn... Được rồi, ngay ngắn lắm rồi!
Khi tấm biển hiệu vững vàng ngự trị trên mặt tiền tiệm số bốn mươi mốt, ánh nắng sớm chiếu thẳng vào những nét chữ mạ vàng, hắt lên một quầng sáng ấm áp giữa con phố cổ rợp bóng cây.
Lâm Tuấn bước xuống thang tre, phủi bụi bám trên ống quần. Anh vừa định quay vào nhà để sắp xếp lại đống bàn ghế đóng bằng gỗ tạp thì chợt nghe thấy tiếng bước chân rụt rè ngoài ngõ.
Anh quay đầu nhìn ra.
Đứng trước cửa không phải là những tay buôn đồ cổ ranh ma thường ngày của phố Lê Công Kiều, cũng không phải các vị đại gia đi xe hơi sang trọng tìm đồ phong thủy.
Trước mắt anh là một tốp gần mười người.
Đứng đầu là một nhóm sinh viên trẻ măng, mặc áo thun in logo của khoa Khảo cổ học và Di sản Văn hóa thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Trên vai họ là những chiếc ba lô sờn rách, tay ôm chặt tập vở ghi chép dày cộp. Đứng lẫn trong số đó là vài đứa trẻ trạc mười ba, mười bốn tuổi, da dẻ đen nhẻm, mặc quần cộc lấm lem bùn đất, bàn tay thô ráp chai sạn. Đó là những đứa trẻ chuyên lượm ve chai dọc bờ kênh Nhiêu Lộc và bãi bồi sông Sài Gòn, nơi thỉnh thoảng vẫn phát lộ những mảnh gốm vỡ thời Nguyễn trôi dạt theo con nước.
Một cậu thanh niên đeo kính cận gọng nhựa chắp vá bằng băng dính bước lên một bước, mặt đỏ bừng vì ngượng ngùng:
- Dạ... chào anh Lâm Tuấn. Cháu... tụi cháu đọc được thông báo trên mạng xã hội của chị Diệp Nhi hôm qua. Tụi cháu là sinh viên năm cuối ngành Khảo cổ. Tụi cháu chỉ được học lý thuyết trên giảng đường, chưa bao giờ được chạm tay vào việc phục chế thực tế một mảnh gốm cổ vỡ vụn. Tụi cháu không có tiền nộp học phí đắt đỏ như ở các trung tâm tư nhân... Anh... anh thực sự dạy miễn phí sao ạ?
Phía sau cậu sinh viên, một thằng bé đen nhẻm trạc tuổi Lâm Tuấn ngày xưa rụt rè giơ lên một chiếc bọc vải rách:
- Chú Tuấn... Con lượm được cái này dưới chân cầu Mống. Nó vỡ làm ba mảnh, con dùng keo con voi dán lại nhưng nó xấu hoắc à. Con mê đồ gốm lắm, chú cho con vào quét nhà phụ chú rồi chú chỉ con cách sửa cho nó đẹp lại được không chú?
Lâm Tuấn nhìn sâu vào mắt thằng bé.
Đôi mắt ấy trong veo, khao khát, đầy vẻ rụt rè nhưng bừng sáng niềm say mê nguyên sơ với đất đá cổ xưa. Mười năm trước, anh cũng từng đứng ở chính góc phố này, ôm một mảnh bát sành men ngọc cứa đứt lòng bàn tay, chịu đựng ánh mắt khinh khi của những chủ tiệm giàu có chỉ biết đến tiền tài danh vọng. Khi ấy, nếu không có bàn tay thô ráp của Lão Hải kéo anh vào tiệm, dạy anh bài học đầu tiên về đạo đức của người thợ, có lẽ giờ đây anh đã lầm đường lạc lối giữa dòng đời xô bồ.
Lâm Tuấn bước tới, quỳ một chân xuống ngang tầm mắt thằng bé lượm ve chai. Anh nhẹ nhàng đón lấy bọc vải rách trên tay nó, mở ra xem.
Bên trong là một chiếc đĩa gốm Lái Thiêu vẽ hoa cúc men lam, niên đại khoảng đầu thế kỷ hai mươi. Chiếc đĩa bị vỡ làm ba mảnh lớn, vết keo dán công nghiệp dính nham nhở, làm lem luốc cả lớp men rạn cổ kính. Món đồ này trên thị trường đồ cổ chỉ đáng giá vài chục nghìn đồng, nhưng đối với thằng bé, đó là cả một kho báu.
- Món đồ này cốt đất rất đanh, lớp men lam này là màu vẽ tay của thợ gốm Nam Bộ xưa. Keo dán sai cách làm hỏng mất đường thở của đất, nhưng không sao, cứu lại được.
Lâm Tuấn ngẩng đầu lên, nhìn bao quát một lượt toàn bộ những gương mặt trẻ tuổi đang nín thở chờ đợi ngoài cửa tiệm:
- Tất cả vào đi. Rửa sạch tay bằng xà phòng ở bể nước sau nhà, rồi ngồi vào từng vị trí trên bàn thợ. Hôm nay, chúng ta bắt đầu bài học đầu tiên.
Một tiếng reo khẽ vang lên trong đám đông.
Những bước chân rụt rè ban đầu bỗng trở nên nhanh nhẹn, trật tự bước qua ngưỡng cửa gỗ lim của Linh Bảo Đường. Căn nhà gỗ cổ vốn âm u, tĩnh mịch bỗng chốc được lấp đầy bởi hơi thở tuổi trẻ, tiếng kéo ghế gỗ lách cách và ánh mắt háo hức của hơn mười con người khao khát học nghề.
Tô Diệp Nhi mỉm cười, nhanh chóng đem những chiếc cốc sứ rót đầy trà sen thơm ngát đặt lên từng bàn cho các học viên. Lão Hải ngồi ở góc chõng tre, tay vẫn cầm quạt mo phe phẩy, nhưng khóe môi lão cứ giật giật vì một nụ cười mãn nguyện không thể giấu nổi.
Lâm Tuấn đứng trước chiếc bàn thao tác lớn đặt giữa gian nhà. Trên bàn bày sẵn các dụng cụ chuyên dụng: dao cạo mỏng bằng thép gió, giũa mịn, cọ lông chồn, cồn nguyên chất, bột gạch cổ nghiền mịn và một hũ sành màu da lươn đậy kín bằng lá chuối khô.
Anh cầm chiếc đĩa gốm vỡ của thằng bé ve chai lên, đặt nhẹ nhàng lên tấm nỉ xám:
- Trước khi cầm dao kéo hay pha chế chất gắn kết, các em phải hiểu rõ bản chất của công việc này. Người đời nhìn thấy một món đồ gốm vỡ, họ chỉ thấy sự phế thải, tàn tạ. Kẻ buôn gian bán lận thì tìm mọi cách mài giũa, trét bột thạch cao, phun sơn công nghiệp để che mắt thiên hạ, biến đồ vỡ thành đồ lành nhằm trục lợi. Đó không phải là phục chế. Đó là hành vi lừa gạt tiền nhân và bóp méo lịch sử.
Lâm Tuấn nhìn thẳng vào mắt từng sinh viên khảo cổ:
- Phục chế chân chính là chấp nhận vết thương của cổ vật. Mỗi vết nứt, mỗi mảnh vỡ đều là một dấu mốc thời gian, ghi lại biến cố mà món đồ đã trải qua trong lòng đất hay dưới đáy sông sâu.
Một nữ sinh viên giơ tay phát biểu:
- Thưa thầy, cháu từng đọc về kỹ thuật Kintsugi của Nhật Bản, dùng sơn mài trộn bột vàng ròng để hàn gắn gốm sứ. Vậy nghệ thuật của nước ta có phương pháp tương tự không ạ?
Lâm Tuấn gật đầu, ánh mắt ánh lên sự tự hào sâu sắc:
- Rất tốt. Người Nhật có Kintsugi, đưa việc hàn gắn gốm sứ lên tầm triết lý sống. Nhưng ít ai biết rằng, từ thời Lý - Trần qua thời Lê - Nguyễn, các bậc tiền nhân Đại Việt đã sáng tạo ra một nhánh kỹ thuật đỉnh cao gọi là Phục Cổ Thuật.
Lâm Tuấn đưa tay mở nắp hũ sành màu da lươn.
Một mùi hương nồng hắc, ngai ngái nhưng thanh khiết của mủ cây tự nhiên lan ra khắp gian phòng. Mọi ánh mắt lập tức dồn vào chất dịch màu đen sẫm, sánh mịn như mật ong bên trong hũ.
- Đây là sơn ta nguyên chất lấy từ cây sơn vùng Phú Thọ. Khác hoàn toàn với các loại keo hóa học chết cứng của phương Tây hay sơn xịt công nghiệp nhanh khô, sơn ta là một thực thể sống. Nó không khô nhờ bốc hơi dung môi, mà khô nhờ quá trình oxy hóa tự nhiên trong môi trường có độ ẩm cao trên tám mươi phần trăm và nhiệt độ mát mẻ. Khi sơn ta khô hoàn toàn, nó trơ với mọi loại axit, kháng nước tuyệt đối, chịu được sự ăn mòn của thời gian suốt hàng nghìn năm.
Lâm Tuấn dùng một chiếc bay tre nhỏ, múc ra một lượng sơn ta vừa đủ đặt lên phiến đá mài nhẵn.
Kế tiếp, anh mở chiếc hộp gỗ nhỏ bên cạnh, lấy ra một ít bột màu nâu đỏ mịn như bột phấn:
- Trong Kintsugi, người ta thường dùng bột đất sét nung hoặc bột đá để tạo độ kết dính ban đầu. Nhưng trong Phục Cổ Thuật Đại Việt, các cụ ta dùng bột nghiền từ những viên gạch nung cổ thời Trần hoặc thời Lê, kết hợp với đất sét mịn lấy từ lòng sông Hồng hoặc sông Đáy. Cốt gốm và bột gạch cùng chung một nguồn gốc từ đất mẹ nung qua lửa, khi kết hợp với sơn ta sẽ tạo ra một chất liên kết đồng nhất tuyệt đối về độ giãn nở nhiệt. Món đồ sau khi gắn sẽ không bao giờ bị nứt lại ở chính vết vỡ cũ.
Lâm Tuấn bắt đầu thao tác. Đôi bàn tay thô ráp với những vết chai dày ở đầu ngón tay cử động vô cùng uyển chuyển.
Anh dùng cồn lau sạch vết keo cũ nham nhở trên ba mảnh vỡ, sau đó dùng đầu bay tre miết một lớp sơn ta mỏng tang dọc theo bờ mép gãy. Tiếp đó, anh dùng mũi dao nhọn gạt một lượng bột gạch cổ vừa đủ, nhào trộn kỹ lưỡng trên phiến đá cho đến khi hỗn hợp sơn và bột gạch quánh lại như một lớp keo dẻo quánh, đen bóng.
Cả gian nhà gỗ im phăng phắc.
Những cô cậu sinh viên nín thở nghiêng người về phía trước, chăm chú quan sát từng cử động nhỏ của đầu ngón tay Lâm Tuấn. Thằng bé ve chai mở to mắt, hai bàn tay nắm chặt mép bàn vì xúc động.
Lâm Tuấn cẩn thận ráp hai mảnh vỡ lại với nhau. Lực ép từ các ngón tay của anh chuẩn xác đến từng mi-li-mét, không quá mạnh để làm vỡ mép men rạn mỏng manh, cũng không quá nhẹ khiến mối nối bị hở. Hỗn hợp sơn ta và bột gạch cổ từ từ lấp đầy khe nứt li ti, đẩy toàn bộ bọt khí ra ngoài. Anh dùng một dải vải ẩm lau sạch phần keo thừa tràn ra trên bề mặt men lam, để lại một đường chỉ đen mỏng manh như sợi tóc chạy ngang thân đĩa.
- Sau khi gắn cốt xong, món đồ này phải được ủ trong buồng ẩm tối ít nhất mười bốn ngày để sơn ta chín tự nhiên.
Lâm Tuấn mở chiếc hộp sơn mài thứ ba, để lộ ra những tập giấy dó mỏng tang kẹp từng lá vàng quỳ dát mỏng như cánh ve:
- Khi lớp keo đã khô đanh thành đá, chúng ta mới dùng cọ lông chồn đi một lớp sơn chín mỏng dọc theo đường chỉ nối, rồi rải vụn vàng quỳ hoặc bột bạc lên trên. Vàng sẽ bám chặt vào sơn, tạo thành một vết rạn lấp lánh ánh kim. Vết rạn ấy không còn là khuyết điểm, mà trở thành một dòng sông ánh sáng vắt ngang tác phẩm, kể lại câu chuyện về sự tái sinh của đất, của lửa và của bàn tay con người.
Lâm Tuấn đặt chiếc đĩa xuống, ngẩng lên nhìn đám học trò trẻ:
- Bây giờ, mỗi em lấy một mảnh gốm thực hành trong khay gỗ trước mặt. Hãy nhớ kỹ: trước khi tay chạm vào đồ, tâm phải tĩnh. Nếu trong lòng còn vướng bận lòng tham, sự nôn nóng hay ý nghĩ muốn làm giả để kiếm tiền, đường keo đi sẽ lệch, sơn sẽ hỏng, và món đồ sẽ chết thêm một lần nữa.
- Dạ rõ!
Tiếng đáp đồng thanh vang lên dõng dạc, xua tan đi vẻ ảm đạm tích tụ bao năm trong gian nhà cũ.
Những người trẻ bắt đầu bắt tay vào việc. Tiếng mũi dao cạo khàng trên mặt gốm thô, tiếng bay tre miết sơn lách cách trên phiến đá, tiếng thì thầm trao đổi về độ dày của lớp men rạn... tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên một bản hòa âm sống động, mộc mạc mà tràn đầy sinh khí.
Lão Hải ngồi trên chõng tre, đưa mắt nhìn quanh gian nhà chật kín bóng người. Lão nhấp một ngụm trà sen đặc, khóe môi run run. Lão quay sang nhìn Tô Diệp Nhi đang kiên nhẫn cúi người chỉ cho một cậu sinh viên cách cầm chổi lông chồn quét bột gạch, rồi lại nhìn Lâm Tuấn đang ân cần nắn lại ngón tay cho thằng bé lượm ve chai.
Gió từ phía sông Sài Gòn lại ùa vào qua khung cửa sổ mở rộng, mang theo hơi thở phóng khoáng của đất trời phương Nam.
Trên phố Lê Công Kiều, tiếng đục đá lách cách của những tiệm bên cạnh vẫn đều đặn vang lên theo nhịp thời gian. Nhưng ngay trong gian nhà số bốn mươi mốt này, ngọn lửa của nghề phục chế di sản Đại Việt sau bao năm chìm nổi, nay đã tìm thấy những bàn tay non trẻ sẵn sàng đón nhận và thắp sáng cho mai sau.
Lâm Tuấn đứng thẳng người, ngước mắt nhìn lên bức di ảnh của cha treo trên vách gỗ gụ phía sau bàn thờ tổ nghề. Trong làn khói trầm mỏng manh uốn lượn, gương mặt người thợ gốm già hiện lên với nét cười bình thản. Lời hứa năm xưa đã trọn vẹn. Con đường bảo tồn văn hóa của anh không còn đơn độc trên những vách núi cheo leo hay giữa các bảo tàng xa hoa cách nửa vòng trái đất, mà nó bắt đầu đâm chồi nảy lộc từ chính mảnh đất cội nguồn này.