THẤT SƠN VÙNG ĐẤT BỊ NGUYỀN - Chương 1: CHÓ ĐỘI NÓN MÊ
Quê ngoại tui nằm lọt thỏm trong một cái sóc nhỏ, ngay dưới chân Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn). Người ta gọi vùng này là Bảy Núi, hay Thất Sơn màu nhiệm, nhưng…
Nội dung chương
Quê ngoại tui nằm lọt thỏm trong một cái sóc nhỏ, ngay dưới chân Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn). Người ta gọi vùng này là Bảy Núi, hay Thất Sơn màu nhiệm, nhưng với tui, nó là vùng đất của những điều kiêng kỵ mà người yếu bóng vía tốt nhất đừng nên tò mò.
Bà ngoại tui thứ Tư, dân trong vùng hay gọi là Bà Tư. Bà tui là người gốc ở đây, sống chan hòa với cả người Kinh lẫn người Khmer. Cái nhà của bà là kiểu nhà sàn cũ, cất từ hồi xẻ gỗ rừng, nằm lọt thỏm giữa đám thốt nốt cao vút và vườn xoài cổ thụ âm u.
Hồi đó là năm 2002, tui bị bệnh phổi, ở Sài Gòn thuốc thang hoài không dứt nên tía má gửi tui về quê ngoại dưỡng bệnh, hít thở không khí núi rừng cho khỏe. Ai dè, chính cái không khí "núi rừng" đó lại làm tui chứng kiến những chuyện mà cả đời này tui không dám quên.
Chuyện bắt đầu từ con chó Phèn.
Bà Tư tui sống một mình, con cái đi làm xa hết, nên bà nuôi hai con chó để giữ nhà. Một con mực đen thui, và một con chó phèn lông vàng cháy. Con Mực thì bình thường, thấy người lạ là sủa, thấy chủ là mừng. Nhưng con Phèn thì khác.
Con Phèn này bà Tư xin của một ông sư sãi trong chùa Khmer tít trên vồ núi. Nó lầm lì, ít khi sủa, đôi mắt nó lúc nào cũng ươn ướt và đỏ ngầu như người mất ngủ lâu ngày. Đặc biệt, nó không bao giờ ngủ trong gầm sàn như con Mực. Đêm xuống, nó cứ leo lên cái tảng đá táng sau vườn, ngồi chồm hổm nhìn trân trân lên đỉnh Núi Cấm.
Người già trong sóc bảo chó mà hay nhìn lên núi ban đêm là nó đang nhìn "người khuất mặt".
Con Phèn sống với bà tui được 5 năm thì đổ đốn. Năm đó vùng Bảy Núi hạn hán, nắng chang chang như đổ lửa. Cây cối khô héo, rừng tràm xào xạc tiếng lá khô.
Một buổi trưa đứng bóng, tui đang nằm đong đưa trên cái võng dù dưới sàn nhà thì nghe tiếng lộc cộc... lộc cộc... vang lên từ phía chái bếp sau vườn. Cái tiếng giống như ai đó gõ gậy tre xuống đất, đều đặn, chậm rãi.
Nghĩ là có khách hay người bán vé số lầm đường, tui tính ngồi dậy ra coi. Nhưng chưa kịp nhổm dậy thì tui thấy bà Tư từ trên nhà sàn lao xuống. Bà không nói không rằng, tay cầm nắm muối hột, mặt bà tái mét, cắt không còn hột máu. Bà ra hiệu cho tui im lặng, rồi chỉ tay ra sau bếp.
Tui nhìn theo hướng tay bà, và cái cảnh tượng đó làm tui lạnh toát sống lưng giữa cái nắng 40 độ của miền biên viễn.
Sau gốc xoài già, con chó Phèn đang đi bằng hai chân sau.
Nó không đi khập khiễng như mấy con chó xiếc. Nó đi thẳng lưng, hai chân trước nó quặp lại trước ngực như người ta đang khấn vái. Cái đầu nó đội một chiếc nón lá rách tươm mà bà tui vứt ở góc vườn từ đời nào. Cái lưỡi nó thè ra dài thườn thượt, đỏ lòm, và đôi mắt đỏ ngầu của nó đang nhìn chằm chằm vào cái miếu thờ Ông Tà (Neak Ta) nhỏ xíu đặt ở góc vườn.
Nó đi từng bước, lộc cộc... lộc cộc... tiếng móng chân nó gõ xuống nền đất khô cứng nghe rợn người.
Bà Tư tui run rẩy, miệng lẩm bẩm mấy câu tiếng Phạn hay tiếng Khmer gì đó tui nghe không rõ. Rồi bà hét lớn: "Phèn! Mày làm cái gì đó? Quay đầu lại!"
Con chó khựng lại. Nó từ từ xoay cái cổ - chỉ cái cổ thôi - về phía bà cháu tui. Cái nón lá sụp xuống che nửa mặt, nhưng tui thề là tui thấy nó nhếch mép cười. Một nụ cười của con người trên mõm con vật.
Rồi nó hú lên một tiếng dài, không phải tiếng gâu gâu hay tiếng tru sói, mà nghe như tiếng người rên rỉ: "Ớ... ơ... ơ..."
Sau tiếng hú đó, nó vứt cái nón lá, hạ hai chân trước xuống rồi phóng vụt vào rừng thốt nốt phía sau nhà, mất hút.
Tui đứng chết trân, mồ hôi vã ra như tắm. Bà Tư tui ngồi bệt xuống đất, thở dốc: "Họa rồi con ơi, chó đội nón mê là họa tới nơi rồi."
Đêm hôm đó, cả vùng Thất Sơn nổi giông gió đùng đùng dù đang giữa mùa hạn. Tiếng sấm chớp rạch ngang trời, chiếu sáng lòa cả góc rừng. Tui nằm trong mùng mà nghe tiếng chó sủa ran khắp cả sóc, tiếng mõ tụng kinh từ các chùa trên núi vọng về nghe u u minh minh.
Sáng hôm sau, cậu Hai (con trai lớn của bà) đi soi ếch sớm về, mặt mũi hớt hải chạy lên nhà sàn gọi bà Tư.
"Má ơi, con Phèn... má ra coi con Phèn!"
Tui với bà chạy theo cậu Hai ra mé bờ kinh Vĩnh Tế, cách nhà chừng cây số. Con Phèn nằm chết ở đó. Nhưng cái chết của nó mới kì dị.
Nó không chết nằm nghiêng, cũng không chết co quắp. Nó chết trong tư thế ngồi. Hai chân sau xếp bằng lại như người ngồi thiền, hai chân trước chắp lại, lưng dựa vào gốc cây ô môi. Mắt nó vẫn mở trừng trừng, đỏ như máu, nhìn ngược về hướng nhà bà Tư.
Và kinh khủng hơn, trên đầu nó vẫn đội cái nón lá rách hôm qua.
Bà Tư nhìn xác con chó, lắc đầu: "Nó thành tinh rồi, nhưng bị Ông Tà vật chết. Nó muốn gánh cái gì đó cho nhà mình, hay là nó muốn báo cái gì đó..."
Cậu Hai tính đem chôn nó thì bà Tư cản: "Đừng chôn. Đem thiêu đi. Thiêu ngay tại chỗ rồi rải tro xuống dòng kinh Vĩnh Tế. Chôn nó xuống đất này, nó dậy nó đi nữa là hết đường sống."
Lửa bén vào xác con Phèn cháy xèo xèo, bốc lên một mùi khét lẹt, hôi thối không giống mùi thịt cháy, mà giống mùi tóc cháy và mùi dầu hỏa. Trong ngọn lửa, tui thấy cái xác co rút lại, cái nón lá cháy phừng phực, và trong tiếng lửa lép bép, văng vẳng nghe như có tiếng ai đó đang cười khanh khách...
Câu chuyện về con Phèn chỉ là sự khởi đầu. Sau cái chết của nó, cái lớp màn tâm linh bao phủ lên gia đình ngoại tui bắt đầu được vén lên, từng chút một, hé lộ những món nợ máu từ thời ông cố tui để lại trên vùng đất Bảy Núi linh thiêng và đầy bí hiểm này.