THẤT SƠN VÙNG ĐẤT BỊ NGUYỀN - Chương 2: MÓN NỢ "THIÊN LINH CÁI"

​Sau cái chết của con Phèn, bà Tư trở nên lầm lì hẳn. Bà đóng cửa tiệt cái am thờ nhỏ xíu nằm tuốt trên gác lửng mà hồi giờ bà cấm tụi tui bén mảng tới.…

Nội dung chương

​Sau cái chết của con Phèn, bà Tư trở nên lầm lì hẳn. Bà đóng cửa tiệt cái am thờ nhỏ xíu nằm tuốt trên gác lửng mà hồi giờ bà cấm tụi tui bén mảng tới. Bà đem về một mớ bùa dán chằng chịt lên cửa, mùi nhang trầm lúc nào cũng tỏa ra nghi ngút, đặc quánh cả căn nhà sàn.

​Một đêm mưa tầm tã, thứ mưa rừng Bảy Núi dai dẳng và lạnh thấu xương, bà Tư gọi tui ra ngồi cạnh bếp lửa. Trong ánh lửa bập bùng, bà kể cho tui nghe về cái "nghiệp" mà dòng họ này đang phải gánh. Bà nói, đất này không tự nhiên mà độc, là do người ta gieo nhân ác nên giờ con cháu phải gặt quả.

​Chuyện quay ngược về đời ông Cố tui, tức cha ruột của bà Tư.

​Ông Cố tui không phải dân gốc ở đây, mà là dân thương hồ từ dưới miệt Hậu Giang lên. Thời đó, vùng biên giới này còn hoang vu lắm, luật pháp cũng lỏng lẻo. Ông Cố tui làm nghề buôn chuyến qua bên kia biên giới Campuchia. Ông buôn đủ thứ, từ trâu bò, thuốc lá cho tới vàng.

​Người ta đồn ông Cố tui phất lên nhanh như diều gặp gió là nhờ có "quới nhân" phù trợ. Nhưng bà Tư bảo, chẳng có quới nhân nào cả, mà là tà thuật.

​Hồi đó, vì muốn làm giàu nhanh để cai quản cả một vùng biên giới, ông Cố đã lặn lội sang tận vùng Tà Lơn (Núi Bokor), tìm gặp một ông thầy pháp người Xiêm (Thái Lan) ẩn tu trong hang đá. Ông xin một thứ phép để buôn may bán đắt, để lời nói ra như dao chém đá, ai cũng phải nghe.

​Ông thầy Xiêm đưa cho ông Cố một cái hũ sành, miệng bịt vải đỏ, bên ngoài vẽ chằng chịt những ký tự ngoằn ngoèo như giun dế. Ông thầy dặn: "Cái này là Thiên Linh Cái, luyện từ sọ của kẻ chết oan. Mày đem về thờ, nó cho mày vàng bạc, nhưng mày phải hứa trả cho nó mạng người. Đời mày không trả hết thì đời con, đời cháu mày trả."

​Ông Cố tui lúc đó mờ mắt vì tiền, gật đầu cái rụp.

​Quả nhiên, từ ngày đem cái hũ về thờ trong buồng kín, ông Cố tui làm đâu thắng đó. Ghe hàng đi qua trạm kiểm soát êm ru, đối thủ cạnh tranh thì tự nhiên lăn ra ốm chết hoặc bỏ xứ đi. Ông Cố tui trở thành điền chủ giàu nhất vùng sóc này, ruộng đất cò bay thẳng cánh.

​Nhưng cái giá phải trả đến rất nhanh.

​Bà Cố tui sinh được 5 người con. Ba trai, hai gái. Bà Tư là con út. Nhưng lạ lùng thay, mấy người con trai cứ nuôi lớn đến tầm 10, 12 tuổi là chết bất đắc kỳ tử. Người thì té sông, người thì bị trâu húc, người thì sốt rét ác tính đi trong đêm.

​Đến năm bà Tư lên 10 tuổi, trong nhà chỉ còn lại ông Cố, bà Cố và mấy cô con gái. Dòng họ coi như tuyệt tự con trai nối dõi.

​Đêm định mệnh đó là một đêm rằm tháng Bảy. Ông Cố tui đi buôn chuyến hàng cuối cùng, định bụng sau chuyến này sẽ rửa tay gác kiếm, về tu tâm dưỡng tánh để mong giữ lại chút phước đức.

​Ông đi đường tắt qua cánh rừng tràm sát biên giới. Đêm đó mưa to như trút nước, sấm chớp đùng đùng y hệt cái đêm con chó Phèn chết.

​Bà Cố và mấy mẹ con ở nhà đang ngủ thì nghe tiếng Rầm! Cánh cửa gỗ lim dày cui bị hất tung ra, gió thốc vào làm tắt ngấm ngọn đèn dầu.

​Trong ánh chớp loằng ngoằng, bà Tư (lúc đó còn nhỏ) nhìn thấy một bóng người đàn ông cao lớn đứng sừng sững ngay giữa cửa. Người đó mặc bộ đồ bà ba đen quen thuộc, tay cầm cái dao rựa sáng loáng, bùn đất bê bết khắp người.

​Bà Cố mừng rỡ kêu lên: "Ông ơi, ông về rồi hả?"

​Cái bóng người đó không trả lời, cứ đứng im lìm, nước mưa từ người chảy xuống sàn tong tỏng. Bà Cố lật đật chạy lại châm đèn. Khi ánh lửa vừa loe lên, bà Cố hét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngất xỉu ngay tại chỗ.

​Cái người đứng đó đúng là ông Cố, mặc đúng bộ đồ của ông, tay cầm con dao của ông. Nhưng trên cổ ông... không có đầu.

​Cái cổ cụt lủn, máu me nhầy nhụa đang sủi bọt ục ục.

​Cái xác không đầu đó bước từng bước nặng nề vào nhà, đi thẳng tới cái buồng kín nơi đặt cái hũ sành Thiên Linh Cái. Nó đứng đó một lúc, cái dao rựa trên tay cứ gõ keng... keng... xuống nền gạch tàu, rồi quay người đi ngược ra bóng đêm và biến mất.

​Sáng hôm sau, người ta tìm thấy xác ông Cố tui nằm ở bìa rừng. Đầu ông bị kẻ cướp (hoặc một thứ gì đó) chém lìa, mất tích không tìm thấy đâu. Tài sản mang theo mất sạch. Nhưng điều kỳ lạ là cái hũ sành trong buồng kín cũng tự nhiên nứt toác ra một đường dài, bên trong rỉ ra một thứ nước đen ngòm, hôi thối như mùi xác chết.

​Sau cái đêm kinh hoàng đó, gia đình bắt đầu sa sút. Bà Cố tui mời không biết bao nhiêu thầy pháp về trấn yểm. Cuối cùng, có một ông thầy người Miên (Khmer) đi ngang qua, ông lắc đầu bảo: "Oan gia trái chủ nặng quá. Cái đầu của ổng bị 'người khuất mặt' giữ làm tin rồi. Giờ muốn yên thì phải lập am thờ cái hũ này, đời đời kiếp kiếp không được để nó đói, nếu không nó bắt hết người trong nhà."

​Ông thầy dùng bùa chú phong ấn cái hũ lại, đặt lên cái am nhỏ trên gác lửng mà bây giờ bà Tư đang thờ. Từ đó, gia đình mới tạm yên ổn, nhưng đàn ông trong dòng họ này sinh ra đều yểu mệnh hoặc gặp tai ương.

​Kể đến đây, bà Tư thở dài, mắt nhìn xa xăm ra màn mưa đen kịt:

​"Cậu Hai bây với cậu Ba bây sống được tới giờ là nhờ bà ăn chay niệm Phật, cúng kiến cho 'nó' đủ đầy. Nhưng con Phèn chết là điềm báo 'nó' đang đói trở lại, hoặc là phong ấn của ông thầy Miên năm xưa đã hết linh nghiệm rồi."

​Tui nghe mà lạnh toát sống lưng, bất giác nhìn lên cái gác lửng tối om. Ở đó, trong cái am thờ đóng kín, dường như có tiếng móng tay cào ken két vào thành hũ sành, hòa lẫn với tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái lá thốt nốt...

​"Kít... kít..."

​Tiếng cào càng lúc càng rõ. Bà Tư giật mình, vội vàng lấy ra một quả trứng gà sống, dùi một lỗ nhỏ rồi rón rén leo lên cầu thang gỗ…

Chương khác

Xem thêm