24 Truyện Ma Dân Gian - Chương 1: Chương 001: Năm Dấu Ngón Tay

Mẹ tôi năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Mỗi lần cả nhà quây quần bên mâm cơm chiều đông, khi gió bấc rít qua khe cửa sổ gỗ cũ kỹ, mẹ lại nhìn ra khoảng…

Nội dung chương

Mẹ tôi năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Mỗi lần cả nhà quây quần bên mâm cơm chiều đông, khi gió bấc rít qua khe cửa sổ gỗ cũ kỹ, mẹ lại nhìn ra khoảng sân tối om rồi kể về những ngày tháng thanh niên xung phong ở vùng quê Thành Đô. Đó là một xã bán sơn địa thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, nơi có con sông Bưởi chảy qua. Những năm cuối thập niên bảy mươi, vùng đất ấy hoang vu lắm, rừng rậm bao quanh, dân cư thưa thớt, ban đêm chỉ có tiếng gió ngàn và tiếng thú rừng hú gọi bầy.

Mẹ tôi cùng tiểu đội nữ thanh niên xung phong đóng quân trong những căn lán tre lợp lá trung quân dựng tạm sát bìa rừng. Công việc hằng ngày của họ là phát mở đường thông tuyến và trồng rừng phòng hộ. Mọi sinh hoạt từ tắm giặt, vo gạo đến gánh nước nấu ăn đều phụ thuộc vào con sông Bưởi chảy men theo chân đồi.

Khúc sông chảy qua khu vực đóng quân của mẹ tôi có lòng sông khá đặc biệt. Lòng sông rộng nhưng lòng lạch lại hẹp, phần lớn là những bãi đá cuội tròn nhẵn và cát sỏi mịn. Vào mùa khô, nước sông cạn trơ đáy, có những đoạn nước chỉ xâm xấp mắt cá chân, chỗ sâu nhất cũng chưa đầy đầu gối người lớn. Người dân địa phương và các cô chú thanh niên xung phong vẫn thường lội qua sông để sang bên kia bờ cắt cỏ, bẻ ngô mà không cần thuyền bè.

Thế nhưng, người già trong làng Thành Đô luôn dặn dò đám thanh niên một điều cấm kỵ: tuyệt đối không được ra sông vào lúc đúng giữa trưa, từ mười một giờ rưỡi đến một giờ chiều. Họ bảo đó là giờ đứng bóng, giờ của người cõi dưới lên tìm người thế mạng. Mẹ tôi và những thanh niên thời đó đều mang tinh thần hăng hái, không tin vào những chuyện dị đoan nên chẳng mấy ai bận tâm đến lời cảnh báo ấy.

Một buổi trưa đầu hạ năm 1978, trời nắng chang chang, cái nóng hầm hập phả lên từ đất đá khiến không khí trở nên ngột ngạt. Sau buổi lao động mệt nhọc, cả tiểu đội thanh niên xung phong rút về lán nghỉ trưa. Lúc đó là khoảng mười hai giờ kém mười lăm. Chị Thắm, một người phụ nữ địa phương chừng ba mươi tuổi, sống ở ngôi nhà tranh ngay sát bìa rừng, xách một chiếc thau nhôm đựng quần áo cũ ra bến sông để giặt.

Chị Thắm thường xuyên qua lại lán của đơn vị mẹ tôi để đổi khoai sắn lấy muối hạt, tính tình hiền lành, chịu thương chịu khó. Chị chọn một tảng đá bằng phẳng nằm sát mép nước, đặt chiếc thau nhôm xuống rồi ngồi xổm dùng chiếc chày gỗ nghiến đập quần áo nhịp nhàng. Tiếng chày gỗ gõ vào đá cồm cộp vang vọng giữa không gian trưa vắng lặng.

Mẹ tôi lúc đó đang nằm trên sạp tre trong lán, mắt lim dim ngủ nhưng tai vẫn nghe rõ tiếng đập áo của chị Thắm ngoài bến sông.

Đột nhiên, tiếng đập áo dừng lại.

Từ phía thượng nguồn, một chiếc áo sơ mi nam màu xanh công nhân đã sờn cũ, rách ở phần vai và không có cúc trôi lững lờ theo dòng nước. Chiếc áo trôi rất chậm, vạt áo xòe rộng trên mặt nước giống một người đang nằm sấp trôi sông. Chị Thắm nhìn thấy chiếc áo thì dừng tay giặt. Thời bao cấp thiếu thốn đủ đường, một tấm vải hay một chiếc áo cũ đối với người dân nghèo đều là của quý. Chị Thắm nghĩ bụng chắc có ai đi rừng sẩy tay làm rơi áo xuống sông, nếu vớt lên giặt sạch, khâu vá lại thì chồng chị vẫn có cái mặc đi làm rẫy.

Nghĩ là làm, chị Thắm đứng dậy, bước xuống mép nước. Nước ở ngay sát tảng đá giặt đồ chỉ ngập đến bắp chân chị. Chiếc áo xanh trôi cách bờ khoảng hơn một mét. Chị Thắm cúi người, tay trái vịn vào tảng đá để lấy thăng bằng, tay phải nhoài ra cố sức với lấy chéo vạt áo đang trôi qua.

Ngay khi ngón tay chị vừa chạm vào thớ vải ướt sũng của chiếc áo, bàn chân phải của chị trượt mạnh trên lớp rêu xanh bám trên đá cuội. Chị mất đà, ngã nhào xuống nước.

Tiếng nước bắn tung tóe kèm theo tiếng kêu thất thanh của chị Thắm vang lên giữa trưa vắng.

Lúc đó, anh Nghĩa, một nam thanh niên xung phong quê ở Nam Định, đang xách hai chiếc thùng tôn đi lấy nước ngọt ở cái giếng khơi nằm cách bến sông khoảng hai mươi mét. Nghe tiếng động mạnh, anh Nghĩa quay đầu lại nhìn. Anh thấy chị Thắm đang giãy giụa dưới nước.

Bến sông lúc này nước rất cạn. Nơi chị Thắm ngã xuống, mực nước thực tế chưa đầy đầu gối của anh Nghĩa. Thế nhưng, cảnh tượng trước mắt lại vô cùng kỳ lạ. Chị Thắm không thể đứng dậy. Chị nằm sấp dưới lòng sông, hai tay cào cấu điên cuồng vào lớp cát sỏi dưới đáy, đầu cố ngoi lên khỏi mặt nước để thở nhưng cứ bị kéo giật ngược xuống. Người chị co rúm lại, chân đạp loạn xạ vào không khí giống một người đang bị chìm ở vùng nước sâu muôn trượng.

Anh Nghĩa vứt hai chiếc thùng tôn xuống đất, tiếng kim loại va chạm loảng xoảng, rồi anh ba chân bốn cẳng lao xuống bến sông. Anh vừa chạy vừa hét lớn:

- Chị Thắm! Làm sao thế? Đứng dậy đi! Nước cạn mà!

Chị Thắm không trả lời được, miệng chị ngập nước sông, chỉ phát ra những tiếng kêu nghẹn họng:

- Ứ... ứ... cứu... cứu tôi...

Anh Nghĩa nhảy ào xuống nước. Nước sông bắn lên tung tóe, chỉ ngập đến bắp chân anh. Anh lao đến bên cạnh chị Thắm, cúi người xuống, hai tay luồn dưới nách chị để nhấc chị đứng dậy.

Thế nhưng, ngay khi anh Nghĩa dùng lực kéo chị Thắm lên, anh cảm thấy có một sức ghì rất mạnh từ phía dưới đáy sông. Sức ghì này nặng trịch, giống có người đang ôm chặt lấy chân chị Thắm từ dưới bùn sâu và kéo ngược xuống. Anh Nghĩa là thanh niên khỏe mạnh, hằng ngày gánh đá, vác gỗ làm đường rẫy mà lúc đó phải gồng đỏ cả mặt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Anh hét lớn một tiếng, lấy hết sức bình sinh giật mạnh chị Thắm lên khỏi mặt nước.

Một tiếng "sột" khô khốc vang lên dưới lòng sông, giống tiếng bùn nhão bị tách ra. Anh Nghĩa kéo được chị Thắm lên bờ cát. Chiếc áo xanh công nhân lúc nãy lập tức trôi băng băng theo dòng nước chảy xiết rồi biến mất sau khúc quanh của rặng tre già, nhanh hơn tốc độ chảy bình thường của dòng sông rất nhiều.

Nghe tiếng hét của anh Nghĩa và tiếng động lớn ngoài sông, mẹ tôi cùng hai người nữa trong lán giật mình tỉnh giấc, vội vàng chạy ra bến sông.

Khi mẹ tôi chạy đến nơi, chị Thắm đã được anh Nghĩa dìu ngồi trên bờ cát. Chị Thắm thở dốc, nước sông lẫn cát mịn bám đầy trên mặt, trên tóc và quần áo. Mặt chị cắt không còn giọt máu, hai môi thâm tím lại, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng cồm cộp. Người chị run lên cầm cập như người đang lên cơn sốt rét ác tính.

Mẹ tôi vội vàng ngồi xuống bên cạnh, vuốt ngực cho chị Thắm bớt sặc nước, hỏi dồn dập:

- Chị Thắm ơi, ngã xuống thế kia có đau lắm không?

Chị Thắm vẫn chưa hoàn hồn, hai mắt trợn ngược, nhìn trân trân ra khúc sông cạn trước mặt, tay trỏ trỏ xuống nước, giọng nói đứt quãng vì sợ hãi:

- Dưới... dưới đó... có người... Nó giữ chân tôi...

Anh Nghĩa lúc này đang đứng vắt nước ở gấu quần bảo hộ, nghe vậy liền cau mày nói:

- Chị nói thế nào chứ nước sông chỗ này chưa đến đầu gối tôi, đáy toàn cát với sỏi nhẵn thín, làm gì có ai trốn dưới đó được. Hay là chị bị chuột rút chân rồi cuống lên đấy thôi?

Chị Thắm lắc đầu quầy quậy, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, chị nắm chặt lấy tay mẹ tôi, móng tay cắm sâu vào da thịt mẹ tôi như để tìm kiếm sự che chở:

- Không phải chuột rút! Tôi biết mà! Tôi vừa ngã xuống, định chống tay đứng dậy thì có một bàn tay... một bàn tay lạnh ngắt như cục đá dưới bùn chui lên. Nó bóp chặt lấy bắp chân phải của tôi. Nó khỏe lắm, nó cứ ghì chặt chân tôi xuống đáy sông. Tôi càng giãy giụa thì nó càng bóp mạnh. Nó muốn dìm chết tôi!

Mẹ tôi nghe chị kể thì nửa tin nửa ngờ. Mẹ quay sang nhìn anh Nghĩa. Anh Nghĩa lúc này cũng có chút dao động, anh nhớ lại lực ghì nặng trịch mà mình phải gánh chịu khi kéo chị Thắm lên lúc nãy. Lực ghì đó rõ ràng không phải là sức nặng của một cơ thể phụ nữ bình thường bị ngã nước.

Anh Nghĩa ngồi xổm xuống trước mặt chị Thắm, giọng nhỏ nhẹ hơn:

- Chị Thắm, chân chị bị đau ở chỗ nào? Để tôi xem có vướng vào rễ cây hay bị đá kẹp không.

Chị Thắm run rẩy chỉ tay vào bắp chân phải của mình, nơi ống quần đen ướt sũng đang dính chặt vào da thịt.

Mẹ tôi khom người xuống, tay luồn vào gấu quần của chị Thắm rồi từ từ kéo ống quần lên đến đầu gối.

Ngay khi ống quần được kéo lên, tất cả những người có mặt ở bến sông lúc đó đều nín thở, không ai nói được lời nào.

Trên bắp chân trắng bợt vì ngâm nước sông của chị Thắm hiện rõ một vết bầm tím đen. Đó không phải là vết xước do đá quẹt, cũng không phải vết lằn của rễ cây hay dây leo. Đó là hình dạng của năm dấu ngón tay người.

Vết bầm hằn sâu vào da thịt chị Thắm vô cùng rõ ràng. Một dấu ngón tay cái to bản nằm ở phía bên ngoài bắp chân, đối diện với bốn dấu ngón tay dài hơn nằm ở phía bên trong. Khoảng cách giữa các ngón tay bóp rất chặt, các đầu ngón tay tím ngắt, tụ máu lại như thể có một bàn tay bằng sắt đã dùng hết sức bóp nghiến lấy bắp chân chị.

Nhìn kỹ hơn, ở đầu năm vết bầm tím đó còn có năm vết xước nhỏ do móng tay nhọn hoắt cào rách da, rướm ra những vệt máu đỏ tươi pha lẫn với nước sông chưa kịp khô.

Anh Nghĩa nhìn thấy năm dấu ngón tay ấy thì mặt biến sắc, anh đứng bật dậy, lùi lại một bước, không nói thêm được câu nào. Mẹ tôi thì run bắn cả người, vội vàng thả ống quần chị Thắm xuống như thể vừa chạm phải một vật gì đó rất ghê tởm.

Không gian bến sông trưa hè nóng nực bỗng trở nên ngột ngạt và im phăng phắc. Chỉ có tiếng nước sông chảy róc rách qua các khe đá và tiếng gió xào xạc trên ngọn tre.

Chiều hôm đó, chồng chị Thắm và mấy người đàn ông trong làng mang gậy tre ra khúc sông ấy để rà soát. Họ lội dọc bờ sông, dùng gậy thọc sâu xuống những kẽ đá, những khoảng bùn nhão dưới đáy sông để tìm xem có gốc cây hay vật cản gì có thể gây ra vết thương như vậy không. Họ tìm kiếm suốt hai tiếng đồng hồ nhưng lòng sông hoàn toàn sạch sẽ, chỉ có cát sỏi và vài cành củi khô nhỏ trôi sông dạt vào bờ cát. Không có gốc cây chìm, không có dây thép gai, càng không có bất kỳ thứ gì có thể tạo thành hình năm dấu ngón tay người bóp chặt như thế.

Vết bầm trên chân chị Thắm sau đó rất lâu không chịu tan. Mặc dù chị đã dùng đủ mọi cách dân gian như xoa bóp bằng rượu gừng, đắp lá thầu dầu nhưng vết bầm vẫn tím ngắt. Sau hơn một tháng, vết tím chuyển dần sang màu đen xỉn rồi để lại một vết sẹo sần sùi, da chỗ đó rúm ró lại như bị bỏng.

Sau sự việc đó, người dân trong làng Thành Đô và cả đơn vị thanh niên xung phong của mẹ tôi không ai bảo ai, tuyệt đối không một ai dám ra bến sông giặt giũ hay tắm rửa vào buổi trưa đứng bóng nữa.

Mẹ tôi kể, nhiều năm sau khi đã rời vùng quê Thành Đô trở về quê nhà ở đồng bằng, mỗi khi giặt đồ ở bể nước mưa sau nhà vào buổi trưa nắng gắt, mẹ vẫn có thói.

quen nhìn xuống chân mình, rồi nhìn ra xung quanh, như thể lo sợ từ trong bóng tối của bể nước hay dưới lòng đất ẩm ướt sẽ có một bàn tay lạnh ngắt thình lình thò ra, bóp chặt lấy bắp chân mình.

Chương khác

Xem thêm