24 Truyện Ma Dân Gian - Chương 2: Chương 002: Tên Cô Gái

Tôi có thằng em họ tên là Nam, con của dì Út tôi. Nhà dì Út nằm sâu trong một con hẻm trên đường Mễ Cốc, quận 8, sát ngay mé kênh Đôi. Khu này hồi những…

Nội dung chương

Tôi có thằng em họ tên là Nam, con của dì Út tôi. Nhà dì Út nằm sâu trong một con hẻm trên đường Mễ Cốc, quận 8, sát ngay mé kênh Đôi. Khu này hồi những năm chín mươi đổ về trước toàn là đất sình lầy, dừa nước mọc um tùm, dân cư thưa thớt. Sau này người ta san lấp cất nhà, nhưng cái không khí ẩm ướt, âm u của vùng sông nước thì vẫn còn nguyên. Nam sinh năm 1998, tuổi Mậu Dần. Nhưng ngặt nỗi nó lại sinh vào đúng giờ Hợi, đêm rằm tháng Bảy âm lịch. Người già trong xóm hồi đó coi tử vi cho nó đều lắc đầu bảo số thằng này bát tự thuần âm, phần âm lấn át phần dương, rất dễ chiêu dụ những thứ khuất mặt khuất mày.

Từ lúc còn nhỏ, Nam đã khác người. Cứ chiều tối, khi đám trẻ con trong xóm đang chạy nhảy chơi lò cò ngoài đường hẻm thì Nam lại lủi thủi đi vào nhà. Có lần tôi qua nhà dì Út chơi, thấy Nam đứng một mình trước góc tủ thờ cũ, mắt nhìn chăm chăm vào khoảng không tối om giữa tủ và bức tường. Nó nói chuyện thì thầm, thỉnh thoảng lại gật đầu cười. Tôi hỏi nó đang nói chuyện với ai, nó chỉ tay vào góc tường bảo:

- Có bà cụ mặc áo túi đen đang ngồi ăn trầu ở đó, bà bảo cháu xê ra cho bà têm trầu.

Tôi nhìn theo tay nó chỉ thì chỉ thấy một mảng tường ẩm mốc loang lổ vết nước mưa. Dì Út thấy vậy sợ quá, liền dẫn Nam đi chùa dưới Chợ Lớn để quy y gieo duyên, rồi xin cho nó một cái vòng dâu tằm đeo ở cổ tay. Từ đó nó mới bớt nói sảng, nhưng tính tình vẫn lầm lì, ít nói.

Sự việc tôi sắp kể xảy ra vào khoảng đầu tháng Tám dương lịch năm ngoái, tức là còn một tuần nữa là đến rằm tháng Bảy âm lịch. Thời tiết Sài Gòn dạo đó rất khó chịu. Cứ tầm ba bốn giờ chiều là trời kéo mây đen xám xịt, mưa đổ xuống tầm tã cho đến tận đêm muộn. Nước kênh Đôi dâng cao, mấp mé cả vào thềm nhà của những hộ dân sống sát bờ kênh. Nước sông đen ngòm, mang theo rác rưởi và xác động vật trôi lờ lững, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc mỗi khi mưa tạnh.

Một buổi sáng thứ Hai, Nam thức dậy với khuôn mặt bơ phờ. Nó qua nhà tôi mượn cuốn sách giáo trình, tôi thấy hai mắt nó hằn lên những tia máu đỏ, da dẻ tái nhợt. Tôi hỏi nó bị sao, nó lắc đầu bảo tối qua ngủ không ngon giấc, cứ mơ thấy chuyện bậy bạ. Tôi cũng không để ý lắm, nghĩ chắc nó lo ôn thi học kỳ nên thức khuya.

Nhưng đến ngày thứ ba liên tiếp, tình trạng của Nam ngày càng tệ đi. Nó bắt đầu kể cho tôi nghe về giấc mơ kỳ lạ đó. Nam bảo, cứ mỗi khi đặt lưng xuống giường và nhắm mắt lại, nó lại thấy mình đang đi bộ trên một con đường đất đỏ rất dài. Hai bên đường trồng toàn những bụi chuối xiêm cao quá đầu người, lá chuối xơ xác đập vào nhau xào xạc trong gió. Đi hết con đường đó sẽ dẫn đến một bến đò cũ bỏ hoang, nơi có một chiếc ghe gỗ mục nát đang neo đậu bên bờ sông đầy sương mù.

Đứng ở bến đò đó là một cô gái trẻ. Cô ta mặc một chiếc áo bà ba màu xanh lục nhạt, mái tóc đen dài ngang lưng được kẹp gọn gàng bằng một chiếc kẹp tóc hình hoa mai màu trắng. Cô ta đứng quay lưng về phía Nam. Nhưng khi Nam vừa bước đến gần, cô ta sẽ quay lại, nở một nụ cười rất tươi với nó. Nam bảo trong giấc mơ, hai đứa nói chuyện với nhau rất nhiều. Họ ngồi trên chiếc ghe mục, nói đủ thứ chuyện trên đời. Nam cảm thấy cô gái này vô cùng thân quen, giống như một người bạn tri kỷ mà nó đã quen biết từ rất lâu rồi.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ngay khi tiếng chuông báo thức vang lên và Nam mở mắt tỉnh dậy, toàn bộ nội dung cuộc trò chuyện trong mơ biến mất sạch sẽ khỏi đầu nó. Nó không thể nhớ nổi cô gái đó đã nói những gì, giọng nói của cô ta ra sao, hay hai người đã cười đùa về chuyện gì. Chỉ có duy nhất một thứ đọng lại rõ ràng trong trí nhớ của nó, giống như có ai đó dùng mực đỏ viết thẳng vào não: cái tên "Nguyễn Thị Ngọc Mai".

Nam đoan chắc với tôi rằng ngoài đời nó hoàn toàn không quen biết ai tên là Nguyễn Thị Ngọc Mai. Bạn học từ cấp một đến đại học, hàng xóm láng giềng, hay họ hàng thân thích đều không có ai mang cái tên này. Nó cảm thấy băn khoăn nhưng vẫn cố tự trấn an bản thân rằng đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của trí não.

Thế nhưng, giấc mơ đó không dừng lại. Đêm thứ tư, đêm thứ năm, rồi đêm thứ sáu, mọi thứ diễn ra chính xác theo một kịch bản không hề thay đổi. Vẫn là con đường đất đỏ, bến đò hoang, cô gái áo xanh với chiếc kẹp hoa mai trắng, và cái tên Nguyễn Thị Ngọc Mai vang lên trong đầu nó mỗi sáng thức dậy.

Sức khỏe của Nam suy sụp nhanh chóng. Nó bắt đầu sợ ngủ. Nó cố gắng uống trà đặc, cà phê phin loại mạnh để thức đêm. Nó bật đèn sáng trưng trong phòng, mở tivi xem suốt đêm để giữ cho đầu óc tỉnh táo. Nhưng cơ thể con người có giới hạn. Đến khoảng bốn năm giờ sáng, khi cơn buồn ngủ ập đến dữ dội, chỉ cần Nam thợp mắt thiếp đi chừng mười phút trên bàn học, giấc mơ đó lại lập tức xuất hiện.

Lần này, cô gái trong mơ không còn đứng yên ở bến đò nữa. Cô ta bước đến gần Nam, dùng bàn tay lạnh ngắt như nước đá nắm lấy cổ tay nó, kéo nó đi xuống chiếc ghe mục. Chiếc ghe tự động rời bến, trôi lững lờ ra giữa dòng sông ngập tràn sương mù trắng xóa. Cô gái nhìn thẳng vào mắt Nam, khuôn mặt không hề có chút biểu cảm nào, chỉ có đôi môi mấp máy liên tục như đang cố nói một câu gì đó rất quan trọng. Nam cố gắng lắng nghe nhưng tai nó hoàn toàn không nghe thấy âm thanh nào phát ra từ miệng cô ta. Nó chỉ cảm thấy sự ngột ngạt khó thở ép chặt vào lồng ngực.

Đến ngày thứ bảy của tuần đó, Nam không chịu đựng nổi nữa. Trông nó lúc này không khác gì một cái xác không hồn, người gầy rộc đi, hai má hóp lại, thần sắc tối tăm. Nó chạy sang nhà tôi, quỳ sụp xuống chân dì Út đang ngồi nhặt rau ở sân sau. Nó khóc lóc thảm thiết, kể lại toàn bộ những gì đã trải qua trong suốt một tuần liền.

Dì Út nghe xong, mặt biến sắc. Dì buông rổ rau xuống đất, vội vàng kéo Nam vào nhà trong. Dì hỏi cặn kẽ từng chi tiết, từ chiếc áo bà ba màu xanh lục, chiếc kẹp tóc hình hoa mai trắng, cho đến cái tên Nguyễn Thị Ngọc Mai. Dì Út vốn là người tin vào chuyện tâm linh, nghe xong liền bảo:

- Thôi đúng rồi. Bát tự của mày yếu, lại đúng vào tháng cô hồn nên bị vong hồn người ta theo chọc ghẹo hoặc muốn nhờ vả gì rồi. Cái tên đó là họ báo cho mày biết để mày cúng kiếng cho họ.

Dì Út lập tức bảo tôi lấy xe máy chở dì và Nam ra chợ Phạm Thế Hiển. Dì dẫn hai đứa vào một tiệm bán đồ hàng mã nằm sâu trong lòng chợ. Dì mua một xấp tiền vàng bạc loại lớn, một bộ quần áo phụ nữ bằng giấy màu xanh lá cây, và tìm mua bằng được một chiếc kẹp tóc bằng nhựa màu trắng giống như mô tả của Nam.

Khi về đến nhà, dì Út dặn dò Nam rất kỹ:

- Chiều nay, lúc mặt trời vừa khuất bóng, con mang toàn bộ số đồ mã này ra ngã ba bờ kênh chỗ cầu sập mà đốt. Chỗ đó vắng vẻ, lại gần sông nước, vong hồn dễ tụ về nhận đồ. Khi đốt, con phải khấn thật rõ ràng tên tuổi của mình, rồi gọi đúng cái tên Nguyễn Thị Ngọc Mai đó ra. Bảo họ nhận quần áo tiền bạc rồi đi đầu thai, đừng đến tìm con trong giấc mơ nữa. Giữa con và họ không có nợ nần gì nhau.

Nam nghe lời mẹ. Khoảng sáu giờ chiều, khi trời bắt đầu nhá nhem tối, gió từ sông thổi vào lạnh buốt, Nam mang chiếc thau nhôm cũ và bọc đồ mã ra ngã ba bờ kênh gần cầu sập. Đây là một khu đất trống đầy cỏ dại, ít người qua lại vào buổi tối. Tôi đi cùng nó để canh chừng.

Nam châm lửa vào xấp giấy tiền vàng bạc. Ngọn lửa nhanh chóng bắt vào bộ quần áo giấy màu xanh lá cây và chiếc kẹp tóc nhựa, cháy bùng lên, soi sáng một góc bờ sông tối tăm. Khói bụi bay nghi ngút theo chiều gió hướng ra phía dòng nước đen ngòm. Nam chắp tay trước ngực, giọng run run khấn:

- Con tên là Nguyễn Hoài Nam, sinh năm Mậu Dần. Nay con đốt quần áo, tiền vàng cho cô Nguyễn Thị Ngọc Mai. Xin cô nhận lấy những thứ này làm lộ phí đi đường, từ nay xin cô đừng vào giấc mơ của con nữa. Con và cô không quen không biết, cũng không có duyên nợ gì. Xin cô buông tha cho con.

Chúng tôi đứng đợi cho đến khi đống tro tàn tắt hẳn, chỉ còn vài đốm lửa đỏ nhỏ nhoi lụi tàn trong bóng tối. Nam dùng một nhánh củi khô gạt hết tro vào góc tường rào rồi hai anh em đi về nhà.

Kỳ lạ thay, ngay đêm hôm đó, Nam ngủ một mạch từ mười giờ tối cho đến tận bảy giờ sáng hôm sau mà không hề mơ thấy con đường đất đỏ, bến đò hoang hay cô gái mặc áo bà ba xanh nữa. Nó thức dậy với tinh thần sảng khoái, ăn liền một lúc hai tô mì. Những ngày tiếp theo cho đến đúng ngày rằm tháng Bảy, giấc mơ đó hoàn toàn biến mất. Gia đình tôi ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, nghĩ rằng mọi chuyện đã được giải quyết êm đẹp bằng việc cúng kiếng.

Ba ngày sau ngày rằm tháng Bảy, tức là vào khoảng mười tám âm lịch.

Dì Út đi chợ sớm để mua đồ ăn sáng. Khi đi ngang qua đoạn kênh Đôi, cách nhà chúng tôi khoảng hai trăm mét, dì thấy người ta tụ tập đông nghịt dọc theo lan can bờ kè bê tông. Hai chiếc xe máy của lực lượng công an phường đỗ xịch bên lề đường, những sợi dây nhựa màu đỏ trắng được giăng ra để phong tỏa một khu vực dưới mép nước.

Dì Út tò mò đứng lại, hỏi thăm bà chín bán nước mía đầu hẻm đang đứng xem gần đó:

- Có chuyện gì dưới sông vậy chị Chín?

Bà Chín tặc lưỡi, ghé tai dì Út nói nhỏ:

- Người ta mới vớt được một cái xác trôi sông. Nghe đâu là một đứa con gái trẻ măng, xác trôi từ mạn trên về đây thì bị vướng vào mấy bụi lục bình sát bờ kè. Nhìn tội nghiệp lắm, chắc chết cũng cả tuần nay rồi, người trương phình lên hết cả.

Dì Út nghe vậy thì rùng mình, định quay xe đi về vì sợ ám khí. Nhưng đúng lúc đó, hai người dân phòng khiêng chiếc cáng có phủ tấm bạt màu xanh từ dưới mép kênh đi lên. Do bậc thềm đá trơn trượt, một người sẩy chân làm chiếc cáng nghiêng đi, tấm bạt xanh bị lệch sang một bên, để lộ ra phần nửa thân trên của cái xác.

Dì Út chết trân tại chỗ. Cái xác tuy đã bắt đầu phân hủy, nhưng vẫn thấy rõ đang mặc trên người một chiếc áo bà ba màu xanh lục nhạt. Trên mái tóc dài đen bết chặt vào khuôn mặt xám ngoét của người chết, vẫn còn kẹp nguyên một chiếc kẹp tóc bằng nhựa hình hoa mai màu trắng.

Dì Út run rẩy không bước nổi chân. Dì cố gắng đứng lại nghe ngóng thông tin từ mấy anh dân phòng đang lập biên bản hiện trường. Một người trong số họ đang kiểm tra chiếc ví da nhỏ chống nước được cột chặt vào thắt lưng của cái xác. Anh ta đọc to thông tin trên chiếc thẻ căn cước công dân tìm thấy bên trong để người ghi biên bản chép lại:

- Nạn nhân tên Nguyễn Thị Ngọc Mai, sinh năm 2000, quê quán Cai Lậy, Tiền Giang. Gia đình báo mất tích từ một tuần trước.

Dì Út nghe đến cái tên đó thì đầu óc quay cuồng, vội vàng dắt xe đi thẳng về nhà. Dì không dám kể cho Nam nghe chuyện này vì sợ nó bị hoảng loạn tinh thần. Nhưng điều khiến dì Út kinh hoàng nhất không dừng lại ở đó.

Chiều hôm đó, một người quen làm bên công an quận, vốn là bạn của dượng tôi, ghé nhà chơi và kể lại chi tiết vụ việc. Anh ta bảo khi khám nghiệm tử thi, ngoài giấy tờ tùy thân của cô gái tên Ngọc Mai đó, cảnh sát còn tìm thấy trong túi áo bà ba của cô ta một tấm ảnh thẻ cỡ ba nhân bốn của một nam sinh. Tấm ảnh đã bị thấm nước nhòe đi một chút, nhưng vẫn nhìn rõ gương mặt.

Đó chính là tấm ảnh thẻ của thằng Nam, tấm ảnh mà nó đã làm mất ở trường học từ ba tháng trước. Mặt sau của tấm ảnh có viết một dòng chữ bằng mực đỏ đã bị nhòe nước, nhưng vẫn đọc được ba chữ nguệch ngoạc:

- Đợi anh nhé.

Dì Út nghe xong chuyện chỉ biết âm thầm lên chùa xin một lá bùa hộ mệnh khác cho Nam đeo bên mình. Cho đến tận bây giờ, Nam vẫn hoàn toàn không biết gì về cái chết của cô gái tên Ngọc Mai, và cũng không ai giải thích được tại sao tấm ảnh của nó lại nằm trong túi áo của một người con gái chết trôi chưa từng một lần gặp mặt.

Chương khác

Xem thêm