24 Truyện Ma Dân Gian - Chương 4: Chương 004: Xương Dưới Ván Sàn

Mẹ tôi thường kể về những năm tháng bà sống ở Thành Đô. Hồi đó là những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khu phố nơi mẹ tôi ở không có những tòa nhà cao…

Nội dung chương

Mẹ tôi thường kể về những năm tháng bà sống ở Thành Đô. Hồi đó là những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khu phố nơi mẹ tôi ở không có những tòa nhà cao tầng như bây giờ. Khắp nơi toàn là nhà cấp bốn mái lợp ngói âm dương xám xịt, tường gạch mộc trát vôi đã bong tróc từng mảng lớn lộ ra lớp đất nện bên trong. Đường đi lối lại trong ngõ hẹp và tối, ngày mưa thì lầy lội đất bùn, ngày nắng thì bụi bay mù mịt. Mẹ tôi lúc ấy mới lên tám tuổi, suốt ngày cùng đám trẻ con trong xóm chạy nhảy khắp các ngõ ngách.

Căn nhà số 14 nằm ở cuối ngõ là nơi bỏ hoang lâu nhất. Căn nhà này có một gian buồng nhỏ nằm sâu phía trong cùng, cửa sổ bằng gỗ mục nhìn thẳng ra một rãnh nước thải hôi hám quanh năm đen ngòm. Người trong phố đồn đại căn nhà đó có dông, nên chủ cũ đã dọn đi từ lâu, khóa cửa để đấy cho nhện giăng tơ. Nhưng rồi một ngày giữa mùa thu năm đó, có một cặp vợ chồng già dọn đến ở.

Họ tên là ông cụ Vương và bà cụ Vương. Cả hai người đều đã ngoài sáu mươi tuổi, dáng vẻ khắc khổ, lưng còng rạp xuống. Hành lý họ mang theo chẳng có gì giá trị ngoài mấy cái hòm gỗ cũ kỹ đựng quần áo sờn rách và một vài chiếc chậu nhôm bóp méo. Vì nghèo nên họ mới phải thuê lại căn nhà hoang này với giá rẻ mạt.

Mẹ tôi nhớ rõ buổi sáng hôm sau khi họ dọn đến, bà cụ Vương sang nhà ngoại tôi mượn cái chổi tre để quét sân. Mặt bà cụ nhợt nhạt, hai quầng mắt thâm đen, da dẻ tái ngắt. Bà cụ đứng tựa vào cánh cổng tre nhà ngoại tôi, giọng run rẩy kể chuyện.

- Cháu chào bà ngoại ạ. Đêm qua nhà cháu bị chuyện lạ lắm, cháu sợ quá nên sang nhờ bà.

Ngoại tôi từ trong bếp bước ra, lau tay vào vạt áo rồi hỏi có chuyện gì. Bà cụ Vương nhìn quanh quất một lượt như sợ có ai nghe thấy, rồi ghé sát tai ngoại tôi nói nhỏ.

- Đêm qua, cả tôi và ông nhà tôi đều mơ thấy cùng một người.

Ngoại tôi ngạc nhiên hỏi người thế nào. Bà cụ Vương run run tả lại. Đó là một người đàn ông trung niên, mặc bộ quần áo vải thô màu xanh đen cũ kỹ, đầu đội chiếc mũ vải sờn. Người đó đứng ngay sát mép giường gỗ của hai ông bà, khuôn mặt tối đen không rõ nhân dạng, chỉ có hai hốc mắt sâu hoắm như hai cái hố không đáy. Người đó chỉ thẳng tay xuống nền đất dưới chân giường, cất giọng khàn đặc quát lớn.

- Cút đi, đây là chỗ của tao.

Bà cụ Vương kể rằng trong giấc mơ, bà muốn kêu cứu nhưng cổ họng nghẹn đắng, chân tay cứng đờ không thể cử động. Đến khi ông cụ Vương bên cạnh cũng ú ớ rồi giật mình tỉnh giấc, hai ông bà mới nhận ra họ cùng mơ thấy một người, cùng một câu nói và cùng một thời điểm.

Ngoại tôi nghe xong thì chép miệng, bảo chắc do hai ông bà tuổi cao, lại mới dọn đến chỗ ở mới nên lạ nhà, suy nghĩ nhiều mà sinh ra mộng mị. Ngoại khuyên bà cụ tối trước khi đi ngủ nên thắp một nén hương khấn vái thổ địa cầu bình an.

Nhưng chuyện không đơn giản như thế. Đêm thứ hai, rồi đêm thứ ba, đêm thứ tư liên tiếp trôi qua. Đêm nào ông cụ và bà cụ Vương cũng giật mình tỉnh giấc vào đúng canh ba, mồ hôi vã ra ướt đẫm áo. Người đàn ông mặc áo xanh đen kia vẫn đứng ở vị trí cũ, vẫn chỉ tay xuống đất và lặp lại đúng một câu nói đó với giọng điệu ngày càng giận dữ hơn. Có đêm, ông cụ Vương còn cảm thấy như có một bàn tay lạnh ngắt bóp chặt lấy cổ chân mình lôi đi.

Sức khỏe bà cụ Vương vốn đã yếu, lại thêm mất ngủ kéo dài và nỗi sợ hãi đè nặng lên tâm trí. Chỉ sau mười ngày dọn đến, bà cụ đổ bệnh nặng, nằm liệt giường không ăn uống được gì. Ông cụ Vương bổ thuốc bắc cho bà uống nhưng bệnh tình không hề thuyên giảm. Đến tối ngày thứ mười lăm, bà cụ Vương trút hơi thở cuối cùng trong căn buồng tối tăm ẩm ướt đó.

Cái chết của bà cụ khiến cả khu phố xôn xao. Người ta kháo nhau căn nhà đó có ma ám nặng. Ông cụ Vương đau đớn và sợ hãi đến mức không dám bước chân vào căn buồng đó nữa. Ông kê một chiếc chõng tre cũ ra nằm ngay sát cửa ra vào gian ngoài, mặc cho gió mùa đông bắc lùa qua khe cửa lạnh buốt xương.

Vài ngày sau đám tang, người con trai duy nhất của họ tên là Vương Đại Dũng trở về. Đại Dũng ngoài ba mươi tuổi, làm công nhân xúc than ở một lò gạch ngoài rìa thành phố. Anh ta có thân hình vạm vỡ, bả vai rộng, tính tình cộc cằn và đặc biệt là không tin vào ba chuyện ma quỷ. Vừa về đến nhà, thấy bố mình nằm co quắp trên chiếc chõng tre ngoài hiên, Đại Dũng liền nổi giận.

- Bố vào phòng mà nằm, sao cứ nằm ngoài này cho đổ bệnh ra? Bố muốn đi theo mẹ luôn hay sao?

Ông cụ Vương lắc đầu quầy quậy, tay run rẩy chỉ vào gian buồng tối om phía trong.

- Tao không vào đâu. Cái phòng đó có ma. Mẹ mày chết cũng vì cái buồng ấy đấy. Đêm nào người ta cũng hiện về đuổi đi.

Đại Dũng khịt mũi một cái rõ to, giọng đầy vẻ khinh khỉnh.

- Bố toàn nói nhảm. Thời buổi này làm gì có ma với quỷ. Mẹ mất là do bệnh phổi, bố đừng có đổ lỗi cho căn phòng. Để tối nay con ngủ trong đó cho bố xem có con ma nào dám đến đuổi con không.

Nói xong, Đại Dũng không nghe lời khuyên ngăn của bố, tự mình dọn dẹp đống chăn màn cũ vào gian buồng trong. Anh ta trải một chiếc chiếu cói lên chiếc giường gỗ, đặt một cây đèn dầu trên chiếc hòm gỗ sát vách tường rồi chốt cửa lại.

Đêm hôm đó, gió mùa thổi mạnh ngoài cửa sổ làm những cành cây bạch đàn đập vào vách tường kêu lạch cạch. Đại Dũng nằm ngửa, gác hai tay lên trán. Anh ta tự nhủ mình là người có sức khỏe, chẳng việc gì phải sợ những lời đồn thổi nhảm nhí của người già. Đầu óc mệt mỏi sau chuyến đi dài làm anh ta nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Đến nửa đêm, khi đốm lửa của cây đèn dầu đã lụi dần chỉ còn một vệt đỏ mờ, Đại Dũng thấy toàn thân nặng trĩu. Cảm giác như có một tảng đá nặng hàng trăm cân đè chặt lên ngực làm anh ta thở không ra hơi. Đại Dũng cố gắng mở mắt ra.

Ngay sát mép giường, một bóng đen đang đứng sừng sững. Đó là một người đàn ông mặc bộ quần áo vải thô màu xanh đen. Khuôn mặt gã tái nhợt, da thịt bủng beo như người chết trôi lâu ngày dưới nước, hai hốc mắt sâu hoắm tối om. Gã cúi gập người xuống, khuôn mặt lạnh ngắt chỉ cách mặt Đại Dũng chưa đầy một gang tay. Hơi thở của gã mang theo mùi hôi thối của thịt thối rữa phả thẳng vào mũi Đại Dũng.

Gã đàn ông vươn bàn tay xương xẩu, những móng tay đen xì đầy đất cát ra nắm chặt lấy bả vai Đại Dũng, giật mạnh một cái. Gã rít lên qua kẽ răng.

- Đứng dậy, đây là chỗ của tao.

Đại Dũng muốn hét lên, muốn vung nắm đấm vào mặt gã nhưng toàn thân anh ta hoàn toàn tê liệt. Phải mất một lúc lâu, dùng hết sức bình sinh, Đại Dũng mới gầm lên một tiếng rồi bật dậy.

Căn phòng trống rỗng. Đèn dầu đã tắt từ bao giờ. Chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ mục và tiếng tim anh ta đập liên hồi trong lồng ngực. Đại Dũng sờ lên bả vai, chỗ gã đàn ông nắm vào vẫn còn cảm giác ê buốt như vừa bị áp một cục đá lạnh vào da thịt. Anh ta ngồi thẫn thờ trên giường cho đến khi trời tờ mờ sáng.

Sáng hôm sau, Đại Dũng bước ra khỏi phòng với khuôn mặt xám ngoét. Anh ta không nói với bố lời nào, đi thẳng ra góc sân lấy chiếc xà beng bằng sắt dài và một chiếc xẻng xúc đất.

Đại Dũng quay lại căn buồng, bắt đầu dùng xà beng cạy những tấm ván sàn bằng gỗ thông đã xỉn màu vì năm tháng. Tiếng gỗ gãy răng rắc vang lên khô khốc trong buổi sớm tĩnh mịch của khu phố. Ông cụ Vương đứng ở cửa buồng, hai tay bám chặt vào khung cửa, mắt mở to nhìn con trai.

Mẹ tôi lúc đó vừa xách làn đi chợ về cùng bà ngoại, nghe thấy tiếng động ồn ào bên nhà họ Vương liền chạy sang xem. Mấy người hàng xóm xung quanh cũng tò mò kéo đến, đứng chật kín ngoài cửa sổ nhìn vào.

Dưới lớp ván sàn gỗ là nền đất nện màu đen ẩm ướt, bốc lên mùi hôi mốc nồng nặc của đất lâu ngày không thấy ánh sáng mặt trời. Đại Dũng cởi trần, mồ hôi nhễ nhại, hai tay cầm xẻng xúc từng xẻng đất đen đổ sang một bên. Anh ta đào rất nhanh, khuôn mặt đăm đăm không lộ chút cảm xúc.

Được khoảng ba gang tay, lưỡi xẻng sắt va phải một vật cứng dưới lòng đất, phát ra một tiếng "cộp" khô khốc.

Đại Dũng dừng tay. Anh ta vứt xẻng sang một bên, quỳ rạp xuống nền đất, dùng hai bàn tay không cào bới lớp đất đen xung quanh vật cứng đó. Những người đứng xem ngoài cửa sổ nín thở dõi theo. Mẹ tôi lúc đó còn nhỏ, tò mò ghé mắt qua khe cửa sổ gỗ mục để nhìn.

Lớp đất đen dần được gạt ra, lộ ra một khúc xương màu trắng xám, xỉn màu vì ngấm nước ngầm. Đại Dũng tiếp tục dùng tay bới rộng ra xung quanh. Càng bới, khuôn mặt anh ta càng biến sắc.

Dưới nền đất ẩm ướt kia không phải chỉ có một khúc xương đơn lẻ. Đó là cả một bộ xương người hoàn chỉnh nằm co quắp. Bộ xương không được liệm trong quan tài, cũng không có quần áo tử tế, chỉ được bọc sơ sài trong một tấm vải thô màu xanh đen đã mục nát gần hết, dính chặt vào xương cốt. Màu xanh đen của tấm vải mục đó giống hệt màu áo của người đàn ông trong giấc mơ của ba người nhà họ Vương.

Đám đông đứng ngoài cửa sổ đồng loạt la lên một tiếng kinh hãi. Mấy người phụ nữ nhanh chóng lấy tay che mắt đám trẻ con lại, trong đó có mẹ tôi, rồi kéo lùi ra xa. Ông cụ Vương đứng ở cửa buồng ngã quỵ xuống đất, miệng lẩm bẩm cầu xin tha thứ.

Đại Dũng đứng dậy, hai bàn tay dính đầy đất đen và vụn xương khô. Anh ta nhìn chằm chằm vào hộp sọ người nằm nghiêng dưới hố đất, hai hốc mắt sâu hoắm của hộp sọ như đang nhìn ngược lại anh ta.

Ngay trưa hôm đó, người dân trong khu phố giúp ông cụ Vương đi mời một thầy đạo sĩ ở phố bên cạnh đến. Thầy đạo sĩ mang theo một chiếc tiểu sành mới mua, một bó hương lớn và rất nhiều tiền vàng mã.

Thầy đạo sĩ đứng bên hố đất, nhìn bộ xương rồi lắc đầu thở dài. Thầy bảo người này lúc sống bị sát hại rồi chôn giấu xác ngay dưới nền nhà, linh hồn oan uất không thể siêu thoát được. Vì xác bị đè dưới ván sàn, người sống lại nằm ngủ ngay phía trên nên linh hồn gã mới hiện về đòi lại chỗ nằm của mình.

Đại Dũng cùng vài thanh niên trong xóm cẩn thận nhặt từng mẩu xương cốt dưới hố đất xếp vào trong chiếc tiểu sành. Thầy đạo sĩ bày bàn cúng ngay giữa gian buồng, thắp hương khấn vái và đốt rất nhiều quần áo, tiền vàng mã cho người khuất mặt khuất mày. Sau đó, họ mang chiếc tiểu sành ra nghĩa trang phía tây thành phố, tìm một khoảng đất trống chôn cất cẩn thận.

Sau khi bộ xương được đưa đi, Đại Dũng lấp hố đất lại rồi lát lại ván sàn. Từ đó trở đi, ông cụ Vương và Đại Dũng ngủ trong căn buồng đó không còn mơ thấy người đàn ông mặc áo xanh đen kia nữa. Căn phòng trở lại bình thường, không còn hơi lạnh lẽo buốt giá mỗi khi đêm về.

Mẹ tôi kể, câu chuyện tưởng chừng đã kết thúc êm đẹp ở đó. Thế nhưng, ba năm sau, khi nhà nước có chính sách quy hoạch lại khu phố cổ, toàn bộ dãy nhà cấp bốn cũ kỹ bị giải tỏa để xây dựng khu tập thể mới.

Khi đội thợ xây dùng máy xúc ủi đổ vách tường ngăn của căn buồng nhà họ Vương, phần móng nhà sụt xuống lộ ra một cái hố sâu hơn. Người ta tìm thấy dưới vách tường đó, sâu hơn vị trí bộ xương cũ khoảng nửa mét, một chiếc hòm sắt nhỏ rỉ sét hoen ố.

Khi cạy nắp hòm sắt ra, bên trong hoàn toàn không có tiền bạc hay đồ trang sức giá trị. Thứ nằm trong hòm chỉ là một chiếc kéo bằng sắt rỉ đen ngóm, lưỡi kéo vẫn còn dính những sợi tóc dài của phụ nữ đã hóa khô, cùng một lá bùa màu đỏ vẽ những đường ngoằn ngoèo bằng mực đen đã phai màu gần hết.

Người ta không biết chiếc kéo quấn tóc và lá bùa đó có liên quan gì đến người đàn ông mặc áo xanh đen bị chôn dưới ván sàn hay không. Chỉ biết rằng sau khi chiếc hòm sắt đó bị đào lên, người thợ lái máy xúc đêm hôm đó đột nhiên lên cơn sốt cao, miệng liên tục lảm nhảm đòi trả lại chiếc kéo, rồi cứ thế chạy thẳng ra rãnh nước thải cuối ngõ cắm đầu xuống mà chết.

Chương khác

Xem thêm