24 Truyện Ma Dân Gian - Chương 8: Chương 008: Chuyến Xe Trắng

Tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe chuyện này một cách nghiêm túc, ngoại trừ một lần duy nhất nói với mẹ tôi hồi tôi còn học cấp hai. Kết quả là tôi bị mẹ…

Nội dung chương

Tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe chuyện này một cách nghiêm túc, ngoại trừ một lần duy nhất nói với mẹ tôi hồi tôi còn học cấp hai. Kết quả là tôi bị mẹ mắng cho một trận lôi đình, bảo tôi ăn nói bậy bạ, rồi cấm tiệt không cho tôi nhắc lại nữa. Nhưng chuyện tôi đã thấy năm đó là hoàn toàn có thật. Đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy gai ốc nổi khắp người.

Hồi đó là khoảng cuối những năm chín mươi, tôi đang học lớp tám tại một trường trung học ở quận Vũ Hầu, Thành Đô. Áp lực thi cử thời đó rất lớn, học sinh chúng tôi phải tham gia các buổi tự học tối tại trường. Lớp học của chúng tôi nằm trên tầng ba của một dãy nhà cũ kỹ, sàn nhà lát gạch bông đã mòn vẹt. Mỗi buổi tối, sau khi thầy giáo chủ nhiệm bước ra khỏi lớp, cả phòng học lập tức vang lên những tiếng thu dọn sách vở ồn ào. Tiếng chân bàn ghế gỗ kéo lê trên sàn nhà xen lẫn tiếng cười đùa của đám học trò tinh nghịch.

Thường thì buổi tự học kết thúc vào khoảng chín giờ rưỡi tối. Đường về nhà tôi có một đoạn phải đi qua con hẻm nhỏ nằm ngay bên cạnh Nhạc viện Thành Đô. Những người thuộc thế hệ trước sống ở Thành Đô chắc chắn đều biết rõ con hẻm này. Thời điểm đó, ngay góc hẻm có một nhà tang lễ cũ kỹ. Nơi này ban ngày vốn đã vắng vẻ, ban đêm lại càng âm u, lạnh lẽo. Người dân quanh vùng thường rỉ tai nhau những câu chuyện kỳ quái về những bóng người đi lại dọc theo bức tường xám vào lúc nửa đêm, nên chẳng ai muốn đi qua đây nếu không có việc cần thiết.

Nhưng đám học sinh cấp hai chúng tôi lúc đó đang tuổi nghịch ngợm, lại hay thích tìm cảm giác mạnh. Tôi và cậu bạn cùng lớp tên là A Vĩ thường rủ nhau đạp xe đi đường này để thử lòng dũng cảm. Con hẻm đó thực ra là một lối đi tắt, giúp chúng tôi tiết kiệm được mười phút đạp xe so với việc đi vòng qua đại lộ chính đông đúc.

Hôm đó là một tối mùa thu, trời se lạnh và có sương mù nhẹ đặc trưng của vùng bồn địa Tứ Xuyên. Lớp sương mù mỏng bao phủ khắp các ngõ ngách, làm cho những ánh đèn đường trở nên nhạt nhòa. Sau khi tiếng chuông tan học vang lên, tôi và A Vĩ nhanh chóng dắt hai chiếc xe đạp hiệu Phượng Hoàng ra khỏi cổng trường. Chúng tôi vừa đạp xe thong thả vừa tán dóc đủ thứ chuyện trên đời, từ những cuốn truyện tranh mới mẻ cho đến những bài kiểm tra toán khó nhằn.

Khi rẽ vào con hẻm bên cạnh Nhạc viện, không gian xung quanh lập tức tối sầm lại. Ánh đèn đường ở khu vực này rất yếu, bị những tán lá cây ngô đồng rậm rạp che khuất gần hết. Bức tường gạch xám của nhà tang lễ chạy dọc theo con hẻm, bên trên chăng đầy những sợi dây leo khô héo. Bình thường, từ các tầng cao của Nhạc viện đôi khi vẫn vọng ra tiếng đàn dương cầm hoặc tiếng kéo vĩ cầm của các sinh viên tập muộn. Nhưng đêm nay hoàn toàn im ắng, chỉ có tiếng gió rít qua những kẽ lá khô. Mùi nhang khói cháy dở thoang thoảng trong gió lạnh, thỉnh thoảng chúng tôi còn nhìn thấy những mảnh giấy tiền vàng mã sót lại ở các góc tường, bị gió thổi bay lảo đảo trên mặt đất nhựa ẩm ướt.

Tôi và A Vĩ cố tình đạp xe thật chậm. Tiếng xích xe đạp kêu lạch cạch vang vọng trong không gian tĩnh mịch. A Vĩ cố tỏ ra can đảm bằng cách huýt sáo một điệu nhạc đang thịnh hành, nhưng tôi biết cậu ta cũng đang run vì cậu ta cứ chốc chốc lại ngoảnh đầu nhìn lại phía sau để kiểm tra xem có ai bám theo hay không.

Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến khi chúng tôi đi gần hết con hẻm để chuẩn bị rẽ ra đại lộ lớn bên ngoài. Đại lộ này có hệ thống đèn đường màu vàng cam ấm áp, chiếu sáng rõ ba làn đường dành cho xe cộ đang đông đúc qua lại.

Vừa đạp xe ra tới đầu hẻm, tôi bỗng nhìn thấy ở làn đường dành cho ô tô bên tay trái có một chiếc xe khách mười sáu chỗ. Chiếc xe này trông vô cùng cũ nát, vỏ xe loang lổ những vết gỉ sét nhưng lại được sơn một màu trắng toát. Tôi cảm thấy rất lạ. Vào thời điểm đó, chính quyền Thành Đô đã ra lệnh cấm các loại xe khách cũ nát chạy bằng dầu diesel hoạt động trong khu vực nội thành để giảm thiểu ô nhiễm. Những chiếc xe buýt hay xe khách chạy trong thành phố lúc bấy giờ đều phải dán đầy quảng cáo đủ màu sắc trên thân xe. Thế nhưng, chiếc xe này lại trơn bóng một màu trắng của vôi, không có bất kỳ dòng chữ hay biển số xe nào. Nắp ca-pô phía trước móp méo, hai chiếc cần gạt nước trên kính chắn gió đã bị gãy rụng từ lâu.

Tôi tò mò nên cứ vừa đạp xe vừa nhìn chằm chằm vào chiếc xe đó. Khoảng cách giữa tôi và nó chỉ chừng bảy tám mét. Chiếc xe di chuyển rất chậm, gần như là trôi đi trên mặt đường nhựa chứ không phải đang chạy bằng động cơ. Không hề có khói xe xả ra từ ống bô phía sau, dù chiếc xe trông rất tàn tạ.

Điểm kỳ quái nhất chính là ánh sáng bên trong xe. Đèn đường bên ngoài chiếu xuống một màu vàng ấm, nhưng không gian bên trong chiếc xe khách kia lại rực lên một thứ ánh sáng trắng muốt, lạnh lẽo. Thứ ánh sáng đó sáng đến mức chói mắt, giống như ánh đèn huỳnh quang trong các phòng phẫu thuật hay nhà xác, tạo nên một sự tương phản rõ rệt với bóng tối xung quanh. Nó làm nổi bật mọi thứ bên trong cabin xe, khiến tôi có thể nhìn rõ từng chi tiết nhỏ nhất.

Nhờ luồng sáng trắng đó, tôi nhìn rõ được cấu trúc bên trong xe. Chiếc xe chở đầy người. Những hành khách ngồi trên ghế đều quay lưng về phía tôi hoặc nhìn thẳng về phía trước. Tôi cố trạng nhìn kỹ mặt họ nhưng không thể nào thấy rõ các đường nét. Gương mặt của họ trông nhạt nhòa, xám xịt giống như được phủ một lớp tro bếp dày. Điều đáng sợ là tất cả bọn họ đều ngồi im phăng phắc, không một ai cử động. Không có ai quay sang trò chuyện, không có ai gật gù buồn ngủ, cũng không có ai dịch chuyển tư thế. Họ ngồi thẳng đơ, cứng ngắc giống như những bức tượng sáp được xếp ngay ngắn trên các hàng ghế. Họ mặc những bộ quần áo đại trà màu xanh đại dương hoặc màu xám tro, kiểu trang phục rất phổ biến từ những thập niên trước.

Tôi nhìn lên phía cabin lái. Người tài xế đang đặt hai tay lên vô lăng. Tay của ông ta nhợt nhạt, các ngón tay gầy guộc bám chặt vào vành vô lăng đen đúa. Đầu ông ta cũng hướng thẳng về phía trước, không hề liếc nhìn gương chiếu hậu hay quay sang hai bên để quan sát dòng xe cộ xung quanh.

Tôi cảm thấy tay chân mình bắt đầu bủn rủn. Chiếc xe khách chạy rất chậm, tiếng động cơ của nó phát ra những âm thanh rên rỉ, đứt quãng giống như một cỗ máy đã rỉ sét hoàn toàn. Cửa kính xe đóng chặt, nhưng tôi vẫn ngửi thấy một mùi ẩm mốc, lạnh lẽo thoát ra từ hướng đó.

Đang mải nhìn theo chiếc xe, tôi bỗng nghe thấy tiếng A Vĩ gọi lớn từ phía sau:

- Này, cậu nhìn đi đâu mà đờ người ra thế? Đạp nhanh lên, sắp muộn giờ cơm rồi!

Tôi giật mình, quay đầu lại trả lời:

- Không, tớ đang nhìn chiếc xe khách kia thôi.

Nói xong, tôi quay đầu lại hướng chiếc xe khách trắng để chỉ cho A Vĩ thấy. Nhưng ngay khi mắt tôi hướng về phía làn đường đó, tôi liền đứng hình.

Chiếc xe khách màu trắng đã biến mất.

Lúc đó, tôi lập tức phanh gấp xe đạp lại, hai chân chống xuống đất, mắt mở to nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt.

Vị trí mà chiếc xe khách vừa đỗ nằm ở phần đường có rào chắn sắt khép kín hoàn toàn để phân chia làn xe chạy. Rào chắn này rất cao, kéo dài liên tục hơn hai trăm mét mà không có bất kỳ lối rẽ hay ngã tư nào để xe có thể thoát ra. Hơn nữa, lúc đó đang là giờ cao điểm buổi tối, xe cộ phía trước đang ùn tắc kéo dài, các phương tiện chỉ có thể nhích từng chút một. Một chiếc xe khách cũ nát như vậy không thể nào tăng tốc đột ngột để biến mất trong vòng hai giây ngắn ngủi khi tôi quay đầu lại. Nó cũng không thể vượt qua hàng rào sắt để rẽ sang làn đường khác.

Tôi cảm thấy da đầu mình tê dại, mồ hôi lạnh bắt đầu toát ra đầy lòng bàn tay. Hướng chạy của chiếc xe khách trắng lúc nãy chính là hướng đi thẳng vào lối cổng phụ dẫn vào nhà tang lễ cũ.

Tôi quay sang hỏi A Vĩ, giọng run run:

- A Vĩ, cậu có nhìn thấy chiếc xe khách mười sáu chỗ màu trắng vừa chạy qua đây không? Cái chiếc xe cũ nát, bên trong bật đèn sáng trưng ấy?

A Vĩ nhìn tôi bằng ánh mắt đầy ngơ ngác, cậu ta tặc lưỡi đáp:

- Cậu nói điên khùng gì thế? Từ lúc ra khỏi hẻm đến giờ tớ đi ngay cạnh cậu, làm gì có chiếc xe khách nào. Toàn là xe buýt hai tầng với xe taxi màu xanh thôi. Cậu hoa mắt rồi à?

Tôi lắc đầu quầy quậy, cố giải thích:

- Không thể nào! Tớ nhìn thấy rõ ràng mà. Chiếc xe đó sơn trắng toát, người ngồi bên trong đông lắm, nhưng ai nấy đều ngồi im không nhúc nhích. Nó vừa mới ở ngay đây thôi!

A Vĩ nghe tôi nói xong thì mặt hơi biến sắc. Cậu ta nhìn quanh con đường tấp nập xe cộ, rồi nhìn về phía bức tường gạch của nhà tang lễ nằm chìm trong bóng tối cách đó không xa. Cậu ta nuốt nước bọt, vội vàng nhấn bàn đạp xe:

- Đừng dọa tớ nữa. Nơi này âm khí nặng lắm, mình nên quay về thôi.

Tôi không nói thêm được lời nào, vội vã đạp xe đuổi theo A Vĩ. Suốt chặng đường về nhà, đầu óc tôi quay cuồng với hình ảnh những bóng người xám xịt ngồi bất động trong ánh sáng trắng lạnh lẽo kia. Đó chắc chắn không phải là ảo giác do tôi mệt mỏi. Tôi đã nhìn chiếc xe đó rất lâu, nhìn từng chiếc lốp xe bám đầy bùn đất, nhìn cả những vết sơn bong tróc trên thành xe. Mọi chi tiết đều chân thực đến mức đáng sợ.

Khi về đến nhà, tôi vẫn chưa hết sợ hãi. Trong bữa ăn tối, tôi đem chuyện này kể cho mẹ nghe, hy vọng mẹ sẽ giải thích hoặc an ủi tôi. Nhưng vừa nghe tôi nhắc đến chiếc xe khách trắng và nhà tang lễ, mặt mẹ tôi liền đanh lại. Bà đặt mạnh đôi đũa xuống bàn, trừng mắt nhìn tôi rồi mắng lớn:

- Con nít con nôi không lo học hành, suốt ngày nói bậy nói bạ! Từ nay về sau cấm con đi qua con hẻm đó vào buổi tối nghe chưa! Nếu còn nhắc lại chuyện này một lần nữa, mẹ sẽ phạt con đứng ngoài sân cả đêm đấy!

Thấy mẹ nổi giận lôi đình như vậy, tôi sợ hãi cúi đầu ăn cơm và không bao giờ dám hé răng nửa lời về chuyến xe đêm đó nữa. Mẹ tôi sau đó cũng nhanh chóng thu dọn bát đĩa rồi đi vào buồng trong, nhưng tôi nhận ra tay bà run bần bật khi cầm chiếc khay đựng ấm trà.

Đêm hôm đó, tôi nằm trên chiếc giường lò xo cũ, trằn trọc không sao ngủ được. Căn phòng tối om, chỉ có ánh trăng mờ ảo lọt qua khe cửa sổ. Tai tôi cứ văng vẳng tiếng động cơ rên rỉ của chiếc xe khách trắng kia. Qua bức tường mỏng ngăn cách với phòng của bố mẹ, tôi loáng thoáng nghe thấy tiếng thì thầm của mẹ nói với bố. Giọng bà có vẻ rất lo lắng, bà nhắc đến một tai nạn cũ xảy ra nhiều năm trước và khuyên bố tôi ngày mai đi làm nên tránh con hẻm đó ra. Bố tôi chỉ thở dài rồi bảo bà đi ngủ sớm đi. Tôi trùm kín chăn lên đầu, cố gắng xua đi hình ảnh những gương mặt xám xịt trong đầu nhưng không thành công.

Nhiều năm trôi qua, nhà tang lễ cũ bên cạnh Nhạc viện Thành Đô đã bị dỡ bỏ để nhường chỗ cho các tòa nhà cao tầng hiện đại. Con hẻm nhỏ năm xưa giờ cũng được mở rộng, lắp đặt đèn đường cao áp sáng trưng suốt đêm. A Vĩ sau này chuyển trường rồi đi nơi khác sinh sống, chúng tôi cũng mất liên lạc.

Thế nhưng, thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi về những người ngồi trên chuyến xe đó. Họ là ai, và chiếc xe đó rốt cuộc đã đưa họ đi về đâu trong đêm tối lạnh lẽo của Thành Đô năm ấy. Mẹ tôi phản ứng dữ dội như vậy, liệu có phải bà cũng từng nghe nói hoặc nhìn thấy một chuyện tương tự trước đây hay không. Câu trả lời đó, có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết được.

Mãi sau này, khi tôi đã trưởng thành và đi làm, tôi mới tình cờ nghe một người bảo vệ già từng làm việc ở nhà tang lễ cũ kể lại một chuyện. Ông ấy nói rằng vào những năm tám mươi, có một chuyến xe khách chở công nhân đi ca đêm của một nhà máy dệt đã gặp tai nạn nghiêm trọng lao xuống sông ngay gần khu vực đó. Chiếc xe được trục vớt lên và tạm thời để ở bãi đất trống phía sau nhà tang lễ trước khi bị tháo dỡ. Đó là một chiếc xe mười sáu chỗ, sơn màu trắng.

Tôi nghe xong câu chuyện của ông lão mà người lạnh toát. Tôi nhớ lại đêm hôm đó, chiếc xe khách không hề có biển số, và những người ngồi bên trong đều mặc loại trang phục bảo hộ lao động màu xanh xám của các nhà máy cũ. Họ vẫn ngồi đó, bất động, trong thứ ánh sáng trắng lạnh lẽo không thuộc về thế giới này, lặng lẽ đi về phía nhà tang lễ cũ kỹ bên cạnh Nhạc viện.

Chương khác

Xem thêm