Âm Binh Pháo Trận - Chương 1: Tiếng Pháo Gọi Hồn
Chương 1: Tiếng Pháo Gọi Hồn Nước sông Tranh vào mùa này chảy rất chậm. Dòng nước đỏ quạch, đặc bùn, lờ đờ trườn qua vạn chài thượng nguồn rồi đổ xuống…
Nội dung chương
Chương 1: Tiếng Pháo Gọi Hồn
Nước sông Tranh vào mùa này chảy rất chậm. Dòng nước đỏ quạch, đặc bùn, lờ đờ trườn qua vạn chài thượng nguồn rồi đổ xuống hạ lưu Vạn Cát. Gió chướng thổi hun hút trong lòng hẻm, mang theo hơi sương muối và mùi bùn non bị xới lên từ đáy sông.
Căn nhà ngói ba gian của nhà Khải nằm sát mép nước. Mái ngói âm dương đã sụp một góc, vách gỗ mục ăn sát vào bờ đất lở. Đám tang của ông nội anh diễn ra lặng lẽ đến nghẹn người.
Không có kèn trống bát âm. Không có tiếng khóc hờ của họ hàng. Lối xóm cũng chẳng ai dám bước qua cổng. Gian nhà ngoài chỉ đặt một chiếc quan tài gỗ tạp quét sơn đỏ, bốn góc kê trên bốn chiếc ghế tre đực. Trước quan tài là bàn thờ tạm, một bát nhang mới cắm, hai cây đèn dầu hao, mấy đĩa trầu cau và chén cơm úp quả trứng luộc.
Mùi dầu hỏa quyện với mùi gỗ ẩm, mùi nhang rẻ tiền và mùi áo liệm mới giặt bằng nước lá bưởi. Tất cả quẩn lại dưới mái nhà thấp, khiến ai đứng lâu cũng thấy tức ngực.
Bà Nhã, mẹ Khải, ngồi bệt bên chậu than ở góc nhà. Mặt bà xám bệch, hai bàn tay gầy chốc chốc lại run lên khi gắp vàng mã bỏ vào lửa. Bé Linh, em gái Khải, mới mười tuổi, nép sát vào người mẹ. Đôi mắt con bé đỏ hoe, cứ chằm chằm nhìn chiếc quan tài đang rịn nhựa ở mấy đường ván ghép.
Khải đứng canh đầu quan tài. Anh hai mươi mốt tuổi, vai rộng, da sạm vì nắng gió sông nước. Từ lúc ông nội tắt thở đến giờ, anh chưa ăn được miếng nào. Môi anh khô nứt, hai mắt thâm quầng vì thức trắng.
Cụ Nguyễn Khoa Thiện trút hơi thở cuối cùng vào đúng lúc triều cường lên đỉnh. Khi liệm, mắt cụ mở trừng trừng, hai bàn tay co quắp, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến bật máu. Khải phải vuốt mắt cho ông ba lần. Đến lần thứ ba, mí mắt cụ mới khép hờ, nhưng khóe miệng vẫn méo xệch, để lộ hàm răng nghiến chặt.
Dân làng Vạn Cát kháo nhau rằng cái chết của cụ Thiện là quả báo với thần sông. Cả đời cụ làm nghề đốt pháo đất. Nhưng pháo của cụ không dùng trong hội làng, không đốt ngày tết, cũng không đem bán cho trẻ con chơi. Những bánh pháo ấy chỉ được đem ra vào mấy đêm nước sông Tranh chuyển màu đỏ đục. Người già trong làng nói cụ Thiện dùng tiếng pháo để nuôi ma dưới nước.
Bà Nhã ngước nhìn Khải, giọng khàn đặc.
"Khải, con châm thêm dầu vào đèn. Đừng để lửa tắt. Đêm nay là đêm thứ ba sau khi ông con mất. Hồn người chết còn quanh quẩn trong nhà. Đèn tắt thì ông không tìm được lối về bàn thờ."
Khải lặng lẽ bước đến bàn thờ tạm, nhấc chai dầu hỏa rót thêm vào chiếc đèn bên trái. Ngọn lửa bùng lên, soi rõ di ảnh ông nội. Trong ảnh, cụ Thiện mặc áo the đen, mắt nhìn thẳng, hai gò má hóp sâu. Khải nhìn tấm ảnh mà ngực nặng trĩu.
Chiếc đồng hồ quả lắc treo trên cột cái bỗng gõ nhịp.
Coong.
Coong.
Mười hai tiếng chuông đổ đều trong căn nhà vắng. Tiếng cuối cùng vừa dứt, từ phía bãi tha ma sát mép sông Tranh, cách nhà Khải chừng hai trăm mét, một tiếng nổ đanh gọn vang lên.
Đoàng!
Mái ngói rung bần bật. Bụi đất trên xà nhà rơi xuống mặt quan tài lấm tấm. Bé Linh khóc ré, ôm chặt cổ mẹ. Bà Nhã chết lặng, chiếc kẹp tre gắp vàng mã tuột khỏi tay, rơi vào chậu than đỏ.
Khải đứng sững. Tai phải anh ù đặc. Tiếng pháo ấy không giống pháo tết. Nó trầm, nặng, như có ai nện khúc gỗ lớn xuống lòng đất ướt rồi âm vang dội ngược từ lòng sông lên.
Tiếng nổ thứ nhất chưa tan hết trong sương, tiếng thứ hai đã vang lên.
Đoàng!
Ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao mạnh rồi tắt phụt. Gian nhà tối sầm, chỉ còn ánh đỏ yếu ớt từ chậu than. Gió từ phía sông lùa qua khe cửa, đem theo mùi lưu huỳnh khét lẹt lẫn mùi bùn thối. Nước sông Tranh vỗ oàm oạp vào bờ đất dưới hiên, dồn dập hơn mọi đêm.
Bà Nhã run rẩy, môi mấp máy nhưng không thành tiếng.
Rồi tiếng pháo thứ ba xé toạc màn đêm.
Đoàng!
Lần này, tiếng nổ dội thẳng vào đầu Khải. Thái dương anh đau nhói. Cùng lúc đó, ngoài sân vang lên tiếng động lạ.
Sột soạt.
Sột soạt.
Tiếng bước chân kéo lê trên nền đất ướt. Mỗi nhịp nặng nề, chậm chạp, kèm tiếng bùn bị ép dưới gót.
"Mẹ... có người vào sân nhà mình," bé Linh mếu máo, tay chỉ về phía cửa chính.
Bà Nhã ôm ghì con gái, miệng lẩm nhẩm đọc kinh cầu an. Nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Bà biết ba tiếng pháo ấy báo hiệu chuyện gì. Ở làng Vạn Cát, ba tiếng pháo nổ liền ngoài bãi tha ma lúc nửa đêm là lệnh gọi âm binh.
Khải với tay lấy chiếc vồ gỗ dùng đóng cọc thuyền dựng ở góc cột. Anh bước đến cửa chính, mắt dán vào khe hở giữa hai tấm ván ghép.
Sương muối phủ trắng sân. Ánh trăng non bị mây che, chỉ rọi xuống một vệt bạc mỏng trên nền gạch rêu. Khải nhìn thấy những vệt bùn đang hiện ra.
Một hàng dấu chân từ phía ngõ ngoài in dần trên sân gạch.
Không có bóng người.
Chỉ có dấu chân bùn đỏ, ướt sũng, từng cái một xuất hiện trên mặt đất. Mỗi dấu chân to hơn chân người thường, ngón bè rộng, dính đầy rong mục và vụn vỏ ốc sông. Bùn trong lòng dấu chân sủi bọt lăn tăn, bốc mùi tanh của xác cá chết lâu ngày.
Sột soạt.
Sột soạt.
Hàng dấu chân đi qua sân, tiến thẳng về bậc thềm nhà Khải.
Khải siết chặt cán vồ. Các đốt ngón tay trắng bệch. Anh muốn gọi mẹ và em lùi vào buồng trong, nhưng cổ họng nghẹn cứng. Trước mặt anh, hàng dấu chân dừng lại ngay sát cửa.
Cánh cửa gỗ rung lên.
Những tiếng cào sột soạt vang trên mặt ván mục. Âm thanh khô và nhọn, như đầu xương tay quệt vào gỗ. Từng khe cửa rung lắc, bụi mục rơi xuống nền đất nện.
Đúng lúc ấy, từ dưới gầm quan tài của cụ Thiện vang lên một tiếng khô khốc.
Cộc!
Tiếng kim loại rơi xuống nền đất.
Khải giật mình quay phắt lại. Dưới ánh than đỏ lập lòe, anh thấy một vật nằm dưới gầm phản kê quan tài, ngay phía đầu người chết.
Anh buông chiếc vồ, quỳ xuống nền đất ẩm rồi bò vào gầm quan tài. Mùi tử khí và mùi ván mới xộc vào mũi. Tay anh lần trong bóng tối, chạm phải một vật lạnh ngắt, nặng trịch.
Khải kéo vật ấy ra.
Đó là một chiếc lệnh bài bằng đồng đen, to bằng bàn tay người lớn. Lệnh bài có hình lá bùa góc cạnh, rìa hai bên khắc sóng nước cuộn cao. Ở giữa nổi lên hai chữ Nôm khắc sâu: Âm Binh. Bên dưới là hình một bánh pháo quấn chỉ đỏ chằng chịt. Mặt sau nhám ráp, bám lớp bột vàng xám nồng mùi lưu huỳnh.
Khải vừa nắm chặt lệnh bài, tiếng cào ngoài cửa lập tức ngừng bặt.
Căn nhà rơi vào im lặng. Chỉ còn tiếng than nổ lép bép và tiếng nước sông vỗ bờ dưới hiên.
Bà Nhã nhìn thấy lệnh bài trong tay con trai thì thét lên. Bà ngã quỵ xuống đất, hai tay ôm đầu.
"Trời đất ơi! Nghiệp nhà Nguyễn Khoa chưa dứt! Sao ông lại để thứ này cho thằng Khải?"
Khải sững người nhìn mẹ.
"Mẹ, đây là cái gì? Sao nó nằm dưới quan tài ông?"
Bà Nhã ngẩng khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Giọng bà vỡ ra từng tiếng.
"Đó là lệnh bài khiển binh của dòng họ con. Cụ nội con giữ nó. Rồi đến ông nội con giữ nó. Cả đời họ sống trốn tránh, chết cũng không yên vì nó. Họ Phan dưới vạn chài hạ lưu tìm lệnh bài này suốt ba mươi năm. Đêm nay chúng đốt ba tiếng pháo ngoài bãi tha ma để gọi âm binh đến đòi mạng nhà mình."
Khải nhìn xuống chiếc lệnh bài. Những đường khắc trên mặt đồng như thấm mồ hôi trong lòng bàn tay anh.
Bà Nhã bò tới, nắm lấy cổ tay con trai.
"Nghe mẹ nói cho rõ. Nếu con không học cách giữ nó, không biết cách sai khiến đám binh dưới sông kia, mẹ và con Linh không sống nổi qua mùa nước nổi năm nay."
Lời bà vừa dứt, cửa chính vang lên một tiếng rầm.
Hai cánh cửa gỗ mục bị tông mạnh từ bên ngoài. Chốt tre nứt toác. Một khe hở lớn xé ra giữa cửa.
Nước bùn đỏ từ ngoài sân tràn vào, bò qua nền đất nện, lan đến chân Khải. Mùi tanh xộc lên nồng nặc.
Ngay sát bàn chân trần của anh, một dấu chân bùn đỏ sậm hiện rõ.
Dấu chân ấy có sáu ngón. Ngón thứ sáu dài ngoằng, cắm sâu xuống đất. Bùn trong dấu chân sủi bọt lăn tăn, những sợi rong đen quấn quanh mép in.
Chiếc lệnh bài đồng đen trong tay Khải nóng rực lên. Anh nghiến răng nhưng không buông được. Sức nóng đốt vào lòng bàn tay, để lại vết sẹo hình bánh pháo đỏ au trên da thịt.
Ngoài cửa, từ trong màn sương và mùi bùn sông, tiếng bước chân lại vang lên.
Sột soạt.
Sột soạt.
Lần này, nó đã ở ngay trước thềm nhà.