Bạch Gia Y Quán - Chương 1: Khói Thuốc Phố Cổ

Tiếng chuông xe điện leng keng chuyến cuối cùng tắt dần về phía Cửa Nam. Mưa phùn tháng Chạp giăng kín mái ngói rêu phong của phố Hàng Bông, biến những…

Nội dung chương

Tiếng chuông xe điện leng keng chuyến cuối cùng tắt dần về phía Cửa Nam. Mưa phùn tháng Chạp giăng kín mái ngói rêu phong của phố Hàng Bông, biến những quầng sáng vàng vọt từ ngọn đèn đường khí đá thành từng mảng mờ đục. Gió mùa đông bắc luồn qua khe liếp, thổi tạt hơi ẩm lạnh buốt vào bậc thềm đá xanh của Bạch Gia Y Quán.

Tôi gạt tàn cây đèn hoa kỳ trên bàn trà, cẩn thận chấm ngòi bút máy ngập mực tím rồi ghi lại số lượng thục địa vừa nhập về kho. Mùi vị thuốc bắc ngự trị khắp gian nhà ba gian: vị ngọt nồng của cam thảo, mùi cay ấm sực từ quế chi, lẫn với mùi đất ẩm bốc lên từ những phiến chu sa vừa tán mịn. Giữa không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng kim đồng hồ quả lắc kêu tích tắc chậm rãi, từng nhịp gõ khô khốc nhắc nhở về đêm sâu.

Năm năm trước, cũng vào một đêm mưa gió rát mặt thế này, mẹ tôi nằm liệt trên chiếc chõng tre ở làng Ngọc Hà vì chứng tả ác tính. Mạch đập rỗng tuếch, chân tay giá ngắt, bà con lối xóm đã chuẩn bị sẵn manh chiếu để bó xác. Bạch lão y tình cờ đi chữa bệnh ngang qua, dừng chân châm ba mũi kim vào huyệt Quan Nguyên và Dũng Tuyền, sau đó cho uống một bát thang đặc. Mẹ tôi nôn ra một búng máu đen rồi dần dần ấm lại, mở mắt nhìn con trai. Ơn cứu mạng ấy lớn tựa trời biển. Tôi gác lại giấc mộng thi cử vào Trường Y khoa Đông Dương của người Pháp, chấp nhận quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên họ Bạch để bái ông làm thầy, theo học nghề bấm huyệt châm cứu cổ truyền.

Suốt năm năm lau dọn tủ thuốc và mài kim, tôi luôn tự hào về y thuật gia truyền của sư phụ. Nhưng khác với cách nghĩ thần bí của những người già phố cổ, tôi luôn dùng kiến thức giải phẫu Tây học tự mày mò trong sách vở để lý giải đường đi của kinh lạc. Với tôi, huyệt đạo là các điểm tập trung dây thần kinh và mạch máu, còn châm cứu là phương pháp kích thích phản xạ sinh học để cơ thể tự chữa lành. Khoa học phải rành mạch, không thể mù mờ dựa vào thần thánh hay ma quỷ.

Tiếng gõ cửa dồn dập vang lên, chặt đứt dòng suy nghĩ của tôi.

"Cứu mạng! Bạch lão y ơi, cứu mạng với!"

Tiếng đập thình thình vào then cài cửa gỗ lim khiến lớp bụi trên xà nhà rơi lả tả. Tôi vội đặt cây bút máy xuống tập giấy bản, đứng dậy bước nhanh ra tiền sảnh. Vừa rút then cài, hai cánh cửa nặng trịch lập tức bị đẩy mạnh từ phía ngoài. Gió lạnh ùa vào mang theo mùi bùn ướt và hơi tanh nồng.

Hai phu xe kéo mặc áo tơi lá tơi tả, thở hồng hộc khiêng một chiếc cáng tre vào giữa nền gạch hoa. Trên cáng là một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, mặc bộ âu phục dạ đắt tiền nhưng vạt áo đã xộc xệch, dính đầy bùn đất và bãi nôn đen đặc. Đi cùng là một gã đàn ông trung niên đội mũ phớt, áo măng-tô sũng nước, mặt cắt không còn hạt máu.

"Cậu làm ơn gọi cụ Bạch ra ngay cho!" Gã đội mũ phớt túm chặt lấy cổ tay áo tôi, giọng run bần bật. "Ông chủ tôi uống rượu ở tiệm cô đầu ngõ Sầm Công, lúc về nửa đường thì sùi bọt mép ngã vật ra. Chúng tôi chạy sang nhà thương Robin nhưng bác sĩ Tây bảo muộn rồi, không nhận nữa!"

Tôi gạt tay gã ra, nhanh chóng ngồi thụp xuống bên cạnh cáng tre. Thói quen nghề nghiệp khiến tôi lập tức đưa hai ngón tay ấn vào động mạch cổ của người bệnh. Da thịt người đàn ông lạnh toát như tảng đá ngâm nước mưa, không có lấy một gợn sóng đập dưới đầu ngón tay.

Tôi rút chiếc ống nghe bằng kim loại mạ kền mang từ trường y về, áp chặt màng loa vào lồng ngực đối phương. Tôi nín thở lắng nghe. Năm giây, mười giây, rồi nửa phút trôi qua. Hoàn toàn im lìm. Không có tiếng van tim đóng mở, cũng không có âm thanh rì rào phế nang của buồng phổi.

Tôi vạch mí mắt người đàn ông ra. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn hoa kỳ, con ngươi của ông ta đã giãn to hết mức, hoàn toàn mất phản xạ khi tôi đưa ngọn lửa lại gần. Môi tím bầm, móng tay chuyển sang màu xám ngoét, một mùi hạnh nhân đắng thoang thoảng bốc ra từ khóe miệng còn dính cặn rượu. Ngộ độc cực nặng dẫn đến trụy tim và liệt cơ hô hấp.

"Người này ngừng thở và tim ngừng đập ít nhất mười lăm phút rồi." Tôi đứng thẳng người dậy, lắc đầu nhìn gã đội mũ phớt. "Đồng tử đã giãn cực đại, thần kinh não tổn thương không thể hồi phục. Theo y khoa, bệnh nhân đã chết lâm sàng, chuẩn bị bước vào giai đoạn chết thực thể. Y quán chúng tôi là nơi chữa bệnh, không nhận giữ xác chết. Các ông nên đưa thẳng về nhà để chuẩn bị hậu sự, hoặc đem đến đồn cảnh sát làm thủ tục biên bản."

"Không thể nào! Cậu nhìn lại xem, cụ Bạch có tiếng cải tử hoàn sinh mà!" Gã kia sụp xuống ôm lấy chân tôi van lạy. "Bao nhiêu tiền chúng tôi cũng trả! Chỉ cần cụ Bạch chịu ra tay!"

"Tôi là học trò theo học năm năm, nhìn nhận tình trạng này hoàn toàn dựa trên căn cứ khoa học." Tôi kiên quyết giải thích. "Cơ thể ngừng tuần hoàn quá lâu thì các mô tế bào đã hoại tử. Dù biển thước tái sinh cũng không thể đảo ngược quy luật tự nhiên."

"Đạo, lui ra sau."

Một giọng nói trầm thấp, sắc lạnh vang lên từ sau bức rèm nhung ngăn cách gian giữa.

Bạch lão y bước ra. Ông đã sáu mươi bảy tuổi, vóc người gầy guộc quấn trong bộ áo the màu xám tro, chòm râu dài bạc phơ buông thõng trước ngực. Đôi mắt ông sâu hoắm, dưới ánh đèn dầu phản chiếu một thứ ánh sáng lạnh lẽo khác thường. Bước chân của ông lướt đi trên nền gạch êm ru, không phát ra một tiếng động nhỏ.

"Sư phụ." Tôi cúi đầu, vội vàng báo cáo lại những chỉ số sinh tồn vừa đo đạc. "Con vừa kiểm tra kỹ. Mạch tuyệt, tim ngừng, đồng tử giãn hoàn toàn, có dấu hiệu ngộ độc thạch tín hoặc mã tiền liều cao. Đã hết cách cứu chữa."

Bạch lão y không nhìn tôi. Ông bước chậm rãi đến bên cáng tre, vươn bàn tay khẳng khiu với những ngón tay dài bất thường đặt lên đỉnh đầu của cái xác, ngay vị trí huyệt Bách Hội. Ông nhắm mắt lại, các đầu ngón tay hơi run rẩy như đang lần mò một mạch nước ngầm chảy sâu bên dưới hộp sọ đóng băng.

Chừng mười nhịp thở sau, ông mở mắt ra, quay sang nhìn gã đàn ông đội mũ phớt.

"Thân nhân hắn ở đâu?"

"Dạ... dạ bẩm cụ, vợ con ông ấy ở mãi tận Hải Phòng, mai mới lên kịp. Tôi là người nhà phụ trách sổ sách." Gã kia run rẩy đáp.

"Để xác lại đây." Giọng Bạch lão y phẳng lặng như mặt nước giếng khơi. "Sau giờ Dần quay lại nhận người."

Gã quản sự há hốc mồm, dường như không dám tin vào tai mình, rồi vội vàng rút trong túi áo ra một xấp bạc Đông Dương dày cộp đặt lên mặt bàn trà, sau đó kéo hai người phu xe cúi đầu lạy lục rồi hối hả rút lui vào màn mưa đêm.

Cánh cửa vừa khép hờ, tôi lập tức bước tới chặn trước mặt sư phụ, trong lòng dấy lên nỗi hoang mang tột độ:

"Sư phụ! Người này đã chết thật rồi. Đồng tử giãn to, nhiệt độ cơ thể đang giảm nhanh. Nếu giữ thi thể lại phòng thuốc mà không khai báo với chính quyền bảo hộ, cảnh sát Pháp phát hiện ra sẽ phạt rất nặng, thậm chí đóng cửa y quán! Con xin thầy cho phép con viết giấy chứng tử chuyển sang nhà xác."

Bạch lão y ngẩng đầu nhìn tôi. Ánh mắt ông sâu thẳm, mang theo uy quyền tuyệt đối khiến lời nói tiếp theo của tôi nghẹn ứ lại nơi cuống họng.

"Đạo, năm năm qua ta dạy con y lý, con học rất nhanh, nhưng con chỉ tin vào những thứ mắt thấy tai nghe của người Tây dương." Giọng ông trầm đục, vang lên giữa bốn bức tường thuốc. "Người Tây cắt xẻ thịt da để tìm sự sống, nhưng họ không hiểu rằng khi hơi thở dứt, linh hồn và tạng phủ vẫn còn một sợi tơ vô hình níu giữ. Chết lâm sàng của con, trong y thuật cổ truyền gọi là Giả Tử. Hồn phách chưa lìa khỏi khiếu, chỉ là bị tà độc phong tỏa toàn bộ đường đi của khí huyết."

"Nhưng tim đã ngừng đập..." Tôi cố gắng biện giải bằng những nguyên lý tuần hoàn máu mà tôi nắm vững.

"Cài then cửa lại." Ông cắt ngang lời tôi bằng một mệnh lệnh dứt khoát. "Đóng cả then trên lẫn then dưới. Thả rèm trúc xuống, dập bớt ngọn đèn ngoài sảnh."

Nhìn vẻ mặt nghiêm nghị của sư phụ, tôi không dám trái lệnh. Tôi quay lại cài chặt then gỗ lim, hạ tấm rèm trúc dày chắn gió lạnh rồi thổi tắt ngọn đèn hoa kỳ trên bàn trà. Cả gian tiền sảnh chìm vào bóng tối mờ ảo, chỉ còn ngọn nến nhỏ leo lét trên tay Bạch lão y tỏa ra ánh sáng đỏ quạch.

Thay vì bảo tôi mở hòm thuốc bằng gỗ trắc để lấy bộ kim châm bằng bạc sáng loáng mà ông vẫn thường dùng chữa bệnh cho quan chức phố cổ, Bạch lão y đi vòng ra sau quầy thuốc. Ông đưa tay mở chiếc ngăn kéo thấp nhất, nơi luôn bị khóa kín bằng một chiếc ổ khóa đồng hoen gỉ.

Từ trong ngăn kéo, ông lấy ra một bọc vải gấm màu đỏ thẫm. Bọc vải đã cũ sờn theo năm tháng, bốn góc thêu hoa văn kỳ lạ hình những chiếc gai nhọn đan xen nhau bằng chỉ vàng óng. Một mùi hương ngai ngái xộc thẳng vào mũi tôi - mùi thảo dược mục rữa hòa lẫn với mùi tanh nồng của loài dã thú hoang dã. Mùi hương ấy hoàn toàn xa lạ với hàng trăm vị thuốc quen thuộc trên kệ.

Tôi đứng chôn chân tại chỗ, nhìn sư phụ cẩn thận ôm bọc gấm trong lòng bàn tay như ôm một báu vật linh thiêng.

"Đỡ lấy đầu cáng." Bạch lão y ra lệnh, mắt hướng về phía hành lang hun hút dẫn ra hậu viện. "Đưa hắn vào gian phòng trong cùng."

Căn phòng trong cùng của Bạch Gia Y Quán nằm tách biệt hẳn với khu nhà chính, nép mình sát mép vườn thảo dược sau nhà. Suốt năm năm làm việc tại đây, cánh cửa sắt dày bọc da trâu của căn phòng ấy luôn bị khóa chặt bằng ba ổ khóa lớn. Sư phụ từng nghiêm khắc cảnh cáo tôi rằng đó là nơi cất giữ y thư tuyệt mật của tổ tiên, chưa có lệnh thì tuyệt đối không được bén mảng lại gần nửa bước.

Tôi hít một hơi sâu, kìm nén nỗi bất an đang dâng lên nghẹn ứ nơi ngực áo. Tôi cúi xuống nâng hai tay đòn của chiếc cáng tre. Cái xác nặng trịch, cái đầu nghiêng sang một bên vô hồn, tóc rũ rượi quệt vào ống quần tôi lạnh toát.

Bạch lão y cầm ngọn nến đi trước, bóng lưng gầy guộc của ông in dài ngoằng trên vách tường vôi loang lổ. Mỗi bước chân của chúng tôi vang lên kẽo kẹt trên sàn gỗ mục ẩm ướt của dãy hành lang tối om. Gió đêm thổi qua vườn thuốc phía sau, làm rặng tre cọ vào nhau phát ra những tiếng ken két rợn người, tựa như tiếng răng của một loài thú vô hình đang nghiến chặt trong đêm tối.

Đi đến cuối hành lang, trước cánh cửa sắt bọc da trâu đen sì, Bạch lão y dừng lại. Ông rút từ trong thắt lưng ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trĩu.

Tiếng kim loại ma sát chói tai vang lên giữa đêm khuya thanh vắng. Khi cánh cửa nặng nề từ từ hé mở, một luồng khí lạnh ngắt mang theo mùi trầm hương nồng đặc và mùi kim loại rỉ sét từ bóng tối sâu thẳm ùa thẳng vào mặt tôi, báo hiệu những điều vượt ra ngoài toàn bộ sự hiểu biết khoa học mà tôi từng tôn thờ.

Chương khác

Xem thêm