Bạch Gia Y Quán - Chương 4: Cấm Địa Thảo Dược
Mùi máu tanh khét lẹt quyện với dịch đắng vẫn bám riết lấy vòm họng tôi. Sau khi bóng lưng Bạch lão y khuất hẳn sau cánh cửa sắt bọc da trâu, căn phòng…
Nội dung chương
Mùi máu tanh khét lẹt quyện với dịch đắng vẫn bám riết lấy vòm họng tôi.
Sau khi bóng lưng Bạch lão y khuất hẳn sau cánh cửa sắt bọc da trâu, căn phòng châm cứu ngầm chìm vào một sự lạnh lẽo tê buốt. Tiếng then cài bên ngoài không sập xuống, nghĩa là sư phụ tin chắc tôi sẽ ngoan ngoãn phục tùng như suốt năm năm qua. Trên phiến đá xanh, người đàn ông vừa thoát khỏi cửa tử đang thở từng chặp đứt quãng, lồng ngực gầy trơ xương nhấp nhô yếu ớt dưới lớp chăn dạ cũ. Búng máu đen sẫm rỉ ra từ huyệt Thiên Đột của gã đã bắt đầu đông lại thành một mảng váng nhớp nháp, bốc lên làn khói mỏng mang mùi xác rữa.
Tôi dùng khăn vải gai tẩm rượu gừng lau sạch những vệt ố trên cổ bệnh nhân. Bàn tay tôi không ngừng run rẩy. Mỗi lần đầu ngón tay chạm vào da thịt người đàn ông, tôi lại rùng mình khi cảm nhận được mạch đập yếu ớt nhưng đều đặn dưới lớp da xám xịt. Theo những gì tôi học được từ các cuốn sách giải phẫu phương Tây mượn lén từ trường Y khoa Đông Dương, một người ngừng thở, đồng tử giãn to và bắt đầu xuất hiện vết hoen tử thi như gã này về mặt sinh học đã chết hoàn toàn. Không một y văn hiện đại nào công nhận chuyện một người đã chết có thể kéo dài hơi tàn chỉ bằng mười ba mũi kim.
Thế nhưng, điều làm tôi bàng hoàng nhất không nằm ở kỹ thuật châm cứu nghịch thiên của sư phụ.
Nó nằm ở cây kim thứ mười ba.
Cấu trúc rỗng ruột dẫn lưu chất lỏng, bề mặt ngà trắng biến sắc thành tím đen ngay trước mắt tôi, cùng thứ mùi xạ hương nồng nặc đến nghẹt thở. Đó tuyệt đối không phải là kim đồng, cũng không phải xương hay ngà voi thông thường. Vật liệu đó có tính chất của một bộ phận sinh vật sống, một thứ gai nhọn có khả năng co bóp để hút cạn uế khí.
Và mùi hương ấy, tôi đã ngửi thấy nó quá nhiều lần.
Mỗi đêm trăng khuyết, khi phố Hàng Bông chìm vào giấc ngủ sau tiếng chuông tàu điện cuối cùng, mùi xạ hương tanh tưởi ấy lại từ khu vườn dược thảo sau nhà luồn qua khe liếp, xộc thẳng vào buồng ngủ của tôi. Cùng với nó là những âm thanh rào rạt, sột soạt nặng nề cọ xát vào thân tre già, kèm theo tiếng gầm gừ trầm đục như nghẹn lại từ cổ họng của một loài dã thú to lớn. Suốt năm năm làm đồ đệ, mỗi lần tôi gặng hỏi về khu vườn cấm phía sau rặng rào tre, Bạch lão y đều nghiêm mặt quở trách, cấm tiệt tôi bước qua cánh cổng gỗ then cài sau gian bốc thuốc.
"Nơi đó ươm trồng những loại linh thảo có độc tính cực mạnh, chỉ cần dính phải một giọt nhựa cũng đủ nát da thối thịt. Ngươi chưa đủ hỏa hầu, chớ có rước họa vào thân."
Lời răn dạy của thầy văng vẳng bên tai, nặng như đá tảng. Đạo nghĩa tôn sư trọng đạo ăn sâu vào máu thịt tôi từ những ngày đầu bái sư. Mẹ tôi nhờ bàn tay thần sầu của ông mà qua khỏi cơn bạo bệnh, mạng sống của gia đình tôi là do ông ban cho. Phản bội lời dặn của thầy là đại nghịch bất đạo, là thứ tội lỗi bị cả giới y thuật khinh bỉ.
Nhưng lý trí của một người học trò tiếp cận với khoa học giải phẫu lại gào thét một mệnh lệnh trái ngược. Nếu thứ vũ khí cứu mạng kia thực sự là một tà thuật ghê tởm, nếu những bí mật sau rặng tre kia ẩn chứa hiểm họa khôn lường, liệu sự im lặng phục tùng của tôi có còn mang ý nghĩa của chữ "đạo"?
Tôi đắp lại mép chăn cho người bệnh, kiểm tra lại hơi thở của gã một lần cuối. Hơi thở đã bình ổn, mạch tượng trầm tế nhưng không còn dấu hiệu đứt đoạn. Tôi nhặt lấy ngọn đèn bão đặt trên kệ đá, chỉnh bấc cho ngọn lửa thu nhỏ lại chỉ bằng hạt đỗ, rồi rón rén bước lên từng bậc thang đá dẫn lên gian nhà trên.
Cánh cửa sắt khép hờ. Tôi nhẹ nhàng lách người qua khe cửa, cẩn thận không để then sắt phát ra tiếng va chạm kim loại.
Bên ngoài, trời đất Hà Nội đang chuyển mình trong một cơn giông đêm dữ dội. Gió mùa đông bắc tràn về từng đợt rít gào qua những mái ngói rêu phong của phố cổ. Tiếng mưa rào bắt đầu đổ ập xuống mái hiên nhà thuốc, gõ chan chát lên những máng xối bằng tôn, làm át đi tiếng bước chân trần của tôi trên nền gạch tàu lạnh buốt.
Tôi đi dọc theo hành lang tối om của Bạch Gia Y Quán. Mùi thuốc bắc khô nồng từ hàng trăm ngăn tủ gỗ lim - mùi đương quy, thục địa, hoàng liên, xuyên khung - đặc quánh trong không khí, che giấu mùi xạ hương đang dần đậm đặc hơn khi tôi tiến về phía gian sau. Căn phòng nghỉ của Bạch lão y nằm ở gian giữa, ngọn đèn dầu bên trong đã tắt ngấm. Tiếng thở dài nặng nhọc, đứt quãng của người thầy già thỉnh thoảng vang lên qua lớp rèm vải ba, nghe mệt mỏi và rệu rã sau một lần thi triển Thập Tam Châm cạn kiệt sinh lực.
Tôi nín thở, nép sát mình vào bờ tường vôi tróc lở, bước từng bước chậm rãi qua cửa phòng ông. Mỗi tiếng kẽo kẹt của ván sàn gỗ dưới chân đều làm tim tôi thắt lại, dồn dập như tiếng giã thuốc trong cối đá. Khi đã bước qua khỏi gian nhà chính, tôi đứng trước cánh cửa gỗ nhỏ dẫn thẳng ra khu vườn dược thảo sau nhà.
Cánh cửa này luôn được khóa bằng một chiếc khóa đồng chữ u to bản. Nhưng đêm nay, chốt khóa bằng đồng lại buông thõng, chốt cài bên trong chỉ được gài hờ hững bằng một thanh tre mỏng. Rõ ràng Bạch lão y khi rời khỏi phòng châm cứu đã vội vã đi ra đây trước khi trở về phòng nghỉ.
Mùi xạ hương tanh nồng từ ngoài vườn theo khe cửa hở phả thẳng vào mặt tôi, nồng nặc và buốt óc hơn bất kỳ mùi xú uế nào tôi từng tiếp xúc. Vị tanh ấy không giống mùi máu người, nó mang theo chất nhờn nhớp của loài bò sát và độ nồng gắt của tuyến xạ động vật ăn thịt, khiến sống mũi tôi cay xè.
Tôi nuốt nước bọt, hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh bám chặt vào then tre. Sự giằng xé giữa lòng trung thành và cơn khát khao sự thật giày xéo tâm can tôi. Một bước chân qua cánh cửa này, mối quan hệ thầy trò suốt năm năm trời có thể sẽ hoàn toàn đổ vỡ. Tôi sẽ không còn là đứa học trò ngoan ngoãn được truyền dạy y thuật, mà trở thành một kẻ rình mò đáng khinh.
Nhưng hình ảnh chiếc gai rỗng ruột chuyển sang màu tím đen ghê rợn cứ lởn vởn trước mắt, thúc ép đôi chân tôi tiến về phía trước. Chân lý y học không thể xây dựng trên những lời dối trá tăm tối.
Tôi nhẹ nhàng rút thanh tre, đẩy mép cửa gỗ.
Gió lạnh và nước mưa lập tức tạt vào mặt tôi ran rát. Vườn dược thảo của Bạch Gia Y Quán hiện ra dưới màn đêm đen đặc quánh, trông hoang phế và rậm rạp hơn rất nhiều so với những gì người ngoài phố Hàng Bông có thể hình dung. Khu vườn này rộng chừng hơn nửa con sào, được bao bọc bởi những bức tường gạch cao vút cắm đầy mảnh chai sắc nhọn, ngăn cách hoàn toàn với những ngôi nhà xung quanh.
Tôi bước ra ngoài, đôi chân trần ngập sâu vào lớp bùn nhão nhoét và lá mục thối rữa.
Mưa rào xối xả làm ướt sũng chiếc áo chẽn bằng vải thô của tôi chỉ trong vài nhịp thở. Tôi giấu ngọn đèn bão dưới vạt áo, chỉ để hé một khe sáng nhỏ le lói rọi xuống mặt đất bùn lầy.
Khu vực rìa ngoài của vườn vẫn là những luống dược thảo quen thuộc mà tôi vẫn thường chăm sóc: những khóm cúc tần, tía tô, bạc hà và kinh giới dập dờn trong mưa gió. Nhưng càng đi sâu vào phía sau, nơi rặng tre gai mọc dày đặc chắn ngang như một bức tường thành tự nhiên, khung cảnh bắt đầu biến đổi một cách kỳ dị.
Những luống cây phía sau rặng tre không hề được chăm bón bằng phân xanh hay tro bếp. Đất ở đây có màu đen thẫm quánh đặc, bốc lên mùi thối rữa nồng nặc của thịt cá ươn và nội tạng động vật đang phân hủy. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão, tôi nhìn thấy những loài thực vật quái đản chưa từng xuất hiện trong bất kỳ cuốn Bản Thảo Cương Mục nào.
Đó là những thân cây mềm nhũn bò lan trên mặt đất như những con rắn độc, thân cây nổi đầy những nốt sần màu đỏ tía rỉ ra một thứ mủ trong suốt nhờn nhợt. Cạnh đó là những bụi nấm khổng lồ màu xám tro mọc ken dày trên những khúc gỗ mục, mũ nấm phập phồng nhẹ nhàng theo từng cơn gió, rỉ ra những giọt nước nhờn mang mùi hôi của chuột chết. Toàn bộ khu vực này giống như một bãi tha ma của thực vật, nơi sự sống được nuôi dưỡng bằng sự thối rữa và chết chóc.
Tôi cẩn thận lách mình qua những cành tre gai sắc nhọn cào rách toạc ống tay áo, máu rỉ ra nơi cẳng tay buốt nhức vì nước mưa ngấm vào. Đôi ủng cao su của tôi không có ở đây, từng ngón chân trần bấm sâu vào lớp đất mùn bốc mùi tanh tưởi.
Càng tiến sâu vào góc vườn, mùi xạ hương càng trở nên đậm đặc đến mức làm lồng ngực tôi nghẹn lại, mỗi nhịp hít thở đều như nuốt phải tro tàn cay nồng.
Tại góc tối nhất của khu vườn, sát chân bức tường đá rêu phong cao quá đầu người, sừng sững một gốc dâu tằm cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Thân cây dâu to đến hai người ôm, vỏ nứt nẻ xù xì như da cóc, cành lá sum suê đan cài vào nhau che kín cả một khoảng trời, biến khu vực bên dưới gốc cây thành một khoảng tối đen như mực, ngăn cách cả nước mưa đang gầm gào ngoài kia.
Dưới gốc cây cổ thụ đó là một khoảng đất trũng sâu, được rào chắn xung quanh bằng những cọc gỗ lim to bản cắm sâu xuống đất, bên trên chằng chịt những sợi dây xích sắt to bằng ngón tay cái đã hoen gỉ vì thời gian.
Một âm thanh nặng nề bỗng vang lên từ bên trong hốc tối dưới gốc dâu tằm.
*Rột xoạt... rột xoạt...*
Đó là tiếng cọ xát của hàng trăm vật thể cứng nhọn miết trên bề mặt đá tảng. Kèm theo đó là tiếng thở phì phò nặng nhọc, ẩm ướt và đục ngầu, phả ra từng luồng khí ấm mang mùi tanh của máu và thảo dược ôi thiu.
Tim tôi đập thình thịch liên hồi, nghẽn chặt ở cổ họng. Tôi nép mình sau một thân tre to, run rẩy giơ cao chiếc đèn bão, cố gắng phóng tầm mắt qua những khe hở giữa các cọc gỗ lim.
Một tia sét xé toạc bầu trời đêm Hàng Bông.
Ánh chớp trắng lóa rực lên trong chốc lát, chiếu sáng rực toàn bộ góc vườn tăm tối, phơi bày cảnh tượng bên dưới gốc dâu tằm cổ thụ.
Dưới đáy hố sâu, trên một tấm đệm lót bằng hàng ngàn nhánh ngải cứu khô và xương thú trắng hếu, một khối sinh vật khổng lồ đang chậm rãi cựa mình.
Nó to lớn tựa như một con trâu mộng trưởng thành, nhưng toàn bộ cơ thể lại được bao phủ bởi một tấm thảm gai nhọn tua tủa, trắng toát như ngà voi. Hàng vạn chiếc gai nhọn hoắt dài từ nửa thước đến hơn một thước cắm ken dày trên lưng nó, mỗi khi sinh vật ấy thở, những chiếc gai lại va vào nhau phát ra những chuỗi âm thanh lách cách khô khốc rợn người.
Một con nhím.
Nhưng trên đời này không thể có một con nhím nào to lớn đến mức độ kinh hoàng như thế này. Nó không phải là một loài thú hoang thông thường của núi rừng Tây Bắc hay chốn rừng sâu nước độc. Toàn thân nó toát ra một thứ uy áp tà dị nghẹt thở, lớp da thịt dưới những gốc gai trắng phập phồng co thắt như chứa đầy dược dịch đang sôi sục.
Tôi chết sững tại chỗ, hai chân như hóa đá, bàn tay giữ chiếc đèn bão run lẩy bẩy khiến ánh lửa chao đảo kịch liệt.
Tiếng sấm rền vang rúng động bầu trời ngay sau tia chớp.
Như bị đánh động bởi ánh sáng lạ và mùi hơi người xa lạ, khối gai trắng khổng lồ bỗng ngừng cựa quậy. Những chiếc gai trên lưng nó đồng loạt dựng đứng lên phát ra tiếng rít xé gió, rung lên bần bật tạo nên một cảnh tượng hung hãn tột cùng.
Khối sinh vật chậm rãi xoay nửa thân trước lại về phía rào chắn gỗ lim.
Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn bão, phần đầu của sinh vật lộ ra khỏi bóng tối. Đó là một cái đầu nhím gồ ghề đầy những vết sẹo ngang dọc, mõm nhọn hoắt với những chiếc răng nanh chìa ra ngoài mép rỉ bọt mép màu nâu sẫm.
Và rồi, sinh vật ấy mở mắt.
Hai con mắt to bằng chiếc chén uống trà, không hề có tròng trắng, chỉ rực lên một màu đỏ ngầu u uất và tà ác. Đôi mắt đỏ như hai hòn than cháy dở trong địa ngục, ngập tràn tà khí và sự căm hận sâu thẳm của một loài tà thú bị giam cầm lâu năm, nhìn trừng trừng xuyên qua khe cọc gỗ lim, găm thẳng vào mắt tôi.
Một luồng hơi lạnh thấu xương từ sống lưng phóng thẳng lên đỉnh đầu tôi.
Bạch Tiên.
Lời đồn đại về nhím thần trong những câu chuyện dân gian kinh dị nơi thôn dã bấy lâu nay bỗng chốc hiện hữu bằng xương bằng thịt ngay trước mắt tôi. Sinh vật ấy đang thở dốc, hai lỗ mũi phập phồng hít lấy mùi hơi người của tôi, và trong đáy mắt đỏ ngầu quái đản kia ánh lên một sự thèm khát máu thịt đến cuồng loạn.
Tôi nghẹt thở, lùi lại một bước trong vô thức. Bàn chân trần trượt trên lớp bùn lầy tanh tưởi, cành tre khô dưới gót chân tôi gãy đôi với một tiếng "rắc" giòn tan xé toạc màn mưa.
Đôi mắt đỏ rực của con thú khổng lồ long lên dữ dội, nó há to chiếc mõm đầy nanh nhọn, rít lên một tiếng gầm chói tai làm rung chuyển cả rặng rào tre.