Bạch Gia Y Quán - Chương 2: Tượng Đồng Ngàn Năm
Cánh cửa bọc da trâu khép lại sau lưng chúng tôi bằng một tiếng "khục" nặng nề, ngăn cách hoàn toàn tiếng mưa rào xối xả ngoài phố Hàng Bông. Gian phòng…
Nội dung chương
Cánh cửa bọc da trâu khép lại sau lưng chúng tôi bằng một tiếng "khục" nặng nề, ngăn cách hoàn toàn tiếng mưa rào xối xả ngoài phố Hàng Bông. Gian phòng bên trong tối om, kín mít không một ô cửa sổ thông gió. Không khí ở đây khô khốc khác thường, đặc quánh mùi trầm hương hun lâu năm trộn lẫn vị cay hăng của xạ dược cùng mùi ẩm mốc của đá vôi xám xịt.
Bạch lão y nâng cây nến lên cao. Ánh lửa vàng vọt lay động soi rọi vào khoảng không gian rộng chừng ba trượng. Bốn bề vách tường đều xây bằng gạch vồ trần màu đỏ sẫm, không trát vữa, mạch hồ quét một lớp nhựa cây đen bóng để chắn hơi ẩm. Dọc mép tường kê những chiếc giá gỗ lim đen nhánh chứa đầy bình gốm dán giấy điều niêm phong, bên trên ghi tên những vị độc thảo hiểm hóc bằng lối chữ triện: Xạ hương, Mã tiền, Ô đầu, Thạch tín.
"Đặt cáng xuống bàn đá." Sư phụ lên tiếng, thanh âm trầm thấp dội vào vách gạch tạo nên tiếng vang đục ngầu.
Ở chính giữa phòng đặt một phiến đá xanh nguyên khối dài sáu thước, mặt đá mài nhẵn thín, bốn góc đục rãnh sâu dẫn xuống một chiếc âu đồng đặt dưới chân bệ. Tôi hít sâu một hơi, cùng sư phụ nhấc bổng thi thể người đàn ông đặt lên thạch sàng. Thân xác lạnh ngắt, cơ bắp bắt đầu đanh cứng lại do ảnh hưởng của giá rét và sự ngưng trệ tuần hoàn máu.
"Cởi bỏ toàn bộ quần áo của hắn ra." Sư phụ đặt ngọn nến lên chiếc đôn gỗ cạnh bàn đá, cẩn thận đặt bọc gấm đỏ thẫm thêu hình gai nhọn xuống một khay đồng bên cạnh, đoạn quay sang tôi dặn dò. "Dùng rượu gừng lau sạch bùn đất trên chín khiếu. Mau lên, huyết đọng lại thành khối thì thuốc trời cũng không cứu nổi."
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, lập tức bắt tay vào việc. Tôi rút chiếc kéo cán sắt treo bên hông, rạch phăng lớp áo tơi rách nát cùng bộ quần áo vải thô ướt sũng của người chết. Dưới ánh nến bập bùng, cơ thể người đàn ông phơi bày hoàn toàn trên mặt đá lạnh. Làn da gã trắng bệch, xuất hiện những vết hoen tử thi màu tím nhạt ở vùng lưng và bắp đùi - dấu hiệu cho thấy máu đã lắng xuống các vùng trũng theo trọng lực.
Tôi ấn ngón tay vào động mạch cảnh bên cổ gã. Không có mạch đập. Tôi vạch mí mắt gã kiểm tra lần nữa; đồng tử đã giãn rộng, mất hoàn toàn phản xạ với ánh sáng của ngọn nến. Theo tất cả những gì tôi được học từ các tài liệu y khoa Pháp mà tôi lén mua ở hiệu sách Albert Portail trên phố Tràng Tiền, người đàn ông này đã vượt qua ngưỡng phục hồi sinh học từ nửa giờ trước. Não bộ thiếu dưỡng khí quá mười phút sẽ chịu tổn thương vĩnh viễn, các tế bào thần kinh hoại tử không thể đảo ngược.
"Sư phụ, tử ban đã hiện rõ, các khớp bắt đầu co cứng." Tôi vừa dùng khăn tẩm rượu gừng lau sạch lớp bùn đất bám quanh khóe mắt, lỗ mũi và khóe miệng của tử thi, vừa cất giọng khuyên can. "Y học phương Tây chứng minh tim ngừng đập thì các cơ quan nội tạng đều chết dần. Chúng ta ép cơ thể này hoạt động trở lại chẳng khác nào nghịch lý tự nhiên, hậu quả khó lường."
Bạch lão y khẽ hừ lạnh một tiếng, đôi bàn tay gầy guộc của ông thuần thục nắn bóp từng khớp xương trên cánh tay tử thi, làm tan đi sự xơ cứng ban đầu.
"Y học phương Tây của con chỉ thấy phần hình thể hữu hạn, nào thấu suốt được phần khí vô cùng." Bạch lão y vừa day mạnh huyệt Hợp Cốc của người chết vừa nói. "Khí tụ thì sống, khí tán thì chết. Độc tố ngấm vào cơ thể gã này làm đóng chặt các cửa ngõ lưu thông, khiến thanh khí không thể thăng, trọc khí không thể giáng. Cái chết hiện tại của gã là một trạng thái bế tắc cực độ, chứ chân nguyên chưa tiêu tán hết vào trời đất. Muốn mở cửa sinh, trước hết phải nhìn rõ đường đi của tử khí."
Dứt lời, ông quay người bước về phía góc phòng u tối nhất, nơi nãy giờ vẫn chìm trong bóng đen dày đặc.
Tôi tò mò ngước nhìn theo bước chân của sư phụ. Ông giơ tay nắm lấy tấm vải điều phủ kín một vật thể cao lớn dựng đứng sát góc tường, dứt khoát giật mạnh xuống.
Một tiếng rào nhẹ vang lên. Bụi bặm bay mù mịt dưới ánh nến, làm lộ ra một bức tượng người bằng đồng thau đen bóng cao ngang người thật.
Tôi sững sờ bước lại gần, mắt mở to vì kinh ngạc.
Bạch Gia Y Quán lưu truyền nhiều đời về một pho tượng châm cứu cổ nghìn năm do tiền nhân mang về từ phương Bắc, nhưng đây là lần đầu tiên trong suốt năm năm nhập môn, tôi mới được tận mắt chiêm ngưỡng báu vật trấn môn này.
Bức tượng đúc một người nam giới đứng thẳng, hai tay buông thõng hơi hướng về phía trước. Điều khiến tôi chấn động mạnh mẽ là độ chuẩn xác giải phẫu của nó. Từng khối cơ ngực, cơ delta, cơ thang cho đến rãnh xương sườn đều được tạc khắc tinh xảo đến từng ly, hoàn toàn ăn khớp với các bản vẽ cơ thể học hiện đại của người Pháp. Trên bề mặt kim loại nhẵn bóng ấy, ba trăm sáu mươi lăm huyệt vị được khoét thành những lỗ nhỏ li ti bằng đầu tăm, xung quanh khắc chìm tên huyệt bằng chữ thảo tinh vi. Các đường kinh mạch nối giữa các lỗ huyệt được cẩn bạc sáng lấp lánh, uốn lượn chằng chịt khắp thân tượng như một mạng lưới tuần hoàn sống động.
"Đây là Đồng Nhân ngàn năm của Bạch gia." Bạch lão y đưa những ngón tay khô ráp vuốt dọc theo đường kinh Phế cẩn bạc trên cánh tay tượng. "Tổ tiên ta đúc tượng này không nhằm dạy học trò điểm huyệt tầm thường. Bức tượng này chứa đựng quy luật vận hành của sinh tử."
Tôi bước sát lại, giơ ngọn nến lên soi rõ từng chi tiết. Lớp đồng đen ánh lên sắc thái cổ kính kỳ dị, bề mặt trơn láng như thể qua hàng thế kỷ, nó đã hấp thụ vô số tinh dầu và mồ hôi của những bậc danh y từng chạm vào.
"Đạo, nhìn kỹ đường kim này." Giọng sư phụ đột nhiên trở nên lạnh buốt.
Ông nhúng ngón trỏ vào một đĩa sáp chu sa đỏ rực đặt trên kệ đá, rồi dứt khoát vạch một vệt đỏ dài nối liền các lỗ huyệt trên mình tượng đồng.
Đường chu sa bắt đầu từ huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân, đi ngược lên Tam Âm Giao, chạy thẳng qua Khí Hải, Quan Nguyên ở vùng bụng dưới, rồi đâm thẳng lên Đản Trung giữa ngực. Thay vì dừng lại theo lộ trình tự nhiên của kinh mạch để bảo dưỡng tâm khí, ngón tay của sư phụ lại kéo một đường ngoắt ngoéo đâm thẳng lên huyệt Á Môn sau gáy, vòng qua Bách Hội trên đỉnh đầu rồi kết thúc đột ngột tại huyệt Nhân Trung.
Tôi nhìn vệt máu chu sa đỏ quạch vắt ngang thân tượng đồng mà sống lưng lạnh toát. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán.
"Sư phụ! Người... người đang vẽ đường châm nghịch kinh?" Tiếng tôi run rẩy, lạc hẳn đi giữa không gian tĩnh mịch. "Trong Châm Cứu Đại Thành và Hoàng Đế Nội Kinh đều dạy: Thuận kinh vi bổ, nghịch kinh vi tả. Đi kim ngược chiều tuần hoàn kinh khí vốn đã là điều cấm kỵ tối đại, có thể làm vỡ mạch khí huyết. Huống hồ người còn chọn toàn tử huyệt! Đản Trung là nơi hội tụ tông khí, châm sâu phạm vào tâm bao lạc gây chết người tức khắc. Á Môn nối liền tủy não, hạ châm sai một phân sẽ khiến bệnh nhân câm liệt hoặc tắt thở ngay tại chỗ. Đây là đường kim giết người, tước đoạt sinh mạng, sao có thể cứu sống một cái xác?"
Lời phản đối gay gắt của tôi vang vọng khắp bốn bức tường gạch vồ. Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Sự hiểu biết y lý kinh điển tích lũy bao năm qua cùng tư duy logic khoa học mách bảo tôi rằng đường kim này hoàn toàn điên rồ, nó chối bỏ toàn bộ đạo lý chữa bệnh cứu người của người thầy thuốc.
Bạch lão y không hề tức giận. Ông từ từ rút ngón tay dính đầy chu sa đỏ thẫm về, nhìn tôi bằng ánh mắt sâu thẳm chất chứa bóng tối.
"Đạo lý thông thường chỉ dành cho người sống." Lão y chậm rãi nói từng tiếng, âm điệu nặng trịch. "Kẻ nằm kia tim đã ngừng đập, huyết quản đã đông, các kinh mạch tự nhiên đều sụp đổ hoàn toàn. Nếu con dùng thủ pháp bình thường châm thuận theo kinh khí, dòng kim chỉ chảy vào hư không. Muốn kéo một hồn phách đã bước một chân qua ngưỡng cửa cõi âm trở về, người thầy thuốc phải dùng thủ đoạn tàn độc nhất: đảo lộn càn khôn, bức ép tà khí chạy ngược đường."
Ông bước lại gần tử thi, chỉ tay vào lồng ngực tím tái của gã đàn ông:
"Đản Trung chứa đầy tử khí nghẽn tắc, ta châm nghịch để ép luồng khí độc đó vỡ tung. Á Môn phong tỏa thần thức, ta phá nó để đánh thức tia linh hồn cuối cùng còn sót lại trong tủy sống. Thuận chiều thì sống êm đềm, nghịch chiều thì đoạt mạng trời. Đây chính là tầng thứ nhất của Thập Tam Châm khởi tử hồi sinh mà tổ tiên để lại."
Tôi bàng hoàng lùi lại một bước, va nhẹ vào mép bàn đá. Ánh mắt nghiêm nghị xen lẫn vẻ cuồng tín của sư phụ làm tôi hoảng sợ. Năm năm qua, tôi luôn kính trọng ông như một bậc lương y từ bi, ngày ngày bốc thuốc cứu tế cho dân nghèo Hàng Bông, chữa bệnh không lấy tiền cho phu xe, thợ thuyền. Nhưng người đang đứng trước mặt tôi lúc này toát ra một thứ uy quyền đen tối, bất chấp đạo lý y khoa để đạt được mục đích.
"Nhưng... kim bằng bạc thông thường không thể chịu nổi áp lực đảo lộn khí huyết này." Tôi lắp bắp, cố tìm một kẽ hở logic để phủ nhận điều ông vừa nói. "Sức cản của các mô hoại tử cùng áp lực nghịch chuyển sẽ làm gãy kim bạc ngay dưới da. Kim gãy ngập trong tử huyệt sẽ phá hủy hoàn toàn cuống tạng."
Bạch lão y khẽ nhếch mép, để lộ một nụ cười bí hiểm. Ánh mắt ông lướt qua bọc gấm màu đỏ thẫm đặt trên khay đồng.
"Kim bạc của trần gian đương nhiên không làm nổi." Ông nói cụt ngủn, dập tắt câu hỏi của tôi. "Đến đây. Cầm lấy cây nến sáp ong này, rọi sát vào các huyệt vị ta vừa đánh dấu trên thân Đồng Nhân. Phải kiểm tra độ thông suốt của từng huyệt đạo trước khi hạ thủ."
Tôi nuốt sự hoang mang xuống lồng ngực, ngoan ngoãn cầm lấy cây nến sáp lớn từ tay ông. Lửa nến sáp ong cháy đượm, tỏa ra thứ ánh sáng vàng rực rỡ và mùi mật ngọt ấm áp, xua bớt phần nào cảm giác lạnh lẽo u uất trong căn phòng đá.
Tôi tiến sát lại bức tượng đồng, khom người đưa ngọn nến lại gần các lỗ huyệt nhỏ li ti trên ngực và cổ tượng. Hơi nóng từ ngọn lửa phả vào lớp kim loại ngàn năm xám xịt.
Tôi ghé mắt quan sát lỗ huyệt Đản Trung, nơi vừa bị vệt chu sa đỏ rực cắt ngang. Đó là một lỗ nhỏ sâu hoắm, bên trong đen ngòm không nhìn thấy đáy. Tôi ước chừng đường kính của nó vừa khít cho một thân kim châm cỡ lớn đi xuyên qua.
Ngay khi ngọn lửa nến sáp áp sát bề mặt đồng thau chừng nửa tấc, nhiệt độ bắt đầu truyền qua lớp kim loại nguội ngắt.
Một hiện tượng quái dị diễn ra ngay trước mắt tôi.
Vùng kim loại xung quanh huyệt Đản Trung không hề nở ra hay đổi màu như đặc tính vật lý thông thường của đồng thiếc. Lớp kim loại bắt đầu mềm nhũn ra, phập phồng nhẹ như một mảng da thịt sống. Từ sâu bên trong lỗ huyệt đen ngòm, một thứ chất lỏng nhờn quánh từ từ trào ra ngoài.
Chất dịch ấy có màu hổ phách sẫm, đặc sệt như mỡ động vật đun chảy, trườn chầm chậm qua miệng huyệt rồi chảy dài xuống theo rãnh ngực của bức tượng. Hơi nóng của chất lỏng bốc lên mang theo một mùi vị tởm lợm: mùi mỡ người ôi thiu quyện với vị đắng ngắt của dịch mật khô lâu ngày.
Tôi giật nảy mình, run tay suýt đánh rơi cây nến xuống sàn đá.
"Sư phụ... cái này..." Tôi thốt lên nghẹn ngào, chỉ tay vào dòng chất nhờn đang rỉ ra.
Bạch lão y đứng sừng sững ngay sau lưng tôi, hơi thở của ông phả vào gáy tôi lạnh buốt. Ông không hề ngạc nhiên, gương mặt đanh lại như tạc bằng đá.
"Đừng nhúc nhích. Giữ chặt ngọn lửa." Ông gằn giọng ra lệnh.
Tôi cắn chặt răng kìm nén cơn buồn nôn, cố giữ yên bàn tay đang run rẩy. Ngọn nến tiếp tục hun nóng huyệt Á Môn sau gáy bức tượng đồng.
Chất dịch nhờn màu hổ phách lại tiếp tục rịn ra từ chiếc lỗ nhỏ sau gáy, ấm nóng và nhớp nháp. Nhưng điều kinh khủng hơn thế bắt đầu xuất hiện.
Khi chất dịch tràn ngập các đường rãnh cẩn bạc, từ sâu thẳm trong khoang rỗng của pho tượng đồng bỗng phát ra những âm thanh kỳ quái. Ban đầu chỉ là tiếng rít khẽ khàng như gió lùa qua khe cửa hẹp, nhưng sau đó, âm thanh biến chuyển thành một chuỗi tiếng rung trầm đục, nghẹn ngào.
Đó là tiếng rên rỉ u uất của một con người.
Âm thanh ai oán, đau đớn đến xé lòng dội lên từ lòng bức tượng kim loại, trầm đục như tiếng kêu cứu bị bóp nghẹt dưới một lớp mồ mả sâu hàng chục trượng. Thân tượng bằng đồng thau khẽ rung lên bần bật theo từng nhịp rên rỉ, khiến những giọt sáp nến trên tay tôi chao đảo, rớt xuống mu bàn chân nóng rát. Toàn bộ pho tượng toát ra sự thống khổ vô biên, y hệt một cơ thể sống bằng xương bằng thịt đang bị giam cầm vĩnh viễn trong lớp vỏ kim loại ngàn năm, giãy giụa trong tuyệt vọng mỗi khi bị hơi lửa thiêu đốt.
Tôi hoảng loạn lùi ngoắt lại phía sau, chân vấp vào chân đôn gỗ khiến ngọn nến chao nghiêng.
"Bên trong bức tượng... có người!" Tôi thốt lên kinh hãi, mắt dán chặt vào những vệt dịch nhờn đang tí tách nhỏ xuống chân bệ tượng. "Nó đang thở... nó đang rên rỉ!"
Bạch lão y bước lên một bước, thô bạo giật lấy cây nến từ tay tôi. Ánh mắt ông quắc lên những tia nhìn sắc bén, lạnh lùng phủ nhận nỗi sợ hãi của tôi:
"Tượng đồng ngàn năm ngâm trong linh dược, hấp thụ sinh khí của trời đất, khi gặp hỏa nhiệt ắt sinh ra dược dịch bôi trơn kinh mạch. Tiếng động con nghe thấy chỉ là luồng khí nóng giãn nở bên trong khoang rỗng thoát ra ngoài qua các lỗ huyệt mà thôi. Đừng để sự hoảng loạn của kẻ phàm phu làm mờ mắt một người thầy thuốc."
Lời giải thích của sư phụ nghe có vẻ hợp lý theo nguyên lý vật lý, nhưng đôi bàn tay đang run rẩy của chính ông khi chỉnh lại tim nến đã tố cáo tất cả. Đáy mắt ông lóe lên một vẻ căng thẳng tột độ mà suốt năm năm qua tôi chưa từng thấy ở vị danh y điềm tĩnh này.
Bạch lão y quay ngoắt sang phía chiếc cáng tre, nơi thi thể người đàn ông đã được lau sạch sẽ, nằm trơ trọi trên phiến đá lạnh lẽo. Thời gian không còn nhiều. Vết hoen tử thi trên người gã bắt đầu lan rộng hơn, sẫm màu hơn dưới ánh sáng nhờ nhờ.
Lão y đặt ngọn nến lên chiếc kệ đá sát vách, đoạn bước đến bên khay đồng. Đôi bàn tay gầy gò với những khớp xương nổi gồ ghề của ông chậm rãi chạm vào nút thắt của bọc vải gấm đỏ thẫm.
Gian phòng chìm vào một sự im lặng rợn người, chỉ còn tiếng rên rỉ yếu ớt từ bức tượng đồng ngàn năm vẫn đang âm ỉ vọng ra, hòa cùng tiếng tim tôi đập dồn dập như gõ trống trong lồng ngực. Bạch lão y hít một hơi dài, ngón tay ông bắt đầu mở dải lụa vàng buộc chặt bọc gấm, chuẩn bị cho màn thi triển bí thuật nghịch thiên đoạt mệnh.