Bách Túc Cổ Thuật - Chương 22: Phù Khê Bình Yên Trở Lại

Ba giờ sáng, tầng ba của Trung tâm Pháp y Quốc gia vắng lặng quạnh quẽ. Ánh sáng trắng bệch từ hai dãy đèn huỳnh quang phản chiếu xuống nền gạch men xám,…

Nội dung chương

Ba giờ sáng, tầng ba của Trung tâm Pháp y Quốc gia vắng lặng quạnh quẽ. Ánh sáng trắng bệch từ hai dãy đèn huỳnh quang phản chiếu xuống nền gạch men xám, làm nổi rõ từng vệt xước mờ của những chiếc xe đẩy tử thi đã cũ. Mùi cồn sát trùng trộn lẫn hương formalin cay nồng xộc thẳng vào cánh mũi, một thứ mùi quen thuộc đến mức đã ngấm sâu vào từng sợi vải trên chiếc áo blouse trắng tôi đang mặc.

Tôi ngồi trước màn hình máy tính để bàn, các khớp ngón tay cứng đờ sau sáu tiếng gõ phím liên tục. Bản báo cáo giám định pháp y và dịch tễ học đặc biệt về chuỗi sự biến tại làng nghề đồ gỗ Phù Khê, thị xã Từ Sơn đã hoàn thiện đến trang cuối cùng.

Trên tiêu đề tài liệu mang mã lưu trữ mật số 412/BYT-PYQG, dòng kết luận chuyên môn được in đậm bằng phông chữ hành chính khô khốc:

"Nguyên nhân tổn thương hàng loạt tại xưởng gỗ tư nhân Đỗ Văn Bính và các thợ mộc phụ thuộc: Hội chứng ngộ độc cấp tính do tiếp xúc trực tiếp với độc tố nấm mốc thuộc chi *Stachybotrys* và *Aspergillus flavus* phát triển lâu năm trong lõi thân gỗ rừng rậm phong hóa ngập nước. Biến chứng viêm mô tế bào hoại tử đối xứng dọc cột sống do phản ứng dị ứng sốc mẫn cảm loại I; ảo giác thần kinh và hành vi hung hãn khởi phát từ tổn thương vỏ não do thiếu oxy mô kẽ. Tử vong của bệnh nhân Đỗ Văn Bính: Ngạt thở cấp và bỏng đường hô hấp sâu do tai nạn cháy nổ nhiên liệu phát tán tại hiện trường gò mả hoang."

Tôi di chuột, nhấn nút lưu tệp rồi in ra ba bản cứng. Tiếng máy in kim rít lên từng hồi chậm chạp giữa đêm khuya, kéo theo từng trang giấy trắng tinh được đóng dấu đỏ viền ngoài mép.

Một kết luận y khoa hoàn hảo. Sạch sẽ, khoa học, đầy đủ cơ sở độc chất học và giải phẫu bệnh lý để trình lên các cơ quan thanh tra y tế cũng như ủy ban thị xã. Không một chữ nào nhắc đến tà thuật mộc quỷ. Không một từ nào ghi chép về loài rết cổ đại bách túc ngủ đông hàng thế kỷ trong lớp ván thôi quan tài, cũng không có bóng dáng của con gà nòi mặt quỷ đã thiêu trọn sinh mệnh để bẻ gãy khối hạch chitin ngậm ngải.

Xã hội hiện đại không dung nạp những ghi chép hoang đường về ngải rết. Sự bình yên của hàng ngàn hộ dân làm nghề cưa xẻ, đục chạm gỗ cổ tại vùng ngoại thành này cần một nguyên nhân rõ ràng từ nấm mốc và vi khuẩn để họ có thể yên tâm quay lại cầm đục, cầm cưa. Đôi khi, nhiệm vụ của một bác sĩ pháp y không dừng lại ở việc mổ xẻ sự thật trần trụi của xác chết, mà còn là đặt một tấm màn vải bạt che đi những góc tối vượt ra ngoài tầm hiểu biết của nhận thức thông thường.

Tôi với tay cầm lấy tách cà phê đen đã nguội ngắt từ đầu giờ tối, nhấp một ngụm đắng ngắt để xua tan cơn choáng váng do kiệt sức. Cơn đau âm ỉ ở bả vai phải vẫn nhói lên từng chặp, dấu vết va đập mạnh vào thành hố sụt đêm hôm qua vẫn còn để lại mảng bầm tím đậm màu dưới lớp da.

Mười giờ trước, tôi đã rời khỏi trạm y tế xã Phù Khê khi đoàn xe của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh tiến vào phun khử trùng toàn bộ xưởng gỗ của ông Tạ. Năm người thợ mộc từng bị ngải rết khống chế đã bước qua cơn nguy kịch. Sau khi khối hạch trung tâm dưới đáy huyệt bị tiêu hủy, mạch liên kết ký sinh đứt đoạn khiến toàn bộ ấu trùng trong cơ thể họ teo tóp rồi bị tống khống chế qua đường tiêu hóa. Những vết bầm hình chân rết dọc sống lưng họ đã bong tróc hoàn toàn, trơ lại lớp da non đỏ ửng còn rỉ dịch huyết thanh.

Trước lúc lên xe cứu thương về Hà Nội, tôi có ghé qua căn nhà cấp bốn của ông Sáu Tía.

Ông lão bảy mươi hai tuổi ngồi bất động bên hiên nhà, chiếc đòn gánh gãy vứt chỏng trơ dưới gốc cây bưởi rụng đầy hoa trắng sau bão. Trên bàn trà bằng tre chỉ có một chiếc cốc sành đựng rượu nếp sủi bọt, đặt cạnh nhúm tro đen sót lại của con gà nòi mặt quỷ mà ông đã tự tay cào nhặt từ đáy hố bùn mang về. Ông không nói một lời nào về thảm họa vừa qua, đôi mắt đục ngầu hướng ra khoảng sân ướt sũng. Khi tôi đặt lên bàn gói thuốc chống viêm giảm đau cho vết bầm dập ở mạn sườn của ông, ông chỉ khẽ gật đầu, đưa bàn tay thô ráp chai sần vỗ nhẹ lên mu bàn tay tôi một cái. Cái vỗ tay thay cho lời tiễn biệt của một người sống sót qua bờ vực tử địa.

Tôi khép tập hồ sơ bệnh án lại, cho vào phong bì bảo mật màu nâu, dán nhãn niêm phong bằng sáp đỏ.

Mọi thủ tục trên mặt giấy tờ đã xong xuôi. Giờ là lúc tôi phải giải quyết thứ còn sót lại trong phòng giải phẫu bệnh - bằng chứng vật chất cuối cùng được tôi đưa ra từ đáy huyệt mả bùn Phù Khê.

Tôi đứng dậy, xoay nhẹ khớp cổ chân đang mỏi nhừ rồi bước về phía cánh cửa sắt dẫn vào phòng lưu trữ mẫu mô sinh học nguy cơ cao. Tiếng đế giày cao su miết trên sàn nhà lạnh lẽo tạo ra âm thanh ken két rợn người.

Không gian bên trong phòng lạnh ẩm ướt, nhiệt độ phòng duy trì cố định ở mức mười sáu độ C. Dọc theo hai bên tường là những dãy tủ bảo quản mẫu bệnh phẩm bằng thép không gỉ cao chạm trần, cánh tủ phủ một lớp sương mờ đọng nước. Ở trung tâm phòng đặt chiếc bàn kim loại dùng để xử lý mô tươi, nơi tôi đã đặt chiếc hộp bảo quản cách nhiệt bằng nhôm đúc mang về từ trưa nay.

Tôi xỏ đôi găng tay cao su y tế dày hai lớp, đeo kính bảo hộ và khẩu trang hoạt tính chuyên dụng rồi bước tới mở khóa chiếc hộp nhôm.

Bên trong hộp, nằm lọt thỏm giữa những túi đá khô đông cứng, là một chiếc lọ thủy tinh borosilicate trung tính có nắp vặn ren kim loại dày dặn. Bên trong lọ chứa mẩu than đen tròn vo, kích thước bằng quả trứng chim cút.

Đó là khối hạch chitin trung tâm của con rết chúa, phần duy nhất không bị ngọn lửa dầu hỏa thiêu rụi hoàn toàn nhờ lớp vỏ sừng lim hóa khoáng chất bảo vệ. Nó được gắp ra trực tiếp từ chiếc mỏ sắt của xác con gà nòi chết đứng dưới đáy bùn.

Tôi dùng kẹp phẫu thuật nhấc chiếc lọ thủy tinh lên ngang tầm mắt dưới ánh đèn rọi tập trung của bàn mổ.

Bề mặt khối than xù xì, lỗ chỗ những vết nứt nẻ do nhiệt độ cao làm mất nước đột ngột. Nó trông không khác gì một mẩu gỗ mun cháy dở, bất động và vô hại. Thế nhưng, trong suốt bốn tiếng tôi quan sát dưới kính hiển vi điện tử trước khi bắt đầu viết báo cáo dịch tễ, cấu trúc phân tử của mẩu than này hoàn toàn từ chối các phản ứng sinh hóa thông thường. Các tế bào của nó không chết theo cơ chế hoại tử đông đặc của mô động vật. Chúng chỉ co rút lại, rút hết toàn bộ lượng nước tự do vào lõi tế bào, hình thành nên một lớp màng lipid dày đặc bao bọc lấy nhân ADN cổ đại.

Một trạng thái ngủ đông cưỡng bức cực kỳ tinh vi.

Giống như cách hàng ngàn quả trứng rết đã nằm im trong lòng thớ gỗ quan tài mục nát suốt mấy trăm năm dưới lòng đất sâu, đợi chờ một lượng ẩm thích hợp và hơi lạnh nhân tạo từ máy điều hòa nhiệt độ hiện đại để cựa mình thức giấc.

Tôi hít một hơi sâu qua lớp khẩu trang phòng độc, cảm nhận luồng khí lạnh buốt tràn vào lồng ngực. Là một người làm khoa học thực nghiệm, lý trí mách bảo tôi phải tiêu hủy mẫu vật này ngay lập tức trong lò đốt rác y tế nhiệt độ một ngàn hai trăm độ C của viện. Nhưng sự tò mò bệnh lý của một bác sĩ giải phẫu - cái thôi thúc muốn tìm hiểu đến tận cùng bản chất của cơ chế ký sinh biến dị này - đã ngăn bàn tay tôi lại.

Tôi dán nhãn mã số lưu trữ PX-092 lên thân lọ thủy tinh. Dòng chữ mực đen không phai ghi rõ: "Mẫu sinh thiết vôi hóa - Nghiên cứu độc chất học chuyên sâu".

Tôi cầm chiếc lọ, bước thẳng về phía góc trong cùng của phòng lưu trữ, nơi đặt chiếc tủ đông âm sâu chuyên dụng ULT Freezer. Chiếc tủ to như một khối bê tông bọc kim loại xám bóng, bảng điều khiển điện tử phía trên hiển thị con số đỏ rực: âm tám mươi sáu độ C. Đây là nơi dùng để lưu giữ những mẫu virus và mầm bệnh nguy hiểm nhất ở trạng thái bất hoạt tuyệt đối. Dưới cái lạnh cực độ này, mọi phản ứng sinh học đều buộc phải ngừng lại, sự sống bị đóng băng đến cấp độ phân tử.

Tôi vặn tay nắm cơ học nặng trịch, kéo cánh cửa dày hai mươi phân của tủ đông ra.

Xì...

Một luồng hơi sương trắng xóa đặc quánh, lạnh buốt thấu xương lập tức tuôn trào ra ngoài, cuộn tròn quanh ống quần và bám chặt vào bề mặt kính bảo hộ của tôi. Hơi lạnh âm tám mươi sáu độ làm không khí xung quanh đặc quánh lại, mùi kim loại đóng băng bốc lên tanh nồng.

Bên trong tủ chia làm nhiều tầng với các ngăn kéo bằng thép không gỉ có khóa riêng biệt. Tôi kéo khay kim loại số 04 ra. Khay chứa này trống rỗng, đáy khay phủ một lớp tuyết mỏng khô khốc như cát trắng.

Tôi đặt chiếc lọ thủy tinh chứa khối than hạch rết vào chính giữa khay số 04. Chiếc lọ kêu cạch một tiếng khô khốc khi tiếp xúc với mặt thép đông lạnh.

Nhìn chăm chú vào khối vật chất đen đúa nằm im lìm trong làn sương giá buốt, tôi tự nhủ rằng đây sẽ là nấm mồ vĩnh viễn của nó. Cái lạnh âm sâu này sẽ khóa chặt mọi mầm mống ngải rết, biến nó thành một mẫu hóa thạch vô hồn nằm chết trong ngăn thép của trung tâm nghiên cứu, mãi mãi không bao giờ có cơ hội tìm thấy một vật chủ bằng xương bằng thịt nào nữa.

Tôi đẩy khay kim loại số 04 trượt sâu vào rãnh tủ.

Cạch. Khóa an toàn đóng sập lại.

Tôi đóng chặt cánh cửa ngoài của tủ đông, xoay tay nắm trợ lực cho đến khi gioăng cao su bám chặt vào mép tủ, tạo ra một tiếng rít mút chân không đanh gọn. Hệ thống máy nén điện tử cảm ứng được nhiệt độ thay đổi lập tức khởi động lại, phát ra tiếng rầm rì đều đặn, rung nhẹ xuống mặt sàn bê tông.

Thở phào một cái, tôi tháo bỏ găng tay cao su ném vào thùng rác y tế nguy hại, cởi áo blouse máng lên móc sắt cạnh cửa ra vào. Cả người tôi rã rời, cơn buồn ngủ nặng trĩu kéo sụp hai mí mắt sau chuỗi ngày dài đối mặt với sự sống và cái chết giữa chốn bùn lầy Phù Khê.

Tôi bước ra khỏi phòng lưu trữ, vươn tay bấm công tắc đèn.

Tạch.

Dãy đèn huỳnh quang vụt tắt, nhường chỗ cho bóng tối đen kịt bao trùm lấy căn phòng lạnh. Chỉ có ánh đèn led đỏ từ bảng điều khiển của chiếc tủ đông âm sâu là vẫn nhấp nháy từng nhịp đơn điệu giữa màn đêm.

Tôi kéo cánh cửa sắt nặng nề của phòng lưu trữ khép lại, chuẩn bị xoay chìa khóa tổng.

Đúng lúc chốt khóa vừa chạm vào ổ sắt, một âm thanh cực nhỏ, mảnh như một sợi tơ cọ xát, đột ngột lọt qua khe hở của gioăng cao su truyền đến tai tôi.

Kẹt... xoẹt... xoẹt...

Tôi sững người, bàn tay đang cầm chìa khóa khựng lại giữa không trung. Toàn bộ cơ bắp trên cơ thể tôi co rút, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng, từ đốt sống cổ lan xuống tận xương cùng cụt.

Đó không phải tiếng rơ-le nhiệt đóng ngắt của máy nén.

Đó là tiếng cào móng.

Tiếng những đốt chân chitin sắc nhọn, cứng cáp đang cào cấu, miết đi miết lại trên bề mặt thép không gỉ của khay kim loại số 04. Âm thanh lẹt xẹt khô khốc, kiên trì và đều đặn, vang lên rõ mồn một trong không gian tĩnh mịch của căn phòng kín.

Tôi nín thở, chậm rãi cúi người, ghé sát mắt vào ô kính tròn quan sát nhỏ xíu gắn trên cánh cửa tủ đông âm sâu qua ô cửa sổ sắt.

Bên trong buồng lạnh tối tăm, luồng sương trắng âm độ đang cuộn xoáy dữ dội xung quanh khe hở của ngăn kéo số 04.

Và ngay giữa lớp sương mù buốt giá ấy, xuyên qua lớp thủy tinh dày của chiếc lọ PX-092, một vệt nứt đỏ rực như sợi chỉ máu bất ngờ bừng sáng trên bề mặt khối than đen. Vệt nứt run rẩy, mở rộng dần ra, để lộ một mầm mắt màu đỏ huyết dụ bên trong đang phập phồng co bóp theo từng nhịp thở của chiếc máy lạnh hiện đại.

Cái lạnh buốt giá và hơi ẩm nhân tạo của cỗ máy không hề giết chết nó.

Chúng đang đánh thức nó.

Từ sâu trong khe nẹp kim loại của tủ đông, tiếng rít the the chói tai của loài bách túc cổ ngải lại rộ lên, xé toạc màn đêm tĩnh lặng của thủ đô.

Chương khác

Xem thêm