Bách Túc Cổ Thuật - Chương 19: Truy Tìm Gốc Gò Mả Cổ Bắc Ninh

Nước bùn đen ngập quá gối, cuộn tròn quanh bắp chân tôi từng đợt lạnh buốt. Mùi lưu huỳnh nồng nặc quyện với mùi mùn gỗ ngâm nước lâu năm bốc lên từ lòng…

Nội dung chương

Nước bùn đen ngập quá gối, cuộn tròn quanh bắp chân tôi từng đợt lạnh buốt. Mùi lưu huỳnh nồng nặc quyện với mùi mùn gỗ ngâm nước lâu năm bốc lên từ lòng đất trũng, xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát. Cứ mỗi bước chân thụt xuống lớp đất sét nhão, bọt khí từ bên dưới đáy lại vỡ bung ra, mang theo thứ mùi thối rữa đặc trưng của xác động vật chết ngạt trong môi trường yếm khí.

Vết mổ trên ô mô cái bàn tay trái của tôi bắt đầu giật giật từng cơn. Dải băng gạc dã chiến tôi quấn vội đã thấm đẫm một vệt máu đỏ tươi, hòa với nước mưa dầm tạo thành một chất dịch loãng màu hồng nhạt chảy dọc cổ tay. Con gà nòi mặt quỷ đi phía trước vẫn giữ chặt sợi dây thừng nối với cổ tay ông Sáu Tía. Hai chân nó phủ một lớp vảy đen bóng như sừng, móng vuốt cắm sâu vào bùn lầy, kéo giật cả thân hình còng gập của ông già bảy mươi hai tuổi về phía gò đất cao nằm trơ trọi giữa cánh đồng phía bắc.

Mưa trút xuống xối xả, đập rát mặt. Dưới ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn bão treo bên hông ông Sáu Tía, mặt nước ngập trắng đồng không hề phẳng lặng. Hàng trăm đường rạch nhỏ li ti xé nước thành từng luồng sóng gợn, chuyển động song song với bước chân của chúng tôi. Đó là đàn ấu trùng bách túc. Chúng không bơi trên mặt nước, mà bò sát rạt dưới đáy bùn, men theo các rễ bèo tây và gốc rạ mục để hướng về cùng một tâm điểm.

"Cẩn thận mé trái, bác sĩ!" Giọng ông Sáu Tía khàn đặc át cả tiếng mưa gió. Ông giơ cao chiếc đòn gánh bịt đồng, mũi gậy gõ mạnh xuống một mảng đất nhô cao. "Đất ở đây bị khoét rỗng ruột rồi. Đạp sụp một cái là lọt thẳng xuống hầm mộ ngày xưa đấy."

Tôi dừng bước, giơ chiếc đèn pin chống nước quét một vòng qua khoảng tối trước mặt. Gò mả cổ hiện ra sừng sững giữa biển nước lụt. Đó là một gò đất hình mai rùa rộng chừng ba sào, mọc đầy cỏ tranh và những cây dại cằn cỗi đã chết khô vì ngập úng. Chính giữa gò đất là một cái hố sụt khổng lồ, miệng hố to bằng gian nhà ba gian, đất đá chung quanh sạt lở nham nhở để lộ ra những phiến đá ong gãy vụn cùng hàng đống mùn cưa và mảnh dăm gỗ lim đã ngả sang màu xám xịt.

Đây chính là hiện trường vụ đào trộm mộ cổ ba tháng trước. Nhóm thợ mộc xóm Đông đã dùng xà beng và tời cáp kéo cỗ quan tài ván thôi nghìn năm tuổi lên từ cái hố này, mang về xẻ thịt trong các xưởng mộc gia đình, gieo rắc mầm ngải rết đi khắp làng Phù Khê.

Tôi cúi người, rọi luồng sáng cực mạnh của đèn pin xuống vách hố sụt.

Một âm thanh kỳ quái lập tức dội ngược vào tai tôi. Tiếng lạo xạo... lạo xạo... đay đả và dày đặc, giống như hàng triệu hạt gạo sống bị nghiền nát trong một chiếc cối đá khổng lồ đang quay chậm rãi. Khi tôi nheo mắt tập trung nhìn sâu vào các thớ đất sét tầng dưới, da đầu tôi giật nảy lên một cơn tê dại.

Toàn bộ vách đất dựng đứng của miệng hố không hề có màu nâu đỏ của phù sa thông thường. Chúng được bao phủ kín mít bởi những bọc chất nhầy trong suốt, kết thành từng chùm dính chặt vào nhau như những buồng trứng ếch khổng lồ. Bên trong mỗi bọc nhầy to bằng nắm tay trẻ con, hàng chục phôi thai rết màu đỏ thẩm đang cuộn tròn, các đốt chân li ti co bóp nhịp nhàng theo một chu kỳ sinh học đồng nhất. Dưới tác động nhiệt từ cơ thể sống của tôi và luồng ánh sáng đèn pin, các phôi thai ấy đồng loạt duỗi thẳng thân mình, cọ lớp vỏ chitin mềm vào màng bọc tạo nên chuỗi âm thanh ken két ghê rợn.

"Chúng đẻ trứng trực tiếp vào thành huyệt..." Tôi lẩm bẩm, ngón tay run rẩy siết chặt cán dao mổ số bốn giấu trong túi áo. Với tư cách một bác sĩ pháp y từng giám định hàng trăm tử thi thối rữa, tôi chưa bao giờ chứng kiến mật độ ký sinh trùng dày đặc đến mức biến đổi cả cấu trúc địa tầng như thế này. Đất ở đây đã mất đi độ kết dính tự nhiên, thay vào đó là một khối sinh khối nhầy nhụa được kết nối bằng chất keo sinh học do đàn rết tiết ra.

Con gà nòi mặt quỷ bất thần gập cánh, hai chân thu lại rồi lao vút xuống đáy hố.

"Khoan đã!" Tôi thốt lên, nhưng sợi dây thừng trên tay ông Sáu Tía đã bị kéo căng ra hết cỡ.

Ông già không hề do dự. Đôi chân trần gầy guộc đầy sẹo của ông trượt dài theo bờ dốc trơn trượt của vách đất, bùn lầy bắn tung tóe lên chiếc áo bà ba rách tả tơi. Tôi cắn chặt răng, ghìm chặt can dầu hỏa năm lít bên sườn trái, trượt người theo rãnh đất lầy lội lao xuống đáy huyệt.

Càng xuống sâu, nhiệt độ không khí càng giảm mạnh, nhưng độ ẩm lại tăng vọt lên mức bão hòa. Hơi nước bốc lên từ đáy hố mang theo luồng nhiệt kỳ lạ - một thứ hơi ấm nhân tạo ấm nồng như luồng khí phả ra từ cục nóng máy lạnh trong một căn phòng kín. Dưới đáy huyệt ngập nước sâu tới ngang hông, những mảnh ván quan tài mục nát nằm la liệt, nổi lềnh bềnh trên lớp bùn quánh đặc.

Con gà mặt quỷ đứng sừng sững trên một súc gỗ lim đen thui nhô lên khỏi mặt nước. Mào thịt hình mặt người trên đầu nó phập phồng kịch liệt, dịch nhờn màu vàng rỉ ra từ các nếp gấp chảy dọc xuống khóe mỏ. Đôi mắt lác của nó ghim chặt vào góc khuất nhất của đáy huyệt, nơi những rễ cây cổ thụ đan cài chằng chịt tạo thành một cái vòm tự nhiên.

Tôi lội bì bõm qua đống mảnh vụn của cỗ áo quan cổ, bùn ngập đến thắt lưng khiến mỗi chuyển động đều nặng nề như đeo chì. Bàn tay phải của tôi giơ cao cây đèn pin, quét thẳng chùm sáng vào khoảng không dưới vòm rễ cây.

Luồng sáng trắng xé toạc màn sương mù bốc lên từ đáy nước, làm lộ rõ một cảnh tượng khiến lồng ngực tôi nghẹn lại.

Giữa vòm rễ cây cổ thụ mục nát, một chiếc kén khổng lồ màu nâu sẫm đang treo lơ lửng, nửa chìm dưới bùn, nửa nhô lên mặt nước. Chiếc kén dài hơn hai mét, bề mặt bện chặt bằng hàng vạn sợi tơ màu xám tro dày như sợi cước, bên ngoài phủ kín một lớp vỏ giáp xác lấp lánh của hàng ngàn con rết đã chết khô, dính bết lại bằng một lớp dịch mủ đông cứng.

Nhưng chiếc kén không hề rỗng.

Lớp tơ xám ở mặt trước của kén bị kéo căng ra, trong suốt đến mức có thể nhìn thấy rõ hình hài bên trong. Đó là một cơ thể người. Một người đàn ông trưởng thành, trần truồng, toàn thân phù nề trắng bợt vì ngâm nước lâu ngày. Nhìn qua khuôn mặt biến dạng với chiếc mũi gãy và vết sẹo dài bên quai hàm dưới ánh đèn, tôi nhận ra ngay lập tức: đó là Đỗ Văn Bính, người thợ mộc lành nghề nhất của xưởng mộc chú Ba, kẻ đã biến mất không dấu vết vào đúng đêm xảy ra vụ đào trộm quan tài ba tháng trước.

Cả làng Phù Khê ngỡ rằng Bính đã ôm tiền đặt cọc của khách hàng bỏ trốn vào miền Nam. Thực tế tàn khốc hơn nhiều. Anh ta chưa bao giờ rời khỏi cái hố này.

"Bính..." Tôi thốt lên nghẹn ngào trong cổ họng.

Bản năng nghề nghiệp khiến tôi tiến lại gần thêm một bước, đưa mắt quan sát kỹ hơn cấu trúc sinh học bên trong chiếc kén. Nhịp tim tôi đập thình thịch vào màng nhĩ.

Cơ thể của Bính không chỉ đơn thuần bị giam cầm trong kén. Anh ta đã trở thành một phần của một sinh vật khác.

Phía sau lưng người thợ mộc, một khối sinh vật khổng lồ màu đỏ bầm đang bám chặt lấy toàn bộ chiều dài cột sống của anh ta. Đó là một con rết mẹ có kích thước kinh hoàng, thân mình to bằng bắp đùi người lớn, dài gần hai mét. Lớp vỏ chitin của con rết mẹ dày cộp, gồ ghề những gai nhọn và những đường vân đen sì ngoằn ngoèo trông như những chữ bùa cổ khắc trên gỗ.

Kinh hoàng nhất là phần bụng của con quái vật. Hàng chục cặp chân nhọn hoắt như những chiếc đinh thép rỉ sét của nó không xòe ra ngoài, mà cắm ngập sâu vào hai bên rãnh sống lưng của Bính. Những chiếc chân rết đâm xuyên qua các đốt sống thắt lưng, chọc thẳng vào các lỗ liên hợp để bám rễ vào tủy sống nạn nhân. Từng đoạn dây thần kinh tủy gai của người thợ mộc bị kéo căng ra, bện chặt vào các hạch thần kinh của con rết chúa, tạo thành một mạng lưới giao tiếp sinh học hoàn chỉnh giữa ký sinh trùng và vật chủ.

Khối ngực của Bính vẫn đang phập phồng.

Cứ mỗi lần ngực anh ta nâng lên hít một luồng khí ẩm ướt dưới đáy huyệt, các đốt thân của con rết mẹ lại co bóp một nhịp tương ứng. Tim của người thợ mộc vẫn đập, nhưng nó không còn đập để nuôi cơ thể anh ta nữa. Nhịp xoang yếu ớt ấy đang bơm dòng máu đen đặc quánh - thứ dung dịch đã bị nọc độc biến đổi hoàn toàn - đi nuôi dưỡng hàng ngàn bọc trứng rết đang bám lúc lỉu quanh chiếc kén.

"Nó... nó dùng tủy sống của cậu ta làm trạm điều khiển..." Tôi run giọng nói với ông Sáu Tía. "Con ký sinh trùng này không giết vật chủ ngay lập tức. Nó bảo tồn hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương để duy trì nguồn dinh dưỡng tươi sống cho đến khi ấu trùng nở hết!"

Ông Sáu Tía đứng chết trân giữa dòng bùn ngập ngang hông. Đôi bàn tay gân guốc nắm chặt chiếc đòn gánh của ông run lên bần bật. Đôi mắt già nua của người đàn ông cả đời gắn bó với làng nghề đồ gỗ trừng trừng nhìn vào những thớ ván vỡ vụn dưới chân, rồi nhìn lên thân xác người đồng hương đang bị biến thành chiếc tổ sống.

"Mộc quỷ đoạt hồn..." Ông lẩm bẩm, giọng nói run rẩy như sắp khóc. "Cái ván thôi đó không phải là đồ táng thông thường. Nó là một cái bẫy ngải từ thời Bắc thuộc. Người thợ mộc cưa xẻ ván thì bị ngải nhập xác, còn người mở nắp quan tài thì bị kéo xuống làm mồi nuôi kén mẹ! Bính ơi là Bính..."

Con gà nòi mặt quỷ bỗng hạ thấp thân mình xuống sát mặt nước. Chiếc cổ khẳng khiu của nó rụt lại, toàn bộ lông vũ dọc sống lưng dựng ngược lên như những lưỡi mác nhọn hoắt. Khối u thịt trên đầu nó phồng to gấp đôi, các mạch máu nhỏ li ti nổi cộm lên bề mặt lớp da đỏ tía, co giật điên cuồng.

Nó ngửi thấy luồng sát khí.

Tôi vội vã hạ can dầu hỏa xuống một mỏm đá ngập nước, hai tay rút chiếc dao mổ số bốn cùng một chiếc panh y tế dài hai mươi lăm phân từ túi cứu thương ra. Là một bác sĩ, tôi hiểu rằng người đàn ông trong kén đã chết về mặt lâm sàng từ lâu. Vỏ não của anh ta có thể đã tổn thương vĩnh viễn do thiếu oxy và nhiễm độc tố bách túc trong nhiều tuần lễ. Sự sống sót của cơ thể này chỉ là một phản xạ sinh học duy trì nhân tạo bởi loài ký sinh trùng cổ đại. Cách duy nhất để giải thoát cho Bính và cứu cả làng Phù Khê là phải dùng lưỡi dao thép cắt đứt các cuống chân rết đang ghim vào tủy sống, tách rời con kén mẹ ra khỏi nguồn sinh lực của nó trước khi châm mồi lửa thiêu rụi toàn bộ đáy huyệt.

Tôi tiến lên một bước, lưỡi dao mổ bằng thép không gỉ sáng loáng phản chiếu ánh đèn pin.

Nhưng tôi chưa kịp vung dao.

Một chấn động mạnh chạy dọc theo lớp tơ xám của chiếc kén. Khối thân xác của Đỗ Văn Bính đột ngột giật nảy lên. Hai cánh tay buông thõng của người thợ mộc co quắp lại, các ngón tay gầy guộc khẳng khiu cào cấu dữ dội vào màng tơ mỏng manh.

Và rồi, đầu của anh ta ngửa bật ra sau một góc chín mươi độ, một tư thế gãy gập hoàn toàn trái với cấu trúc khớp cổ tự nhiên của giải phẫu người.

Đôi mắt của Bính mở toang.

Không có tròng đen hay lòng trắng. Hai hốc mắt của người thợ mộc đã biến thành hai khối dịch nhầy màu đục sữa, bên trong có hàng trăm chấm đen nhỏ li ti đang bơi lội vòng quanh như những hạt vừng trôi trong nước.

Miệng của cái xác trồi hẳn ra ngoài lớp tơ rách toác. Chiếc cằm dưới trễ xuống, khớp thái dương hàm trật khớp với một tiếng "rắc" khô khốc, mở toang khoang miệng thành một cái lỗ đen ngòm không đáy. Lưỡi của anh ta đã teo tóp thành một mẩu thịt khô màu tím đen, nhường chỗ cho hai chiếc càng kẹp khổng lồ màu huyết dụ của con rết mẹ thò ra ngoài qua cổ họng.

"É... É... É... É... C!"

Một chuỗi tiếng rít the thé, đanh rát và xé toạc màng nhĩ bùng nổ từ sâu trong cuống họng của thi thể người thợ mộc. Âm thanh ấy vang vọng trong cái hố sụt ngập nước, dội vào các vách đất sét, tạo nên một tần số cộng hưởng rùng rợn khiến toàn bộ lồng ngực tôi rung lên từng hồi buốt nhói.

Đó không phải là giọng nói của con người. Đó là tiếng thét điều lệnh của một giống loài săn mồi cổ xưa vừa bị đánh thức khỏi giấc ngủ vùi.

Dưới đáy bùn sâu, mặt nước bắt đầu sôi sục ùng ục. Xung quanh vách hố sụt, hàng vạn bọc trứng rết trong suốt đồng loạt nứt toác vỏ, giải phóng một cơn bão ấu trùng đen kịt trút thẳng xuống đầu chúng tôi.

Chương khác

Xem thêm