Bến Nước Cửa Đền - Chương 1: Giờ Thiêng

Tôi nhìn thấy thằng bé sẩy chân vào đúng lúc kim đồng hồ trên bến đá chỉ mười tám giờ bốn mươi phút. Chiều tháng tám, sông Hồng đỏ ngầu như bát canh…

Nội dung chương

Tôi nhìn thấy thằng bé sẩy chân vào đúng lúc kim đồng hồ trên bến đá chỉ mười tám giờ bốn mươi phút.

Chiều tháng tám, sông Hồng đỏ ngầu như bát canh huyết. Mùa này nước về, phù sa từ thượng nguồn đổ xuống đặc quánh, mặt sông cuồn cuộn những mảng bọt vàng nâu. Tôi vừa tan dạy, đang dắt xe đạp qua con đường mòn ven bến Cửa Đền thì nghe tiếng kêu thất thanh. Một đứa trẻ con du khách trượt chân trên bậc đá rêu trơn, ngã nhào xuống mép nước, dòng xoáy ở vực trước bến lập tức ôm lấy nó như một bàn tay khổng lồ.

Tôi không kịp nghĩ. Cái áo dài tôi vẫn mặc đi dạy vướng víu, tôi giật tung hai vạt, quăng cả túi xách xuống bờ cỏ, lao mình xuống nước.

Nước sông tháng tám lạnh đến buốt xương dù trời còn nắng gắt. Tôi bơi về phía thằng bé. Nó mới chừng bảy tám tuổi, hai tay chới với, miệng há ra chỉ kịp kêu một tiếng rồi bị sóng dìm xuống. Tôi với được tay nó, ôm chặt lấy người nó, cố đẩy cả hai lên mặt nước.

Nhưng vực xoáy Bến Cửa Đền không phải chỗ để đùa. Người thôn tôi ai cũng thuộc lòng: ngay trước bến đá có một cái vực sâu hun hút, nước xoáy thành vòng tròn, càng vùng vẫy càng bị hút xuống. Giờ này, mười tám giờ bốn mươi, là lúc nước xoáy mạnh nhất trong ngày. Bà cố tôi ngày xưa vẫn dặn: giờ đó mà xuống bến thì đừng có lội ra xa quá ba sải tay.

Tôi đã lội ra đến năm sải.

Thằng bé ho sặc sụa trong tay tôi, người nó nhỏ xíu, run lên bần bật. Tôi một tay ôm nó, một tay quạt nước, chân đạp liên hồi. Tôi bơi giỏi, cả thôn này không mấy ai bơi qua được tôi. Nhưng hôm nay dòng nước như có ai níu chân tôi lại. Mỗi lần tôi ngoi lên hít một hơi, một cơn sóng đỏ ập đến dìm cả hai xuống. Tôi nghe tiếng người trên bờ la hét, tiếng ai đó ném phao xuống, nhưng phao trôi lệch, sóng cuốn phao đi mất.

- Cô ơi, cô đừng bỏ con!

Thằng bé nức nở, hai tay nó bấu chặt cổ tôi đến nghẹt thở. Tôi muốn bảo nó bình tĩnh, nhưng miệng tôi vừa mở ra đã bị nước ộc vào. Vị bùn đỏ tanh nồng xộc lên óc. Tầm mắt tôi tối dần. Tôi cảm nhận rõ dòng xoáy đang xoay tròn dưới chân, một lực hút vô hình kéo cả hai chúng tôi xuống sâu.

Và đúng lúc ấy, tôi nhớ đến anh.

Ba năm trước, cũng ở chính cái vực này, cũng giờ chạng vạng này, chồng tôi nhảy xuống cứu một đứa trẻ nhà chài bị lật thuyền. Anh cứu được đứa bé. Nhưng anh không lên được. Người ta tìm thấy thi thể anh mắc vào rễ cây ngập nước cách bến gần trăm mét, ba ngày sau. Hôm đưa tang, sông Hồng cũng đỏ như hôm nay. Tôi đứng bên bờ, nhìn dòng nước mà trong lòng chỉ có một câu hỏi không lời đáp: tại sao sông không trả anh lại cho tôi.

Giờ đây, dòng sông lại muốn lấy đi một mạng người nữa. Và tôi, một người đàn bà đã mất chồng vì dòng nước này, lại đang ôm một đứa trẻ xa lạ giữa dòng xoáy, cảm thấy sức lực mình cạn dần từng nhịp.

Tôi không sợ chết. Tôi chỉ sợ thằng bé chết. Nó còn nhỏ quá, mắt nó mở to nhìn tôi, trong veo như nước giếng đầu thôn. Tôi nghĩ đến mẹ nó đang gào khóc trên bờ. Tôi nghĩ, giá mà mình có thêm một chút sức, một chút nữa thôi...

Một bàn tay lạnh đỡ lấy lưng tôi.

Tôi thề là tôi cảm nhận được rõ ràng. Giữa dòng nước đỏ ngầu đang sôi lên vì xoáy, có một bàn tay lạnh buốt, vững chãi như đá, đặt ngay sau lưng tôi và đẩy nhẹ. Không phải đẩy mạnh kiểu xô, mà là một lực nâng êm, đều, như có ai đó từ dưới nước nâng cả hai chúng tôi lên.

Dòng xoáy vẫn gầm gừ quanh chân tôi, nhưng thân người tôi bỗng nhẹ bẫng. Tôi đạp chân một cái, nước như tự tránh đường. Tôi ôm thằng bé bơi về phía bến, mỗi sải bơi nhẹ như không. Chỉ trong vài chục nhịp thở, đầu gối tôi đã chạm vào bậc đá.

- Lên được rồi! Lên được rồi!

Tiếng reo hò trên bờ vỡ òa. Mấy người đàn ông nhảy xuống bậc đá đỡ lấy thằng bé, kéo cả tôi lên. Tôi nằm vật ra bậc đá, thở dốc, toàn thân run lên không kiểm soát được. Thằng bé ho ra một ngụm nước đỏ, rồi bật khóc nức nở, tiếng khóc khỏe khoắn của một đứa trẻ còn sống.

Tôi quay đầu nhìn xuống mặt sông. Vực xoáy vẫn ở đó, vẫn xoay tròn, vẫn đỏ ngầu. Không có ai dưới nước cả. Không có bàn tay nào cả. Chỉ có sóng.

Một người đàn bà trạc ngoài ba mươi lao đến ôm chầm lấy thằng bé, khóc nức nở. Bên cạnh là người đàn ông mặt cắt không còn giọt máu, hai tay run run sờ khắp người con. Họ là khách du lịch lên thăm đền Bảo Hà, tôi đoán vậy, vì trên cổ người đàn bà còn đeo vòng hoa cúc vừa mua ở cổng đền.

- Cảm ơn cô, cảm ơn cô nhiều lắm! Cô cứu sống con tôi!

Người đàn bà quỳ xuống nắm tay tôi, nước mắt nước mũi giàn giụa. Tôi lắc đầu, không nói nên lời. Cổ họng tôi rát bỏng vì nước sông.

Người ta xúm lại hỏi han, có người chạy đi gọi trạm y tế, có người mang khăn khô đến. Giữa đám đông ồn ào, tôi ngồi thẫn thờ trên bậc đá ướt, tay vẫn run. Tôi đưa tay ra sau lưng, chỗ mà bàn tay lạnh vừa chạm vào. Áo tôi ướt sũng, lạnh ngắt, nhưng ở đúng chỗ đó, tôi vẫn cảm thấy một luồng hơi lạnh còn vương lại, như dấu tay ai đó in trên da thịt.

Không ai ở dưới nước đỡ tôi cả. Tôi biết chắc điều đó. Vực xoáy này đã lấy đi chồng tôi ba năm trước, nó không có thói quen trả người về.

Vậy thì cái gì đã đẩy tôi lên?

Tôi ngẩng đầu nhìn về phía đền Bảo Hà trên triền đồi. Ngôi đền cổ nép mình dưới tán đa già, mái ngói rêu phong, khói hương vấn vít trong nắng chiều. Từ bến đá này nhìn lên, tôi thấy thấp thoáng bóng cụ Kính, ông thủ từ già, đang đứng ở sân đền nhìn xuống. Ông đứng yên như một pho tượng, hai tay chắp sau lưng.

Gió chiều thổi qua mặt sông, mang theo mùi bùn đỏ và mùi khói hương thoang thoảng. Tôi rùng mình.

Thằng bé tên Khôi, tám tuổi, con của anh Nguyễn Văn Hùng và chị Trần Thị Yến ở dưới xuôi lên lễ đền. Nó kể với mọi người rằng nó chỉ cúi xuống nhặt con ốc đá thì trượt chân. Mẹ nó ôm nó không rời, miệng không ngớt cảm ơn tôi. Còn tôi, tôi chỉ gật đầu, vì trong đầu tôi lúc này chỉ có một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại như tiếng sóng vỗ vào bậc đá.

Bàn tay lạnh đó là của ai?

Tối hôm ấy, sau khi đưa mẹ con thằng Khôi về trạm y tế kiểm tra, tôi về nhà với bộ quần áo ướt sũng và một tâm trạng rối bời. Mẹ tôi, bà Lụa, vừa thấy tôi đã la lên, bắt tôi thay đồ, nấu ngay nồi nước gừng. Bà không hỏi nhiều, chỉ lẳng lặng nhìn tôi, ánh mắt bà có nét gì tôi không đọc được, vừa lo lắng vừa như đang giấu một điều.

Tôi tắm nước nóng, nhưng cái lạnh ở sau lưng vẫn không tan. Tôi đưa tay sờ lại chỗ đó trước gương. Da tôi bình thường, không có dấu vết gì. Nhưng tôi nhớ như in cảm giác ấy: lạnh, vững, và... hiền. Phải, hiền. Một bàn tay hiền.

Đêm xuống, tôi nằm trằn trọc. Ngoài kia sông Hồng vẫn ì ầm chảy. Tiếng nước đêm nghe như tiếng ai thở dài. Tôi nhớ lại lời bà cố dặn hồi tôi còn bé: bến Cửa Đền này thiêng lắm, con ạ. Đời nào cũng có người giữ bến. Người giữ bến không phải ai cũng làm được, phải là người được bến chọn.

Hồi đó tôi cười, bảo bà cố mê tín. Bà cố chỉ lắc đầu, không nói gì thêm.

Bây giờ, nằm trong bóng tối, tôi bỗng thấy sống lưng mình lạnh toát. Không phải vì nước sông. Mà vì một ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu, rõ ràng như tiếng chuông đền trong đêm vắng.

Tôi nhớ ngày đưa tang anh, cả thôn Cửa Đền đi theo quan tài ra nghĩa địa trên gò. Trời hôm ấy cũng nắng gắt như hôm nay, sông cũng đỏ như hôm nay. Mẹ chồng tôi ngất lên ngất xuống, còn tôi thì đứng như người mất hồn, tay ôm di ảnh anh mà mắt cứ nhìn về phía dòng sông. Từ đó đến nay đã ba năm, tôi chưa một lần bước chân xuống bến Cửa Đền để tắm hay giặt giũ như những người đàn bà khác trong thôn. Tôi đi đường vòng, dù xa hơn nửa cây số. Tôi dạy học trò tôi rằng sông Hồng mùa nước đỏ rất nguy hiểm, cấm tuyệt đối bén mảng ra bến một mình. Học trò tôi gọi tôi là cô Lan nghiêm khắc nhất trường tiểu học Bảo Hà, nhưng không đứa nào biết rằng mỗi lần nhìn mặt sông đỏ ối, lòng tôi lại nhói lên một nỗi oán không tên.

Tôi oán dòng sông đã cướp anh đi. Tôi oán cả cái bến đá này, nơi anh trút hơi thở cuối cùng mà không ai kịp níu lại.

Vậy mà chiều nay, chính tôi lại lao xuống dòng nước ấy, không một giây do dự. Và chính dòng nước ấy, qua một bàn tay vô hình nào đó, lại đẩy tôi trở lên.

Chiều nay, ở vực xoáy đã cướp đi chồng tôi, đã có một bàn tay vô hình đỡ lấy lưng tôi, đẩy tôi và thằng bé thoát khỏi tay thần chết.

Bàn tay ấy, là của ai?

---

Chương khác

Xem thêm