Bến Nước Cửa Đền - Chương 2: Chú Cưỡi Ngựa Trắng
Sáng hôm sau, tôi đến trạm y tế thôn thăm thằng Khôi. Nó đã tỉnh táo, má hồng hào trở lại, đang ngồi trên giường bệnh gặm bánh chưng mẹ nó mua ở chợ.…
Nội dung chương
Sáng hôm sau, tôi đến trạm y tế thôn thăm thằng Khôi. Nó đã tỉnh táo, má hồng hào trở lại, đang ngồi trên giường bệnh gặm bánh chưng mẹ nó mua ở chợ. Thấy tôi, nó reo lên, miệng còn nhồm nhoàm:
- Cô Lan! Cô đến rồi!
Chị Yến, mẹ thằng bé, vội đứng dậy nhường ghế, mắt đỏ hoe vì thức trắng đêm. Anh Hùng, bố nó, bắt tay tôi thật chặt, bàn tay người đàn ông bốn mươi tuổi run run.
- Cô Lan ơi, nhà tôi không biết lấy gì đền ơn cô. Thằng Khôi là con một, nó mà có mệnh hệ gì...
Anh nghẹn lời, quay mặt đi. Tôi vỗ nhẹ vai anh, bảo anh đừng nghĩ ngợi nhiều, trẻ con hiếu động, may mà phát hiện kịp. Tôi nói "may", nhưng trong lòng tôi biết, chuyện chiều qua không chỉ là may.
Bác sĩ trạm bảo thằng Khôi chỉ bị sặc nước, phổi hơi viêm nhẹ, nằm theo dõi một ngày là về được. Nghe vậy cả nhà mới thở phào. Chị Yến dúi vào tay tôi một phong bì dày, bảo là chút lòng thành. Tôi đẩy lại, nhất quyết không nhận. Giằng co một hồi, chị đành cất đi, nhưng ánh mắt chị nhìn tôi đầy áy náy và biết ơn.
- Chị Yến này, nhà mình lên đây lễ đền à?
- Vâng. Vợ chồng tôi hiếm muộn mãi mới có thằng Khôi, nghe người ta mách đền Bảo Hà thiêng lắm, cầu con cầu của, nên đưa cháu lên tạ lễ. Ai ngờ...
Chị bỏ lửng câu, ôm con vào lòng. Tôi nhìn thằng Khôi. Nó tám tuổi, gầy nhom, đôi mắt to tròn đen láy. Có điểm gì ở thằng bé khiến tôi chú ý mà chưa gọi tên được, một cảm giác quen thuộc mơ hồ, như đã gặp ở đâu.
Tôi ngồi chơi với nó một lúc, kể chuyện trường lớp cho nó nghe cho đỡ sợ. Nó líu lo kể nó học lớp ba, thích vẽ, thích nhất là vẽ ngựa. Tôi cười hỏi sao lại thích vẽ ngựa, nó bảo:
- Vì đêm qua con mơ thấy một chú cưỡi ngựa trắng. Ngựa to lắm, trắng như bông. Chú ấy bảo con đừng sợ, sẽ có cô đến cứu con.
Căn phòng trạm y tế bỗng im phăng phắc. Chị Yến sững người, anh Hùng đánh rơi cái cốc nhựa xuống nền xi măng. Tôi cảm thấy tóc gáy mình dựng đứng.
- Con... con nói lại xem nào, Khôi?
Tôi cố giữ giọng bình tĩnh, nhưng tay tôi đã lạnh toát. Thằng bé ngây thơ nhắc lại, mắt long lanh:
- Chú ấy mặc áo màu chàm, cưỡi ngựa trắng đứng trên mặt nước. Chú bảo: đừng sợ, con trai, sẽ có người đến. Rồi con thấy cô Lan bơi đến thật.
Chị Yến ôm chặt con, mặt tái mét:
- Khôi, con đừng nói linh tinh. Chắc con mơ thôi, hôm qua con hoảng quá nên...
- Không phải mơ đâu mẹ. Con nhớ rõ mà. Chú ấy còn cười với con nữa. Răng chú trắng lắm, còn con ngựa thì có cái bờm dài ơi là dài, gió thổi bay bay.
Thằng bé hào hứng miêu tả, tay vẽ trong không khí hình cái bờm ngựa. Chị Yến nhìn chồng, anh Hùng nhìn tôi, cả ba người lớn chúng tôi đều không cười nổi. Trong phòng bệnh còn có một bà cụ nằm giường bên, bà nghe xong liền chắp tay vái về hướng cửa sổ, miệng lẩm bẩm:
- Thánh hiển linh, thánh hiển linh rồi. Đền Bảo Hà nhà mình thiêng lắm, các cháu không biết đấy thôi.
Chị Yến vội xua tay, bảo bà cụ đừng nói thế, trẻ con nó tưởng tượng. Nhưng tôi thấy môi chị mấp máy, như muốn hỏi điều gì mà không dám. Cuối cùng chị quay sang tôi, giọng hạ thấp:
- Cô Lan này, ở đây... ở đây có hay xảy ra chuyện như thế không? Ý tôi là, trẻ con mơ thấy...
Tôi hiểu chị muốn hỏi gì. Một người mẹ vừa suýt mất con, nghe con kể chuyện người cưỡi ngựa trắng trên mặt nước, không hoảng mới lạ. Tôi nắm tay chị, bảo chị yên tâm, thằng Khôi không sao, trẻ con sau khi hoảng sợ hay mơ mộng linh tinh. Tôi nói vậy để trấn an chị, nhưng chính tôi cũng không tin lời mình.
Vì tôi cũng đã thấy, đã cảm nhận được. Chỉ là tôi chưa dám nói ra.
Trước khi về, tôi xoa đầu thằng Khôi, dặn nó mai mốt không được ra bến một mình. Nó gật đầu ngoan ngoãn, rồi bất chợt kéo tay áo tôi, thì thầm:
- Cô Lan ơi, chú ấy còn dặn con một câu nữa. Chú bảo: cảm ơn cô Lan giúp con.
Tôi đứng sững như trời trồng. Chị Yến không nghe thấy câu đó, chị đang loay hoay xếp đồ. Chỉ mình tôi nghe, và mình thằng bé biết nó vừa nói gì. Tôi nhìn sâu vào mắt nó, đôi mắt trong veo không một gợn dối trá của trẻ con tám tuổi.
- Khôi ngoan, con nghỉ đi cho khỏe. Cô về nhé.
Tôi nói mà giọng mình run run. Ra khỏi trạm y tế, tôi phải vịn vào gốc bàng một lúc mới đi tiếp được. Nắng trưa rọi xuống đỉnh đầu mà sống lưng tôi lạnh buốt.
Tôi chưa từng kể cho ai nghe về bàn tay lạnh chiều qua. Nhưng thằng bé này, một đứa trẻ tám tuổi vừa thoát chết, lại nói ra hình ảnh trùng khớp đến rợn người với điều tôi đang giấu trong lòng.
Tôi về nhà giữa trưa, nắng chang chang mà người tôi cứ lạnh từng cơn. Mẹ tôi đang nhặt rau ngoài hiên, thấy tôi về liền hỏi han. Tôi kể lại chuyện thằng Khôi mơ thấy người cưỡi ngựa trắng. Bàn tay mẹ tôi khựng lại giữa rổ rau, một cọng rau muống rơi xuống nền gạch.
- Nó... nó nói thế thật à?
- Vâng. Mẹ, có chuyện gì thế?
Mẹ tôi im lặng một lúc lâu, rồi thở dài:
- Không có gì. Trẻ con mơ mộng. Con đừng để tâm.
Nhưng ánh mắt mẹ tôi nói khác. Tôi biết mẹ tôi từ nhỏ, bà không giấu được tôi điều gì, mà lần này bà giấu. Tôi định hỏi thêm thì bà đã đứng dậy, bưng rổ rau vào bếp, lảng sang chuyện khác.
Chiều, tôi lên trường chuẩn bị giáo án cho tuần mới. Trường tiểu học Bảo Hà nằm ngay đầu thôn, cách bến Cửa Đền chừng ba trăm mét. Từ cửa sổ lớp tôi dạy, nhìn xiên qua rặng tre là thấy mặt sông Hồng đỏ ối. Hôm nay tôi dạy lớp bốn, bài tập đọc về lòng dũng cảm. Tôi đọc cho học trò nghe, giọng tôi vang vang, nhưng mắt tôi cứ liếc ra cửa sổ, về phía bến đá.
Tan học, thay vì về thẳng nhà, chân tôi tự động rẽ về phía bến. Đã ba năm tôi tránh con đường này. Hôm nay tôi bước xuống từng bậc đá, đếm thầm: một, hai, ba... Bến Cửa Đền có chín bậc đá cổ, rêu phủ xanh rì, bậc nào cũng trơn như đổ mỡ. Bậc cuối cùng ngập nửa trong nước đỏ.
Tôi ngồi xuống bậc đá thứ ba, nhìn ra vực xoáy. Nước vẫn xoay tròn, vẫn đỏ ngầu. Tôi nhớ lại chiều hôm qua, nhớ bàn tay lạnh sau lưng. Tôi nhớ cả lời thằng Khôi: chú cưỡi ngựa trắng bảo con đừng sợ.
Gió sông thổi lồng lộng, mang theo mùi bùn và mùi khói hương từ đền trên đồi bay xuống. Tôi ngẩng lên nhìn đền Bảo Hà. Mái đền cong cong trong nắng chiều, lá cờ phướn bay phần phật. Và tôi chợt nhớ ra một chuyện cũ, chuyện mà tôi đã chôn sâu trong ký ức gần hai mươi lăm năm nay.
Năm tôi tám tuổi, tôi cũng từng suýt chết đuối ở chính cái bến này.
Hôm ấy là một buổi trưa hè, tôi theo lũ bạn trong thôn ra bến nghịch nước. Nước mùa hè trong hơn bây giờ nhiều, nhìn thấy cả đáy. Chúng tôi thi nhau lặn, ai lặn lâu nhất thì thắng. Tôi ham thắng, lặn ra xa quá, đến chỗ nước sâu thì chân bị chuột rút. Tôi vùng vẫy, càng vùng càng chìm, nước ộc vào miệng mặn chát mùi bùn. Tôi nhớ mình đã nhìn thấy mặt trời qua làn nước, một quầng sáng đỏ nhòe nhoẹt, rồi tất cả tối sầm.
Lũ bạn trên bờ hoảng quá bỏ chạy hết, không đứa nào dám kêu người lớn vì sợ bị đòn. Tôi chìm xuống, tai ù đi, ngực tức như có đá đè. Tôi nghĩ mình chết chắc rồi, tôi còn kịp nghĩ đến mẹ, nghĩ mai mẹ không thấy tôi về ăn cơm thì mẹ sẽ khóc thế nào.
Rồi tôi cảm thấy có ai đó nâng bổng tôi lên khỏi mặt nước, đặt nhẹ tôi xuống bậc đá. Một bàn tay lạnh đỡ sau lưng tôi, vững chãi như đá tảng. Tôi ho sặc sụa, mở mắt ra, xung quanh không một bóng người. Bến vắng tanh, chỉ có gió và tiếng sóng vỗ. Trên bậc đá ướt, ngoài vệt nước của chính tôi ra, không có dấu chân nào khác.
Tôi chạy một mạch về nhà, ướt như chuột lột, bị mẹ đánh cho một trận nên thân vì tội ra sông một mình. Tôi khóc, vừa khóc vừa kể với mẹ là có người cứu con, có một bàn tay lạnh đỡ con lên. Mẹ tôi không tin, bảo tôi may mắn vớ được cành cây trôi, trẻ con hay tưởng tượng. Bà còn mắng tôi bịa chuyện để đỡ bị đòn.
Nhưng tôi nhớ rõ. Không có cành cây nào cả. Có một bàn tay lạnh, vững chãi, đỡ lấy lưng tôi, y hệt bàn tay chiều hôm qua.
Hai mươi bốn năm. Hai lần suýt chết. Cùng một bàn tay lạnh. Cùng một bến đá này.
Tôi ngồi trên bậc đá đến khi mặt trời lặn hẳn, sông Hồng chuyển từ màu đỏ sang màu tím thẫm. Đền Bảo Hà lên đèn, ánh điện vàng vọt hắt xuống mặt nước thành một vệt dài run rẩy. Từ trên đồi vọng xuống tiếng chuông đền ngân nga, trầm và xa.
Tôi đứng dậy, phủi quần, bước lên bờ. Trong đầu tôi, câu nói của thằng Khôi cứ vang lên không dứt: chú cưỡi ngựa trắng bảo con đừng sợ, sẽ có cô đến cứu con.
Nếu chú ấy báo trước cho thằng bé rằng tôi sẽ đến, thì chú ấy là ai? Và tại sao chú ấy biết?
Đêm đó tôi lại trằn trọc. Gần sáng, tôi thiếp đi trong mệt mỏi, và trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe thấy tiếng vó ngựa xa xăm, đều đều, như vọng từ mặt sông lên.
Tôi choàng tỉnh. Ngoài cửa sổ, trời còn tối đen. Nhưng tôi thề là tôi vẫn nghe thấy, rất khẽ, tiếng ngựa hí trong màn sương sớm bên sông.
Một tiếng hí dài, buồn, rồi tắt lịm.
---