Bến Nước Cửa Đền - Chương 50: Người giữ bến
Một năm sau, rằm tháng tám. Tôi thức dậy từ khi trời còn chưa sáng, như mọi ngày trong suốt một năm qua. Việc đầu tiên tôi làm mỗi sáng là ra bến, thắp…
Nội dung chương
Một năm sau, rằm tháng tám.
Tôi thức dậy từ khi trời còn chưa sáng, như mọi ngày trong suốt một năm qua. Việc đầu tiên tôi làm mỗi sáng là ra bến, thắp ba nén hương lên bát hương đặt trên bậc đá thứ chín, rồi đứng nhìn mặt sông một lúc. Đó đã thành nếp sống của tôi, như hơi thở.
Bến Cửa Đền giờ đã khác xưa nhiều lắm. Sau khi được công nhận là di tích, chính quyền đã đầu tư tôn tạo: chín bậc đá được phục dựng nguyên trạng, bậc đá thứ chín với hoa sen khắc được che mái kính bảo vệ. Dọc bến trồng thêm hàng phượng vĩ và bằng lăng, mùa hè hoa nở đỏ tím cả một khúc sông. Một tấm bia đá ghi lịch sử bến và bảy đời giữ bến họ Phạm được dựng trang trọng ở đầu bến, du khách đến đọc ai cũng trầm trồ.
Nhưng điều quan trọng nhất không thay đổi: hương ở bến không bao giờ tắt. Mỗi sáng tôi thắp, mỗi tối có người trong thôn thay tôi trông. Đã thành lệ, như một lời thề không lời của cả thôn Cửa Đền.
Tôi đã được phục hồi công tác dạy học từ đầu năm. Quyết định phục hồi được gửi đến tận nhà, kèm theo lời xin lỗi của phòng giáo dục. Sáng dạy học ở trường làng, chiều ra bến trông hương, tối soạn giáo án. Cuộc sống bận rộn nhưng bình yên. Học trò của tôi giờ không chỉ học chữ, mà còn được tôi kể cho nghe về bến thiêng, về bảy đời giữ bến, về Quan Hoàng Bảy cưỡi ngựa trắng. Tôi muốn gieo vào lòng chúng tình yêu với khúc sông quê hương, để sau này dù đi đâu xa, chúng cũng nhớ về nguồn cội. Có đứa còn làm văn tả bến Cửa Đền đạt điểm mười, cô giáo chấm bài ghi lời phê: bài văn hay nhất năm.
Mẹ tôi giờ đã quen với việc con gái làm người giữ bến. Bà còn tự nguyện lo phần hương hoa cho bến mỗi rằm mồng một, tay run run mà vẫn cẩn thận chọn từng bông hoa đẹp nhất. Tóc bà bạc thêm nhiều, lưng còng thêm chút, nhưng mắt bà sáng lên mỗi khi nhìn bến đông vui. Bà bảo: mẹ giữ con, con giữ bến, bến giữ cả thôn mình. Ba đời đàn bà nhà mình, đời nào cũng gắn với khúc sông này.
Cụ Kính đã yếu đi nhiều. Cụ ngoài bảy mươi, sức khỏe không còn như xưa, đi lại phải chống gậy, mắt đã mờ. Nhưng tinh thần cụ vẫn minh mẫn, vẫn ra bến mỗi chiều ngồi nhìn sông. Cụ đã chính thức trao lại vai trò giữ hương cho tôi trong một buổi lễ nhỏ ở đền, trước sự chứng kiến của bà con và chính quyền xã. Cụ nói: đời giữ đền của cụ đã xong, giờ là đời giữ bến của con, hai việc tuy khác nhau nhưng cùng một gốc là giữ hương hỏa cho quê hương. Tôi quỳ nhận ấn tín của thủ từ, nước mắt trào ra. Cụ vỗ vai tôi: đừng khóc, đây là niềm vui, không phải nỗi buồn. Người giữ hương phải cười, hương mới thơm.
Thằng Khôi giờ đã chín tuổi, cao lớn phổng phao, học giỏi nhất lớp. Nó vẫn hay ra bến chơi với tôi sau giờ học, khi thì phụ tôi quét lá, khi thì ngồi nghe tôi kể chuyện bảy đời giữ bến. Nó kể, ở trường không còn ai trêu nó là đồ ma nhập nữa. Ngược lại, các bạn còn ngưỡng mộ vì nó là hậu duệ của thánh, có đứa còn xin nó kể chuyện ngựa trắng cho nghe. Nó cười tít mắt mỗi khi kể điều ấy, nụ cười hồn nhiên như ngày nào. Dòng họ Nguyễn nhà nó cũng đã nhận lại nhau, bà con xuôi ngược về thăm bến nườm nượp mỗi dịp lễ, có người còn khóc khi đặt chân lên bậc đá thứ chín.
Lê Văn Cò đã ra tù được hai tháng nhờ cải tạo tốt và được giảm án. Ngày hắn về, cả thôn ra đón, không ai xua đuổi, có bà còn mang cho hắn nải chuối. Hắn quỳ xuống lạy bà con, khóc như mưa. Hắn xin được làm người trông bến, ngày ngày quét dọn, tối trông hương cùng tôi. Hắn làm việc chăm chỉ, ít nói, như muốn dùng quãng đời còn lại để chuộc lỗi. Con gái hắn đã khỏi bệnh hẳn, đi học trở lại, mỗi chiều tan học lại chạy ra bến phụ bố quét lá, miệng hát líu lo. Nhìn hai bố con, tôi thấy lòng ấm áp. Bến này quả thật có sức mạnh cảm hóa con người, biến kẻ lầm lỗi thành người lương thiện.
Nguyễn Văn Tài cũng đã ra tù trước Cò vài tháng nhờ thành khẩn khai báo. Ông về quê, sống lặng lẽ trong căn nhà nhỏ, hay ra bến thắp hương mỗi sáng sớm khi chưa có ai, như một cách tạ tội âm thầm. Có lần tôi gặp ông ở bến lúc trời còn chưa sáng, ông cúi đầu chào tôi, mắt rưng rưng: cảm ơn cô đã không để tôi chìm hẳn, cảm ơn cô đã giữ cuốn sổ cẩn thận. Tôi chỉ gật đầu, không nói gì. Quá khứ đã qua, quan trọng là hiện tại ông đã biết quay đầu, biết thắp hương tạ tội mỗi sáng.
Còn Vũ Đình Sang, nghe nói hắn vẫn đang thụ án với bản án nghiêm khắc cho hai tội danh. Công ty Sông Hồng Xanh đã giải thể, trụ sở bỏ hoang. Khu đất hắn định làm bến du thuyền giờ thành bãi bồi trồng ngô xanh mướt của dân thôn, mỗi mùa ngô chín vàng rực cả một triền sông. Đời người, tham lam đến mấy rồi cũng về với đất, chỉ còn lại những gì mình đã gieo.
Sáng nay, rằm tháng tám, tròn một năm ngày lễ an vị. Thôn tổ chức lễ giỗ bến long trọng, đông vui như hội. Từ sáng sớm, bà con đã tề tựu, người mang hương hoa, người mang lễ vật. Các cụ cao niên mặc áo the khăn xếp, đám trẻ con mặc áo đẹp chạy lăng xăng. Tôi mặc áo dài trắng, đứng trước đàn lễ, đọc lại bài khấn giữ bến mà một năm qua tôi đã đọc thuộc đến từng chữ. Giọng tôi vang vọng khắp bến, hòa với tiếng sóng, tiếng gió, tiếng chim hót buổi sớm, tạo thành một bản hòa ca của đất trời.
Đọc xong bài khấn, tôi cắm ba nén hương vào bát. Khói hương cuộn lên trong nắng sớm, thơm ngát. Từ phía đền Bảo Hà trên núi, tiếng chuông ngân vang xuống, trong trẻo giữa buổi sáng yên bình. Chuông ngân khi không có gió, như một lời chúc phúc của đền dành cho bến, cho thôn, cho tôi. Tôi nhớ cụ Kính từng nói: chuông ngân trong bình yên là chúc phúc. Và hôm nay, chuông đang chúc phúc cho chúng tôi.
Tôi đứng trên bậc đá thứ chín, nhìn ra mặt sông. Nước sông mùa này vẫn đỏ phù sa, nhưng trong mắt tôi, nó đẹp một cách hiền hòa. Vực xoáy vẫn cuộn đều ở giữa dòng, nhưng tôi không còn sợ nó nữa. Tôi đã tha thứ cho nó từ đêm rằm năm ngoái, và tôi tin, nó cũng đã tha thứ cho tôi.
Thằng Khôi chạy đến bên tôi, tay cầm một bông sen trắng vừa hái ở đầm sen mới trồng ven bến, cánh sen còn đọng những giọt sương sớm long lanh:
- Cô Lan ơi, tặng cô! Sen năm nay nở đẹp lắm! Đẹp nhất từ trước đến giờ!
Tôi nhận bông sen, cài lên tóc, hương sen thơm ngát quyện với hương trầm từ đàn lễ. Nó cười tít mắt, rồi bỗng chỉ tay ra mặt sông, reo lên với giọng trong veo:
- Cô ơi! Bọt sen!
Tôi nhìn theo. Trên mặt sông, những cụm bọt trắng đang nổi lên, kết thành hình cánh sen, trôi nhẹ dưới nắng sớm. Bọt sen lại nở, như mỗi độ rằm tháng tám, như một lời hẹn ước giữa bến và người giữ bến.
Tôi nắm tay thằng Khôi, đứng nhìn bọt sen trôi trên mặt sông lấp loáng nắng. Gió sông thổi nhẹ, mang theo hương sen thơm ngát từ đầm sen mới trồng ven bến. Tiếng chuông đền vẫn ngân vang trong nắng sớm, như không bao giờ dứt, như một lời chúc phúc kéo dài mãi mãi.
Tôi nhìn quanh bến một lần nữa, thu vào mắt tất cả những gì thân thương nhất. Bậc đá thứ chín với hoa sen khắc nằm trang trọng dưới mái kính bảo vệ, sáng bóng dưới nắng sớm. Tấm bia đá ghi lịch sử bến và bảy đời giữ bến sừng sững ở đầu bến, chữ khắc sâu rõ ràng. Đàn lễ đêm qua còn thơm mùi hương trầm. Bà con đang dọn dẹp, tiếng cười nói rộn ràng khắp bến. Mẹ tôi đang chia lộc cho trẻ con, đứa nào cũng hớn hở. Cụ Kính ngồi trên ghế đá dưới gốc phượng, mỉm cười hiền từ nhìn mọi thứ, như một người cha già nhìn đàn con sum họp.
Tôi, Phạm Thị Lan, ba mươi ba tuổi, cô giáo làng, người giữ bến đời thứ tám. Một năm qua, tôi đã giữ được hương không tắt một ngày nào, dù mưa hay nắng, dù ốm hay khỏe. Và tôi sẽ giữ tiếp, cho đến khi nào không còn giữ được nữa, rồi trao lại cho đời sau, như bảy đời trước đã trao cho tôi.
Bến Cửa Đền bình yên. Sông Hồng vẫn chảy, đỏ phù sa như máu thịt của đất. Hương vẫn thơm, khói vẫn bay. Và câu chuyện của chúng tôi, câu chuyện về một bến nước, một dòng họ, và một lời thề giữ hương, sẽ còn được kể mãi cho muôn đời sau, như sông vẫn chảy mãi về xuôi.