Bến Nước Cửa Đền - Chương 49: Di tích

Khuya đêm rằm, khi lễ an vị vừa kết thúc, một đoàn cán bộ từ huyện và tỉnh đã có mặt tại bến. Dẫn đầu là vị chủ tịch huyện, theo sau là các cán bộ văn…

Nội dung chương

Khuya đêm rằm, khi lễ an vị vừa kết thúc, một đoàn cán bộ từ huyện và tỉnh đã có mặt tại bến. Dẫn đầu là vị chủ tịch huyện, theo sau là các cán bộ văn hóa và công an. Họ đến không phải để dự lễ, mà để công bố một quyết định đã được chuẩn bị từ trước.

Giữa ánh nến còn cháy rực của đàn lễ, vị chủ tịch huyện bước lên, tay cầm một tập hồ sơ đỏ, giọng rõ ràng từng chữ:

- Bà con thôn Cửa Đền! Sau khi xem xét hồ sơ và khảo sát thực tế, căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa của bến đá cổ với chín bậc đá, cùng các hiện vật kiếm đồng khắc chữ Bảo Hà và gia phả họ Phạm bảy đời giữ bến...

- Hôm nay, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận Bến Cửa Đền là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh! Quyết định có hiệu lực từ ngày hôm nay!

Ông giơ cao tờ quyết định có đóng dấu đỏ. Cả bến vỡ òa. Tiếng vỗ tay vang dội cả khúc sông, át cả tiếng sóng. Người ta ôm nhau, khóc cười lẫn lộn. Bà cụ Tám run run nói với người bên cạnh, nước mắt lã chã:

- Bến mình thành di tích rồi! Từ nay không ai dám động vào bến nữa!

Vị chủ tịch tiếp tục, giọng sang sảng:

- Kể từ hôm nay, mọi hành vi san lấp, hủy hoại bến đều là phạm pháp, sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. Chính quyền sẽ phối hợp với thôn để bảo vệ, tôn tạo bến, phát triển du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững, hài hòa với tín ngưỡng của bà con, để bến vừa là nơi thờ tự, vừa là niềm tự hào của quê hương.

Tôi đứng đó, nghe từng chữ mà nước mắt cứ trào ra. Bao nhiêu tháng đấu tranh, bao nhiêu lần thua, bao nhiêu đêm thức trắng giữ hương, cuối cùng bến cũng được pháp luật công nhận và bảo vệ. Từ nay, không một Vũ Đình Sang nào có thể động vào bến nữa.

Cùng ngày hôm ấy, cơ quan điều tra cũng công bố: Vũ Đình Sang bị khởi tố về tội hủy hoại di tích và đưa hối lộ, với đầy đủ bằng chứng là sổ sách, lời khai và quả tang tại hiện trường. Nguyễn Văn Tài bị khởi tố về tội nhận hối lộ, dù đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo nên được xem xét giảm nhẹ. Lê Văn Cò bị khởi tố về tội trộm cắp và hủy hoại tài sản, nhưng được xem xét giảm nhẹ vì đã ra đầu thú, giao nộp vật chứng và thành khẩn khai báo. Pháp luật đã làm trọn việc của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, cũng không oan sai người biết quay đầu.

Sau lễ công bố, cụ Kính và tôi được mời lên đền Bảo Hà để làm lễ đặt hiện vật. Đoàn người rước kiếm đồng và gia phả lên đền trong im lặng trang nghiêm, đi thành hàng dài từ bến lên núi. Đi đầu là cụ Kính ôm kiếm đồng trên khăn điều đỏ, tôi ôm cuốn gia phả gốc vừa được cơ quan điều tra trả lại sau khi kết thúc vụ án, cùng với trang gia phả cuối mà Cò đã giao nộp được bọc cẩn thận. Theo sau là thằng Khôi ôm bức tranh bảy bóng vẽ bằng than củi, mẹ tôi ôm mâm lễ vật, và đông đảo bà con tay cầm hương hoa. Đoàn người đi trong ánh trăng rằm, hương khói cuộn lên, tạo thành một cảnh tượng thiêng liêng mà ai chứng kiến cũng phải rùng mình.

Trong điện chính đền Bảo Hà, trước ban thờ Quan Hoàng Bảy nghi ngút khói hương, cụ Kính đặt thanh kiếm đồng lên giá gỗ đã chuẩn bị sẵn, phủ khăn điều đỏ. Tôi đặt cuốn gia phả gốc vào hộp kính, bên cạnh là bản sao gia phả được làm cẩn thận từng trang để bà con và du khách thập phương có thể xem mà không làm hỏng bản gốc. Trang gia phả cuối được đặt ngay vào chỗ trang đã bị xé, khép lại món nợ trăm năm của hai dòng họ. Mẹ thằng Khôi đặt miếng ngọc bội đã khớp nguyên vẹn vào khay bạc, đặt cạnh kiếm đồng.

Cụ Kính thắp ba nén hương, khấn vái thật lâu, miệng lẩm bẩm những lời chỉ mình cụ nghe rõ. Rồi cụ quay sang mọi người, giọng trang trọng mà nghẹn ngào.

- Từ hôm nay, kiếm đồng và gia phả họ Phạm được đặt tại đền Bảo Hà, để thánh chứng giám, để muôn đời sau biết rằng khúc sông này đã từng có bảy đời người giữ bến, và nay có đời thứ tám tiếp nối.

Mọi người cùng quỳ lạy. Khói hương cuộn lên, thơm ngát cả điện thờ, bay ra ngoài sân đền, quyện với sương đêm. Tôi quỳ đó, nhìn thanh kiếm đồng nằm trang trọng trên giá gỗ, nhìn cuốn gia phả trong hộp kính, nhìn miếng ngọc bội xanh biếc, lòng trào dâng một niềm tự hào khó tả. Những vật chứng của bao nhiêu đau thương, mất mát, của bao nhiêu đêm không ngủ, giờ đã yên vị nơi tôn nghiêm nhất, dưới sự chứng giám của thánh.

Sau lễ đặt hiện vật, một nghi thức đặc biệt diễn ra mà không ai ngờ tới. Mẹ của thằng Khôi bước lên, tay run run cầm một nửa miếng ngọc bội màu xanh ngọc bích, mặt ngọc khắc nửa hình con ngựa. Bà nói, giọng nghẹn ngào mà rõ ràng:

- Đây là vật gia truyền của nhà họ Nguyễn chúng tôi, truyền từ đời này sang đời khác mà không ai biết ý nghĩa, chỉ biết phải giữ gìn cẩn thận. Các cụ dặn, nửa còn lại ở nơi thiêng, khi nào hai nửa gặp nhau thì dòng họ sẽ tìm về cội nguồn. Hôm nay, tôi muốn...

Bà nhìn về phía tôi, mắt rưng rưng. Tôi sững người, vội lấy từ trong túi áo ra nửa miếng ngọc bội còn lại, nửa miếng tôi tìm thấy trong hũ gốm dưới bậc đá thứ chín từ hôm đào được, mặt ngọc cũng khắc nửa hình con ngựa.

Hai nửa ngọc bội được đặt cạnh nhau trên khay bạc trước ban thờ. Và kỳ diệu thay, chúng khớp với nhau một cách hoàn hảo, tạo thành một miếng ngọc tròn nguyên vẹn, mặt ngọc khắc hình một con ngựa trắng đang phi nước đại, xung quanh là những đường vân mây tinh xảo.

Cả điện thờ ồ lên kinh ngạc. Nhiều người rùng mình, có bà còn quỳ sụp xuống lạy. Cụ Kính run run cầm miếng ngọc lên, xem kỹ dưới ánh nến rồi tuyên bố, giọng vang vọng:

- Ngọc bội này là tín vật của dòng dõi Quan Hoàng Bảy! Một nửa được chôn cùng kiếm đồng dưới bậc đá thứ chín, một nửa do dòng họ Nguyễn giữ gìn bao đời. Hôm nay hai nửa khớp nhau, chứng tỏ nhà họ Nguyễn chính là dòng dõi của thánh, và bé Khôi chính là hậu duệ đời thứ bảy, điều mà hộ tịch và gia phả đã xác minh từ trước! Trời xanh có mắt, cội nguồn đã tìm về!

Mẹ của thằng Khôi ôm chầm lấy con, khóc nức nở. Bao nhiêu năm mang tiếng là nhánh họ thất lạc, bao nhiêu ngày bị người ta rêu rao con mình bị ma nhập, bị dân xa lánh, hôm nay dòng họ bà đã được minh oan một cách thiêng liêng nhất, trước ban thờ thánh, trước mắt bao người. Mấy bà trong thôn xúm lại an ủi, có bà còn xin lỗi vì đã từng tin lời đồn nhảm. Mẹ thằng Khôi chỉ lắc đầu, cười trong nước mắt: qua rồi, tất cả qua rồi.

Thằng Khôi ngơ ngác nhìn mọi người, rồi nhìn tôi, cười tít mắt, nụ cười hồn nhiên như ngày nào nó tỉnh lại sau vụ chết đuối. Tôi ôm nó vào lòng, thì thầm:

- Khôi ơi, từ nay không ai dám bảo con bị ma nhập nữa. Con là hậu duệ của thánh, con là niềm tự hào của cả khúc sông này, của cả thôn Cửa Đền này.

Đêm ấy, khi mọi người đã ra về, tôi ở lại đền một mình. Tôi đứng trước ban thờ, nhìn miếng ngọc bội nguyên vẹn nằm trang trọng trên khăn điều đỏ, nhìn thanh kiếm đồng, nhìn cuốn gia phả. Và chợt hiểu ra một điều: mọi mảnh ghép của câu chuyện này, từ hũ gốm, kiếm đồng, gia phả, đến ngọc bội, đến thằng Khôi, đều đã tìm về đúng vị trí của mình sau bao nhiêu năm thất lạc. Như thể có một bàn tay vô hình sắp đặt từ đầu, chỉ chờ đến đêm rằm này để mọi thứ khớp lại với nhau.

Tôi quỳ xuống trước ban thờ, nhìn hai nửa ngọc bội đã khớp thành một, lạy tạ ba lạy. Ánh nến phản chiếu trên mặt ngọc xanh biếc, hình con ngựa trắng như đang phi nước đại giữa những đường vân mây. Ngoài kia, trăng rằm vẫn sáng vằng vặc trên khúc sông Hồng đỏ phù sa, sương bắt đầu giăng nhẹ.

Bến đã thành di tích. Kiếm và gia phả đã yên vị tại đền. Hai dòng họ, hai nửa ngọc bội, cuối cùng cũng nhận ra nhau trước ban thờ thánh. Món nợ trăm năm đã được trả. Lời nguyền đã được hóa giải. Từ nay, khúc sông này chỉ còn lại bình yên, và hai dòng họ sẽ cùng nhau giữ bến, như hai nửa ngọc bội đã khớp thành một không thể tách rời, như lời thề giữ hương đời đời không tắt. Tôi ngẩng lên nhìn trăng rằm sáng vằng vặc trên sông, lòng thầm hứa với bảy đời tổ tiên: nén hương này, tôi sẽ giữ đến hơi thở cuối cùng.

---

Chương khác

Xem thêm