Bến Vô Danh - Chương 28: Lễ cúng lúc ba giờ sáng

Ba giờ ba mươi phút sáng. Đồng hồ ở bến phà An Khánh vừa dứt ba tiếng rưỡi cục cằn, tiếng nào như tiếng đá chọi vào mặt nước. Ông Ba Thuận ngồi xếp bằng…

Nội dung chương

Ba giờ ba mươi phút sáng. Đồng hồ ở bến phà An Khánh vừa dứt ba tiếng rưỡi cục cằn, tiếng nào như tiếng đá chọi vào mặt nước.

Ông Ba Thuận ngồi xếp bằng trước mũi ghe.

Gió đêm cuối hè thổi từ hướng Thanh Đa về, mang theo mùi bùn sình trộn mùi nhang cháy dở của mấy cái am nhỏ dọc bờ. Trên trời, mặt trăng rằm nghiêng về phía tây, tròn vành vạnh mà trắng nhợt như con mắt người chết mở không khép. Ông nhìn trăng một lát rồi cúi đầu, không nhìn nữa. Đêm nay ông phá cấm kỵ lần thứ hai trong đời. Đêm rằm trăng tròn, ông lặn xuống vực xoáy một lần rồi, và ông biết lần này ông không lặn nữa, ông đưa con về theo một cách khác.

Trước mặt ông, cái lon sữa bò cũ nằm ngay ngắn trên mũi ghe, ba nén nhang đỏ đã cắm sẵn. Ông châm lửa. Khói nhang bay lên, quấn vào gió, tản ra trên mặt sông đen như mực. Mùi nhang thơm cay, lẫn mùi dầu khuynh diệp ông vừa bôi quanh mũi. Hôm nay ông bôi ít dầu hơn mọi lần. Xác chưa lên, mùi bùn sình chưa đến, ông bôi nhiều chỉ tổ ngửi không ra mùi của con.

Kế bên bát hương, một cái thau nhôm cũ. Trong thau, nước lá bưởi đun từ chiều, mặt nước phủ một lớp lá bưởi thái nhỏ, hơi nóng còn bốc lên. Chai rượu thơm đặt cạnh, nút chai đã mở. Cả hai thứ đó đáng lẽ dùng để tắm rửa cho xác người lạ vớt được. Đêm nay ông chuẩn bị cho con mình.

Ông ngồi im như pho tượng. Năm phút. Mười phút. Tiếng còi sà lan xa xa vang lên, dài một hơi rồi tắt. Sóng vỗ vào chân cầu Bình Lợi cũ, kêu lóc cóc như ai đó gõ cửa trong đêm. Ông không động đậy.

Rồi ông cất tiếng khấn. Giọng khàn, nhỏ, như nói một mình.

- Minh ơi.

Một tiếng gọi thôi mà gió như ngừng một nhịp.

- Đêm nay ba đưa con lên bờ. Con chịu lạnh năm năm rồi, đủ rồi con.

Ông dừng lại. Tay ông run run lấy trong túi áo ra chiếc vòng bạc. Vòng khắc chữ M-T, mặt trong đã mòn vì bao năm ông đeo không rời. Ông giơ vòng lên trước khói nhang, để khói quấn quanh vòng một vòng.

- Vòng này ba đeo cho con một chiếc, giữ cho ba một chiếc. Năm xưa con mất, ba tìm mãi không thấy chiếc của con đâu. Bây giờ ba biết rồi. Tuấn nó trả lại cho con rồi.

Ông nói đến đây, họng nghẹn lại. Ông hít một hơi mùi dầu khuynh diệp, nuốt xuống.

- Đêm nay ba xuống nước, cha con mình gặp nhau. Ba cài vòng này vào túi áo, con cầm lấy tay ba, hai chiếc vòng chạm nhau là một cặp cho đủ. Mười tám năm con đeo nó, ba đeo nó. Đừng lạc nhau nữa con nghe.

Ông gấp vòng lại, cài cẩn thận vào túi áo ngực trái, phía trên tim. Túi áo vải đã sờn, ông vỗ vỗ hai cái cho chắc.

Xong, ông quay sang cuộn dây néo xác để ở mạn ghe. Dây thừng bện vỏ dừa, to bằng cổ tay đứa trẻ, quấn vải đỏ ở hai đầu. Ba mươi năm trong nghề, ông bện dây này nhắm mắt cũng bện được. Đầu dây buộc thắt nút kép, nút của người chèo ghe, kéo mạnh mấy cũng không tuột, chỉ có người buộc mới tháo được. Ông kiểm tra từng mắt nút một lần cuối, rồi để dây ngay ngắn cạnh thau nước.

Nghề vớt xác có lệ: không bế xác lên ghe, sợ vía lạnh ám vào ghe, ám vào người sống. Phải dùng dây néo buộc vào cổ tay hoặc thắt lưng xác, rồi chèo ghe kéo xác lờ đờ theo đuôi ghe mà về bến. Người ngoài nhìn vào thấy ghê, thấy lạnh lùng, nhưng đó là cách người làm nghề giữ cho cả người chết lẫn người sống được yên. Xác không bị xô đẩy, người sống không bị ám. Ba mươi năm, ông kéo hơn ba trăm thi thể bằng cách đó. Chưa một lần ông làm sai lệ. Đêm nay ông cũng không làm sai. Ông kéo con ông về đúng như ông đã kéo bao người lạ về. Công bằng như sông nước.

Ông ngồi xuống, hai tay ôm lấy thau nước lá bưởi. Hơi nóng phả vào mặt. Ông nhớ bà Sen. Hồi bà còn sống, mỗi lần ông vớt được xác đem về, bà là người đun nước lá bưởi, pha rượu thơm. Bà bảo người chết trôi sông lạnh lẽo lắm, tắm cho họ bằng nước thơm cho ấm. Bà mất khi Minh mười tuổi, từ đó ông tự đun nước, tự pha rượu, tay nghề không khéo bằng bà nhưng chưa bao giờ bỏ. Đêm nay ông đun nước cho con mình. Tay ông run khi thả từng nắm lá bưởi vào nồi. Mùi lá bưởi thơm nồng, át cả mùi dầu khuynh diệp.

- Sen ơi, - ông khấn thầm, - đêm nay tui đưa thằng Minh về. Bà phù hộ cho cha con tui.

Mọi thứ đã sẵn.

Ông ngồi thẳng dậy, nhìn ra mặt sông. Phía Thanh Đa, mặt nước tối đen, chỉ có ánh trăng vỡ thành ngàn mảnh bạc nhỏ. Ở chính giữa cái đen đó là vực xoáy, cái hố cát tử thần mà ba mươi năm ông né như né quỷ. Dưới đó, con ông nằm năm năm, xích sắt quấn ngang hông, bê tông đè lên chân.

Ông lẩm bẩm, không biết nói với ai:

- Ba xin lỗi con. Năm năm ba không tìm được con. Ba là thằng cha vô dụng.

Gió thổi qua, khói nhang bay vào mặt ông. Cay. Ông chớp mắt mấy cái.

Phía xa, bên kia sông, một cái xuồng nhỏ trôi lững lờ. Không đèn, không tiếng mái chèo. Ông nhìn chằm chằm. Cái xuồng trôi ngang qua bãi bồi rồi mất hút sau chân cầu. Ông không biết đó là xuồng ai. Có thể chỉ là xuồng của dân vạn đò cột không chặt, trôi đi. Nhưng tim ông đập mạnh một cái. Đêm nay ông nhạy cảm với mọi thứ trôi trên sông. Đêm nay ông đưa con về, ông không muốn bất cứ thứ gì lạ xen vào.

Ông quay lại bát hương. Ba nén nhang đã cháy được một phần ba. Ông cắm thêm một nén nữa, nén thứ tư, trái với lệ thường ba nén. Nén này ông cắm riêng cho Minh. Ông khấn thầm trong đầu: nhang dẫn đường, con đi theo khói nhang mà lên, đừng đi lạc vào rốn nước.

Trong nhà nhỏ trên ghe, tiếng Quân trở mình. Quân nằm đó từ khuya, sau khi gọi điện cho Đại úy Bảo. Quân bảo ông ngủ đi, ba giờ Quân dậy cùng. Ông không ngủ. Ông ngồi đây một mình, vì lễ cúng này là của ông và con ông, không ai chen vào được.

Ông nhớ lại đêm Minh mười tám tuổi. Ông lấy hai chiếc vòng bạc ra, khắc chữ. T-M đeo cho con, M-T giữ cho mình. Minh cười, bảo vòng con trai đeo quê lắm ba. Ông bảo quê thì quê, mất nhau còn có cái mà nhận. Ai ngờ câu nói đùa đó thành sự thật, mà thành theo cách đau nhất.

Ông nhớ Minh mười tuổi, đêm mẹ mất. Thằng bé ngồi bên quan tài, không khóc, chỉ hỏi ba một câu: mẹ đi rồi có lạnh không ba. Ông không trả lời được. Tối đó ông ôm con ngủ, hai cha con co ro trong cái ghe chật. Năm năm sau, thằng bé đi chèo đò đêm kiếm tiền học, rồi không về nữa.

Năm năm ông thắp nhang mỗi rằm. Năm năm ông lặn khắp các khúc sông người ta đồn có xác trôi. Năm năm ông không dám tin con mình chết, mà cũng không dám tin con mình còn sống.

Đêm nay thì ông biết. Con ông nằm dưới vực Thanh Đa. Xương lạnh năm năm. Và đêm nay, dù trời sập, ông cũng đưa con lên.

Ông đứng dậy, vươn vai. Lưng ông kêu răng rắc. Năm mươi tám tuổi, ba mươi năm lặn sông, cái lưng này đã còng từ lâu. Ông bước ra mạn ghe, nhìn đồng hồ. Ba giờ hai mươi.

Còn bốn mươi phút nữa đến bốn giờ. Bốn giờ là giờ bọn chúng ra tay.

Ông cúi xuống, lấy chai dầu khuynh diệp bôi thêm một lớp quanh mũi. Mùi hăng xộc lên, át mùi bùn. Ông buộc lại dây giày vải, siết chặt. Ông kiểm tra con dao găm đeo ở bắp chân, lưỡi dao sáng loáng dưới ánh trăng. Không phải để đâm ai. Để cắt dây, cắt lưới, cắt bất cứ thứ gì quấn lấy ông và con dưới nước.

Ông quay vào, lay vai Quân.

- Dậy. Ba giờ hai mươi rồi.

Quân ngồi bật dậy như lò xo. Mắt anh đỏ ngầu vì thiếu ngủ, nhưng tỉnh táo ngay.

- Ông cúng xong rồi à?

- Xong.

Quân nhìn ra mũi ghe, thấy bát hương bốn nén nhang, thau nước lá bưởi, cuộn dây néo. Anh im lặng một lúc rồi nói:

- Ông Ba, đêm nay dù có chuyện gì, ông nhớ giữ lấy mình. Minh nó cần ông đưa về, không cần ông đi theo nó.

Ông Ba Thuận nhìn Quân, gật đầu một cái. Ông không hứa. Ông không hứa được những điều ông không chắc làm được.

Quân bước ra mũi ghe, châm một điếu thuốc. Hai người đàn ông đứng cạnh nhau trong đêm, không ai nói gì thêm. Khói thuốc và khói nhang quấn vào nhau, bay về phía Thanh Đa.

Phía đông, trời vẫn đen kịt. Nhưng ông Ba Thuận biết, ở chân trời xa kia, bình minh đang đến. Và trước bình minh, đêm nay sẽ là đêm dài nhất trong đời ông.

Ông vỗ vào túi áo ngực. Chiếc vòng M-T nằm đó, ấm dần lên vì hơi người.

- Chờ ba, con nhé.

Tiếng ông nhỏ như hơi thở. Sông không trả lời. Sông chưa bao giờ trả lời. Nhưng đêm nay, ông Ba Thuận tin rằng ở đâu đó dưới đáy vực sâu mười tám mét, có một bộ xương đang nghe thấy tiếng cha gọi.

Chương khác

Xem thêm