Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 1: Thùng xe vỉa hè 1985

Cái nóng hầm hập của con hẻm cụt sâu hoắm bên hông đường Lò Siêu quẩn quanh trong gian xưởng chưa đầy ba mươi mét vuông. Quạt trần đảo từng vòng lười…

Nội dung chương

Cái nóng hầm hập của con hẻm cụt sâu hoắm bên hông đường Lò Siêu quẩn quanh trong gian xưởng chưa đầy ba mươi mét vuông. Quạt trần đảo từng vòng lười nhác, rít lên từng chập khô khốc mỗi khi cánh sắt chém qua luồng gió hầm hập bốc lên từ mặt sàn xi măng chưa kịp nguội sau một ngày phơi nắng.

Tạ Viết Thành với tay vặn chiếc chụp đèn halogen công suất lớn hạ thấp xuống sàn. Vệt sáng vàng rực gom lại thành một quầng tròn chói gắt, bao trọn lấy chiếc thùng xe nước mía bằng gỗ vừa được đội ba gác chuyển vào lúc xế chiều.

Chủ quán cà phê hoài cổ bên đường Triệu Quang Phục gom được món này từ một vựa đồng nát mé chân cầu Tân Thuận. Hắn trả tròn tám triệu tiền công, ứng trước một nửa, chỉ kèm đúng một yêu cầu: giữ nguyên cốt gỗ và phục dựng trọn vẹn lớp sơn gốc của năm 1985. Thành nhận kèo không đắn đo. Bảy năm tốt nghiệp khoa Hội họa của trường Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, mảng biển hiệu vỉa hè trước thời kỳ Đổi Mới vốn là miếng cơm bén ngót của anh. Mấy tay chơi đồ cổ Chợ Lớn đều biết tiếng xưởng Thành Chổi. Bảng hiệu sơn dầu tay, chữ kẻ viền đôi kiểu hủ tiếu mì hay vách tôn dập nổi của các tiệm may Đô Thành thời trước, qua tay anh dặm véc-ni đều ra đúng chất phong trần của thời gian mà không bị dại màu.

Chiếc thùng xe nước mía nằm lặng lẽ giữa gian phòng nồng nặc mùi xăng thơm pha sơn dầu.

Toàn bộ khung sườn đóng bằng gỗ sao dày hai phân, loại ván tạp dỡ từ trần nhà cũ thời thập niên tám mươi, góc nẹp bằng các thanh nhôm lá cố định bằng đinh ri-vê nhôm thụt đầu. Bốn bánh xe cao su đặc đã mòn vẹt tới tận vành sắt gỉ đỏ quạch, một bên lốp nứt toác lộ cả tao thép bện mục nát bên trong. Phía trên thùng xe là bộ trục ép ba quả lô bằng gang đúc nguyên khối, rỉ sét bám từng tảng dày cộm như vảy sừng tê giác, khóa cứng ngắc trục quay tay chữ T.

Nhưng tâm điểm của cả chiếc thùng xe nằm ở mặt trước: tấm biển hiệu bằng gỗ ép kích thước sáu mươi nhân tám mươi phân.

Thành nghiêng đầu, nheo mắt soi bóng đèn rọi sát vào mặt ván. Bức vẽ Cô Mía cổ điển hiện ra dưới lớp bụi bặm và mạng nhện giăng mắc chằng chịt. Nét cọ thuộc về một người thợ vẽ biển rong tay nghề bậc thầy của khu Chợ Lớn cũ. Người con gái trong tranh có gương mặt tròn đầy phúc hậu, mái tóc uốn lọn bồng bềnh phủ ngang vai theo đúng mốt của các thiếu nữ thị thành giai đoạn 1980 - 1985. Đôi lông mày lá liễu kẻ bằng mực tàu cong vút, gò má dặm phấn hồng cam, khóe môi thoa son cánh sen hơi nhếch lên thành một nụ cười kín đáo. Đôi tay thon thả của cô gái đang nâng niu một ly nước mía đầy ngọn bọt trắng xốp, cắm chiếc ống hút nhựa màu sọc đỏ.

Lớp véc-ni tự nhiên ngày xưa thợ pha bằng cánh kiến đỏ quét phủ ngoài cùng đã bị thời gian nung nấu, rạn nứt thành những đường chân chim li ti như mai rùa. Bụi khói xe dầu, dầu mỡ thức ăn vỉa hè cùng mồ hôi của hàng chục năm buôn bán bám chặt lấy bề mặt, kết thành một màng cáu ghét màu nâu cánh gián che lấp gần hết các mảng màu nguyên thủy.

Thành với tay lấy cái bay thép cạo sơn lưỡi cong và một búi giẻ lau khô. Anh ngồi bệt xuống chiếc đòn gỗ thấp, với lấy hộp dầu hỏa đặt dưới chân.

Mộc sao vườn, sơn dầu Bạch Tuyết pha xăng máy bay. Cỡ này chỉ cần bóc lớp véc-ni chết là nét cọ bên dưới lộ ra ngay.

Anh lẩm bẩm một mình, giọng đều đều để xua bớt sự vắng lặng của con hẻm lúc mười một giờ đêm. Ngoài đầu ngõ, tiếng xe máy thưa dần, chỉ còn tiếng đập đá lóc cóc của mấy xe chè thưng đẩy ngang qua con đường lớn ngoài xa.

Thành đeo khẩu trang vải dày hai lớp, kéo kính bảo hộ sát sống mũi. Tay phải anh cầm cán bay, ngón trỏ tì chặt lên sống thép, rê một đường dài từ góc trên cùng bên trái của tấm biển - nơi lớp chữ

NƯỚC MÍA SIÊU SẠCH - NGUYÊN CHẤT.

đã mờ căm chỉ còn vết bóng mờ.

Lưỡi thép cạo phát ra một tiếng rẹt khô khốc. Lớp véc-ni giòn tan bung ra từng mẩu vụn li ti như vỏ trấu.

Thành thổi nhẹ, lớp bụi vàng nhạt bay là đà rồi rơi lả tả xuống nền xi măng. Anh mỉm cười hài lòng. Nền ván bên dưới vẫn còn chắc chắn, chưa bị mối mọt đục rỗng ruột. Dưới góc nhìn của một người phục chế, đây là một tiêu bản hoàn hảo. Mười năm lăn lộn với nghề, anh gặp không ít tấm bảng mục nát đến mức vừa đưa mũi dao vào thì cả thớ gỗ đã sụp xuống thành đống mùn cưa.

Anh dịch chuyển đòn gỗ, kéo ngọn đèn halogen rọi chếch một góc bốn mươi lăm độ để ánh sáng hắt bóng rõ từng vết rạn nứt trên mặt sơn. Điểm tiếp theo cần xử lý là phần viền mái tóc uốn bồng bềnh của cô gái trong tranh. Chỗ này lớp sơn dầu màu đen than củi có dấu hiệu phồng rộp do độ ẩm ngậm lâu ngày bên trong thớ ván.

Thành đặt mép lưỡi sủi vào ngay ranh giới giữa lọn tóc quăn và khoảng nền trời màu xanh lơ phía sau.

Anh dồn lực cổ tay, chuẩn bị đẩy một đường dứt khoát để bóc lớp biểu bì ố đen.

Đúng lúc mũi sủi cấn vào thớ gỗ, một cảm giác kỳ lạ chạy dọc từ cán thép qua lớp găng tay len mỏng, xộc thẳng vào các khớp ngón tay Thành.

Khớp tay anh cứng đờ. Mặt ván gỗ sao dưới quầng sáng rực của bóng đèn rọi phát nhiệt hàng trăm oát bỗng nhiên lạnh toát. Đó là cái lạnh buốt của một phiến đá tảng ngâm dưới đáy giếng hoang giữa mùa đông, tê tái và khô khốc. Cơn ớn lạnh không dừng ở đầu ngón tay mà men theo mạch máu chạy thẳng lên cùi chỏ, làm các thớ cơ bắp tay co rút lại đột ngột.

Thành giật thót, buông tay ra khỏi cán sủi. Chiếc bay thép rơi cạch một tiếng chói tai xuống nền xưởng, nảy lên hai nhịp rồi nằm im cạnh bánh xe bọc sắt.

Gì vậy trời?

Anh tháo găng tay, bóp bóp các đốt ngón tay đang run rẩy. Lòng bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi lạnh, nhưng bề mặt da thịt lại sởn gai ốc từng mảng. Anh ngước mắt nhìn lên chiếc quạt trần. Quạt vẫn quay đều, phả xuống luồng không khí ấm nóng đặc trưng của đất Sài Gòn mùa khô. Bóng đèn halogen trên trán anh vẫn tỏa nhiệt hừng hực đến mức Thành cảm thấy rát cả gò má.

Không có lý do gì một miếng ván gỗ khô đặt dưới ngọn đèn cả tiếng đồng hồ lại có thể mang cái nhiệt độ của một khối nước đá như thế.

Thành hít sâu một hơi, tự trấn an. Làm nghề này, việc tiếp xúc với hóa chất tẩy rửa, dung môi pha sơn hữu cơ độc hại như toluene hay acetone trong thời gian dài rất dễ gây ra hiện tượng rối loạn thần kinh ngoại biên hoặc co thắt mạch máu cục bộ. Tuần trước anh vừa bóc lớp sơn mài cho một cánh tủ thờ ở Chợ Quán, hít phải khói xăng thơm suốt ba đêm liền, đầu óc đến giờ vẫn còn váng vất.

Anh nhặt chiếc bay thép lên, dùng vạt áo thun lau sạch bụi bám trên lưỡi kim loại. Lần này Thành không dùng lực đẩy mạnh. Anh hạ thấp trọng tâm, hai tay ghìm chặt cán gỗ, thận trọng áp mép thép vào đúng vết nứt cũ ở mép tóc Cô Mía, nghiêng một góc ba mươi độ rồi nhẹ nhàng ấn tới.

Lưỡi thép sấn vào lớp sơn bả dày cộp.

Một tiếng

xực.

nhỏ vang lên, cảm giác như mũi dao vừa cắt qua một lớp da thịt dai nhách chứ không phải lớp ván ép giòn khô của bốn mươi năm trước.

Mảng sơn màu nâu đen phủ trên vành tai và lọn tóc cô gái tróc ra một mảng to bằng ngón tay cái.

Ngay tại vết nứt vừa mở toang, một luồng khí nồng nặc lập tức phì ra, xộc thẳng qua hai lớp khẩu trang dày cộp của Thành.

Mùi mía khét lẹt.

Thành giật nẩy mình lùi phắt lại phía sau, ngã ngửa ra sàn xi măng, chiếc đòn gỗ lăn lóc sang một bên. Anh giật phăng chiếc khẩu trang xuống, lồng ngực co thắt dữ dội vì cơn buồn nôn đột ngột ập đến.

Đó là thứ mùi ngọt lịm đến tởm lợm của nước mía tươi bị đun sôi trên lửa than cho đến khi cạn kiệt, cháy đen thành lớp đường caramen cháy khét bám chặt đáy nồi gang. Nhưng xen lẫn trong cái vị ngọt khét cháy đó là một mùi tanh tưởi lờ lợ, nằng nặng như mùi bùn rác ứ đọng nhiều năm dưới đáy cống lộ thiên, lại thoang thoảng mùi oi nồng của mồ hôi và tóc cháy.

Một thứ mùi hoàn toàn không thể tồn tại bên trong một thanh ván gỗ đã phơi khô queo suốt gần bốn mươi năm trời.

Khụ... khụ!

Thành ho sặc sụa, hai mắt cay xè chảy cả nước mắt. Anh quỳ rạp dưới sàn, chống hai tay xuống nền xi măng lạnh để thở dốc. Con hẻm bên ngoài vẫn im lìm, không một tiếng động. Chỉ có tiếng kim loại của bộ quả lô máy ép mía trên thùng xe bỗng dưng phát ra một tiếng

cách.

rất khẽ, như thể một bánh răng bên trong hộp số vừa trượt nhẹ khỏi khớp.

Thành ngẩng đầu lên, mắt trừng trừng nhìn vào vết cạo trên mặt tấm biển hiệu.

Dưới ánh đèn halogen vàng rực, chỗ vảy sơn vừa bị bóc tách không lộ ra thớ gỗ màu nâu nhạt của gỗ sao như những phần rìa mé ngoài.

Lớp cốt bên dưới lớp sơn bả ướt sũng.

Một chất dịch nhờn màu vàng sậm, dẻo quánh như mật mía lâu năm, đang rịn ra từ thớ gỗ mục rỗng. Nó ứa ra chậm chạp, tụ lại thành một giọt tròn vo ngay mép vết cắt, rồi lững thững lăn dài xuống gò má vẽ của Cô Mía.

Vết tích của giọt chất lỏng đi qua tẩy sạch lớp bụi bám trên mặt sơn cổ, để lộ ra làn da vẽ màu trắng sứ bên dưới. Dưới ánh sáng vàng gắt, nụ cười mỉm ngậm ống hút của cô gái hình như vừa méo xệch đi một chút về phía bên trái, khóe mắt vẽ bằng mực tàu đen nhánh như đang dán chặt cái nhìn lạnh băng vào người thợ phục chế đang ngồi bệt dưới đất.

Thành rùng mình, lông tơ toàn thân dựng đứng. Anh sống ở Chợ Lớn từ nhỏ, từng nghe không biết bao nhiêu chuyện kỳ dị quanh những con hẻm cổ, những căn nhà ba gian thời Pháp hay những món đồ cũ trôi nổi qua tay các lái buôn ve chai. Nhưng anh chưa từng tin. Với anh, hội họa là tỷ lệ, là ba cục, là sự tương tác giữa hạt màu và chất kết dính, là lớp véc-ni phản quang dưới góc chiếu của mặt trời.

Nhưng cái lạnh buốt xương và mùi mía khét đang lởn vởn khắp gian xưởng lúc này là có thật.

Anh gượng đứng dậy, bước từng bước chậm rãi lại gần thùng xe, giữ khoảng cách một sải tay. Anh vươn ngón tay trỏ trần, chạm nhẹ vào giọt dịch màu vàng đang đọng lại ở cằm bức chân dung.

Chất dịch dính dính, nhờn ráo như mỡ, và lạnh ngắt.

Đưa lên đầu mũi ngửi thử, mùi mía cháy lại xộc lên gay gắt đến mức làm thái dương anh đau nhói từng cơn. Thớ ván xung quanh khu vực vẽ gương mặt hoàn toàn không hề có dấu hiệu ngấm nước từ bên ngoài, các cạnh viền gỗ ép vẫn khô giòn cong vênh vì nhiệt độ. Hiện tượng rỉ nước chỉ xuất hiện duy nhất ở vị trí khuôn mặt nhân vật.

Ván bị ẩm từ lõi... không dùng sủi sắt đẩy thô bạo được rồi.

Thành tự nói thành tiếng, cố ép giọng mình giữ được vẻ bình tĩnh của một người làm nghề lâu năm. Nếu tiếp tục dùng bay thép cạo sống, bề mặt gỗ mục ẩm bất thường này sẽ mủn ra ngay lập tức, phá nát toàn bộ lớp sơn dầu nguyên bản từ năm 1985 mà chủ quán cà phê yêu cầu phục hồi.

Muốn bóc tách lớp bụi đen và lớp véc-ni phong hóa mà không làm tổn hại đến lớp da mặt nhân vật, anh không thể làm theo cách thông thường. Anh cần một công thức dung môi hữu cơ đặc biệt, một hỗn hợp có khả năng làm mềm lớp nhựa cánh kiến cổ mà không hòa tan màng sơn dầu, đồng thời phải rút sạch thứ chất lỏng dẻo quánh kỳ lạ đang ngậm đầy trong thớ gỗ ra ngoài.

Thành quay lưng về phía chiếc thùng xe, đi lại góc phòng nơi đặt chiếc bàn pha chế hóa chất. Trên giá gỗ xếp ngay ngắn hàng chục lọ thủy tinh nâu sẫm chứa cồn tuyệt đối, dầu thông cất hai lần, dung dịch amoniac loãng, sáp vi tinh thể và các loại tinh dầu thực vật chuyên dụng.

Anh với tay lấy chiếc cốc thủy tinh chia vạch dung tích, với lấy chai dung môi bóc sơn. Đôi bàn tay Thành vẫn còn vương mùi mía khét lẹt, rửa bằng xà phòng bột hai lần vẫn chưa trôi hết cái cảm giác dinh dính ở đầu ngón tay trỏ.

Phía sau lưng anh, chiếc quạt trần vẫn quay tít từng vòng buồn tẻ.

Và trong không gian im ắng đặc quánh của gian xưởng lúc nửa đêm, từ chiếc thùng xe nước mía bằng gỗ đóng năm 1985, một âm thanh rất khẽ lại vang lên.

Tiếng cọt kẹt của trục bánh răng gang rỉ sét, như thể có một lực vô hình nào đó vừa dùng hết sức bình sinh để quay chiếc cần trục chữ T thêm nửa vòng.

Chương khác

Xem thêm