Bức Chân Dung Cô Mía - Chương 2: Men dầu da người

Tiếng cọt kẹt của bộ rulo máy ép mía vừa dứt hẳn, không gian trong căn xưởng lập tức chìm vào sự lặng ngắt buốt giá. Thành đứng bất động bên chiếc bàn gỗ…

Nội dung chương

Tiếng cọt kẹt của bộ rulo máy ép mía vừa dứt hẳn, không gian trong căn xưởng lập tức chìm vào sự lặng ngắt buốt giá.

Thành đứng bất động bên chiếc bàn gỗ đầy chai lọ hóa chất. Hơi lạnh từ sàn xi măng bốc lên qua đế dép tổ ong, luồn thẳng vào mắt cá chân. Anh nhìn chằm chằm vào chiếc cốc thủy tinh chia vạch trên tay. Bên trong, dung môi bóc sơn trong suốt đang sóng sánh theo từng nhịp thở dồn dập của lồng ngực.

Ở Chợ Lớn, nghề sơn biển hiệu có những quy tắc bất thành văn mà thợ già truyền miệng qua nhiều đời. Những năm sau giải phóng, vật tư khan hiếm cùng cực. Để vẽ một tấm biển hiệu chịu được mưa nắng vỉa hè suốt chục năm trời, đám thợ gia công thường tự chế sơn lót bằng đủ thứ tạp nham. Họ lấy dầu trẩu rẻ tiền trộn bột đá mài, có người bạo tay hơn thì dùng mỡ bò đun sôi quấy với nhựa thông để làm chất quét chống ẩm cho ván ép.

Thành tự trấn an bản thân bằng mớ kiến thức kỹ thuật khô khốc đó. Anh tin chắc thứ chất dịch nhờn màu vàng sậm vừa rỉ ra từ gò má Cô Mía kia chẳng có gì kỳ bí. Lớp gỗ sao đóng thùng xe trải qua mấy chục mùa mưa nắng Nam Bộ, nhựa bên trong thớ ván gặp thời tiết oi bức của tháng Năm nên tiết ngược ra ngoài. Chuyện đó xảy ra thường xuyên với bàn ghế gỗ cổ mà anh từng nhận xử lý.

Anh với tay lấy thêm một cây dao bay mỹ thuật lưỡi thép mỏng, một chổi lông thỏ cán tre chuyên dùng quét bụi mài tranh sơn mài, kèm theo cuộn bông gòn y tế. Đêm nay, mục tiêu của anh là làm sạch toàn bộ mảng ố vàng quanh vùng má bức chân dung để kịp dặm lại lớp nền da trắng ngà vào sáng mai.

Thành quay trở lại bên thùng xe nước mía.

Ánh đèn halogen công suất lớn rọi thẳng vào mặt tiền tấm biển gỗ. Dưới luồng sáng vàng gắt, giọt chất lỏng dẻo quánh vẫn đọng nguyên ở cằm cô gái, bóng loáng.

Anh kéo chiếc ghế đẩu gỗ thấp lại gần, ngồi xuống ngang tầm với bức vẽ. Gương mặt vẽ Cô Mía ở cự ly nửa cánh tay lộ rõ từng chi tiết thô ráp của kỹ thuật quảng cáo thập niên 80. Nét bút kẻ viền bằng sơn dầu màu cánh gián dứt khoát, mái tóc uốn lượn sóng đen tuyền che khuất nửa vành tai, đôi môi đỏ chót hé mở ngậm hờ lấy chiếc ống hút bằng nhựa sọc đỏ trắng cắm vào ly nước mía đầy ắp đá bào.

Thành nâng con dao bay bằng tay phải, dùng ngón trỏ tay trái tì nhẹ lên bề mặt lớp sơn để đo độ giòn của màng bảo vệ.

Đầu ngón tay vừa chạm vào vùng da má, Thành khựng lại.

Mặt ván ép bên dưới lớp sơn không hề khô cứng hay giòn rụm như những mảng trang trí khác trên thân xe. Nó mềm một cách bất thường. Lớp thịt gỗ bên dưới lún nhẹ xuống theo lực ấn của ngón tay, tạo ra cảm giác đàn hồi âm ẩm, y hệt như đang ấn vào một miếng bì heo luộc chưa chín tới.

Thành rút tay về, nhìn chằm chằm đầu ngón trỏ. Một vệt keo lót dính chặt lấy hoa tay anh, kéo thành một sợi tơ mảnh màu vàng ngà trong suốt.

Anh đưa ngón tay lên gần mũi, hít một hơi thật chậm.

Mùi hắc nồng của hóa chất công nghiệp hoàn toàn biến mất. Xộc thẳng vào cánh mũi Thành là thứ mùi ngầy ngậy, tanh lợm đặc quánh của mỡ động vật ôi thiu lâu ngày, quyện lẫn với mùi cay nồng nặc của dầu tràm gió.

Mùi dầu tràm này quá đỗi quen thuộc với dân gốc gác Chợ Lớn như Thành. Đó là thứ dầu thuốc đóng trong chai thủy tinh dẹp màu xanh lá cây mà các bà, các mẹ hay thoa lên thái dương mỗi bận trái gió trở trời, hay bôi quanh rốn sản phụ vừa vượt cạn để đuổi tà khí. Người ta còn dùng thứ dầu tràm nặng mùi này để lau rửa thân thể người đã khuất trước khi làm lễ nhập quan, cốt để át đi mùi tử khí đang rữa dần trong không khí ẩm thấp.

Tại sao bên trong lớp keo lót của một tấm biển hiệu bán nước mía vỉa hè lại nồng nặc mùi dầu liệm xác?

Thợ xưa pha thứ quái quỷ gì vào sơn vậy trời?"

Thành lẩm bẩm chửi thề một tiếng để xua tan cảm giác gờn gợn nơi cổ họng. Ngón tay anh miết chặt sợi keo dính. Độ bám của nó cao đến mức phi lý, dẻo quánh như hồ dán bằng da trâu, nhưng độ nhờn bóng lại thuộc về mỡ màng sinh vật. Anh lấy giẻ sạch lau thật mạnh vào ống quần bò, nhưng lớp màng mỡ ấy vẫn trơ ra, để lại một vệt bóng nhờn hôi rình trên nền vải xanh đen.

Gạt đi sự khó chịu, Thành bắt đầu công việc.

Anh cầm chắc con dao bay bằng thép trắng, nghiêng lưỡi một góc mười lăm độ so với mặt phẳng của biển gỗ. Cổ tay anh thả lỏng, mũi dao lướt thật nhẹ trên gò má nhân vật để bóc tách từng mảng bồ hóng và bụi đường bám chặt suốt bốn mươi năm.

Từng vảy sơn phủ ngả vàng bong ra, rơi lả tả xuống nền gạch tàu phát ra những tiếng lộp bộp rất nhỏ. Dưới tay nghề điêu luyện của Thành, lớp da mặt nguyên bản của Cô Mía dần lộ diện.

Nét vẽ thời đó mộc mạc, không dùng kỹ thuật chuyển khối phức tạp của phương Tây mà chuộng kiểu đắp màu bẹt của dòng tranh cổ động. Người họa sĩ năm xưa dùng phấn trắng pha chút chu sa để tạo màu da trắng hồng khỏe khoắn của thiếu nữ Nam Bộ.

Thành lấy chiếc cọ lông thỏ quét sạch lớp mùn sơn vừa cạo. Anh xé một cục bông gòn to bằng đầu ngón chân cái, kẹp chặt vào đầu nhíp y tế rồi nhúng ngập vào chiếc cốc chứa cồn Isopropyl pha loãng cùng vài giọt dầu thông trắng. Đây là công thức dung môi an toàn nhất để tẩy sạch vết ố hữu cơ mà không hòa tan lớp sơn dầu đã chết màu bên dưới.

Thành chấm nhẹ miếng bông ướt sũng lên gò má bức chân dung.

Chất cồn bốc hơi nhanh chóng, cuốn theo lớp bụi đen cuối cùng bám trong các rãnh thớ gỗ.

Ngay khi bề mặt da nhân vật vừa sạch bóng, hiện tượng quái dị bắt đầu diễn ra ngay dưới tầm mắt Thành.

Chỗ vệt cồn vừa lướt qua trên gò má gỗ bỗng nhiên ấm dần lên.

Dưới ánh đèn rọi sáng lóa, Thành thấy rõ mồn một từng lỗ li ti trên lớp sơn bả đang từ từ giãn nở. Chất màu trắng đục dưới nền tranh không hề giữ nguyên sắc độ tĩnh của hội họa. Một sắc hồng nhạt râm ran trồi lên từ tận đáy sâu của thớ gỗ, loang rộng ra các vùng lân cận y hệt như những mao mạch máu li ti dưới da người đang bị kích ứng vì cọ xát.

Gò má bên phải của bức vẽ Cô Mía ửng đỏ lên.

Sắc đỏ đó không mang màu sắc của hạt màu chu sa vô tri. Nó đỏ tươi tắn, phập phồng, tràn đầy sức sống của da thịt một cô gái trẻ mười tám đôi mươi vừa bị người ta bẹo mạnh vào má giữa trời lạnh.

Thành ngừng thở. Bàn tay cầm nhíp kẹp bông của anh đông cứng giữa không trung.

Mắt anh mở trừng trừng nhìn vào vùng da vẽ kỳ lạ. Anh giơ tay trái lên, dùng mu bàn tay dụi mạnh vào mắt mình hai lần để chắc chắn bản thân không bị hoa mắt do hít phải hơi cồn đậm đặc.

Không hề có ảo giác nào ở đây.

Gò má của người con gái trên tấm biển gỗ vẫn đang hồng hào một cách ma quái. Thậm chí, lớp dầu bóng mỏng tang trên mặt sơn đang rịn ra từng hạt nước li ti li ti, giống hệt những giọt mồ hôi hột túa ra từ lỗ chân lông của người sống khi phát sốt.

Mùi mía khét lẹt lúc nãy lại cuộn lên, lần này hòa lẫn với mùi máu tanh thoang thoảng của vết thương chưa kịp ráo miệng.

Cái... cái gì thế này?"

Thành thốt lên thành tiếng, giọng lạc hẳn đi. Anh lùi chiếc ghế đẩu ra sau một đoạn, hai đầu gối run lẩy bẩy.

Chưa đầy mười giây sau, sắc hồng hào đầy sức sống ấy bắt đầu biến chất.

Vùng đỏ tươi trên gò má sậm màu lại rất nhanh. Từ màu đỏ hồng của da thịt, nó chuyển sang màu tím bầm như máu ứ đọng lâu ngày dưới da. Rồi những quầng tím lan rộng ra toàn bộ nửa mặt bên phải, tiến thẳng về phía khóe mắt và vành môi đang ngậm ống hút của bức vẽ.

Toàn bộ mảng màu da tươi tắn vừa lộ ra ban nãy sụp đổ hoàn toàn.

Bề mặt gỗ tái xám lại. Một màu xám ngoét, bủng beo và nhợt nhạt, y hệt sắc diện của một cái xác chết đuối bị ngâm dưới đáy bùn kênh rạch suốt mấy ngày đêm, da thịt ngậm no nước bẩn trương phềnh lên trước khi nổi bập bềnh trên mặt sóng.

Cùng lúc đó, nụ cười mỉm ngậm ống hút của Cô Mía dưới lớp sơn dầu hình như co giật nhẹ một nhịp. Khóe môi cong cong vốn dĩ rất duyên dáng của người mẫu bỗng trễ xuống một góc tàn nhẫn, tạo nên một nét mặt nửa như đang chịu đựng sự tra tấn cùng cực, nửa như đang oán hận trừng mắt nhìn thẳng vào mặt kẻ vừa chạm vào dung nhan của mình.

Gió đêm từ ô cửa thông gió trên cao rít qua khe cửa sổ lá sách, mang theo hơi lạnh ẩm ướt của trời mưa rào sắp đổ xuống Chợ Lớn.

Thành buông rơi chiếc nhíp sắt xuống nền nhà. Tiếng kim loại va chạm với sàn gạch tàu vang lên một tiếng

chát.

khô khốc, xé toang bầu không khí ngột ngạt bên trong gian phòng phục chế.

Anh đứng bật dậy, chiếc ghế đẩu gỗ ngã chổng chơ ra phía sau.

Lưng Thành đập mạnh vào mép bàn làm việc, làm đổ nghiêng một lọ tinh dầu thông. Chất lỏng thơm nồng chảy lênh láng ra mặt bàn gỗ tạp, nhỏ từng giọt lộp độp xuống đất nhưng Thành hoàn toàn không bận tâm đến việc dọn dẹp. Toàn bộ tâm trí của anh lúc này đều bị dán chặt vào tấm biển hiệu trên thùng xe nước mía.

Dưới ánh đèn halogen trơ trọi, gương mặt người con gái trên biển gỗ đã hoàn toàn biến dạng về mặt sắc độ. Nửa khuôn mặt bên trái vẫn là lớp sơn vàng ố bụi bặm của năm 1985, nhưng nửa mặt bên phải nơi anh vừa dùng cồn lau sạch đã biến thành một mảng da xám ngoét của người chết. Vết nứt sơn dọc theo gò má trông chẳng khác nào một vết chém sâu hoắm đang chực chờ toác miệng.

Một cơn ớn lạnh buốt giá chạy dọc từ đốt sống cụt lên tận đỉnh đầu Thành, khiến da gà toàn thân anh dựng đứng nổi gai ốc.

Thành là người có ăn học đàng hoàng, tốt nghiệp trường lớp mỹ thuật chính quy, quen làm việc với khoa học vật liệu, phân tích quang phổ của hạt màu và kiểm tra độ lão hóa của chất liên kết. Nhưng những gì vừa diễn ra trước mắt anh vượt qua mọi quy luật hóa lý mà con người từng ghi chép trong sách vở. Sơn dầu và bột màu vô cơ không thể tự chuyển từ sắc hồng tươi sang sắc xám tím của tử thi chỉ trong chớp mắt như thế.

Trừ phi... thứ dùng để pha nên lớp sơn lót trên tấm biển này từ bốn mươi năm trước không phải là dầu hạt thực vật.

Thành nhớ lại mùi mỡ tanh tưởi và dầu tràm gió lúc nãy. Một giả thuyết kinh hoàng nảy ra làm anh run bắn: người thợ vẽ năm 1985 đã dùng mỡ trích xuất từ xác người để làm men dầu liên kết cho bức chân dung này.

Ý nghĩ đó tởm lợm và rợn ngái đến mức khiến bao tử Thành quặn thắt lại từng cơn, anh phải đưa tay bịt miệng để ngăn một cơn buồn nôn đang dâng lên cuống họng.

Chiếc thùng xe nước mía đứng im lìm giữa góc xưởng. Cần trục sắt chữ T rủ xuống bất động, ba quả lô gang đen trũi lạnh lẽo như ba chiếc quan tài thu nhỏ. Bóng của chiếc thùng xe in lên bức tường vôi vàng phía sau thành một khối đen đặc quái dị, trông như thể một người đàn bà gù đang cúi rạp mình xuống nhìn anh.

Thành không thể ở lại tầng trệt này thêm một giây phút nào nữa.

Anh thở dốc, hai bàn tay đẫm mồ hôi lạnh quệt vội vào vạt áo thun. Không màng tới việc thu dọn dao bay hay cất các lọ hóa chất còn mở nắp, Thành bước lùi thật nhanh về phía góc nhà nơi đặt bảng điện chính.

Anh vươn tay, dập mạnh chiếc cầu dao tổng bằng nhựa đen.

Tách!

Toàn bộ hệ thống đèn rọi và đèn halogen phụt tắt ngấm cùng một lúc. Gian xưởng rộng lớn ngay lập tức bị nhấn chìm vào bóng tối mịt mùng của đêm sâu Chợ Lớn. Chỉ còn chút ánh sáng nhờ nhợ từ ngọn đèn đường ngoài ngõ hắt qua những ô cửa sổ thông gió trên cao, tạo thành những vệt sáng méo mó, nhợt nhạt trên nền nhà đầy bụi sơn.

Trong bóng tối dày đặc, bức chân dung Cô Mía chỉ là một khoảng mờ đục trên thùng xe gỗ. Nhưng Thành có cảm giác vô cùng rõ rệt rằng đôi mắt đen nhánh vẽ bằng mực tàu của cô gái vẫn đang mở to, dõi theo từng cử động hoảng loạn của anh qua khoảng không gian lạnh ngắt.

Thành lần mò trong bóng tối đi về phía cửa ngách dẫn lên căn gác lửng. Anh cài chặt then sắt của cánh cửa ngăn cách giữa gian xưởng và lối lên cầu thang, sau đó tra chìa khóa vào ổ, vặn thêm hai vòng cho chắc chắn.

Tiếng kim loại của chốt khóa vang lên lách cách giữa đêm khuya nghe rợn cả người.

Thành tựa lưng vào cánh cửa gỗ đóng kín, ngực phập phồng dữ dội. Anh đưa hai bàn tay lên trước mặt, dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn quả nhót trên cầu thang gỗ, mười đầu ngón tay anh vẫn còn vương vấn thứ chất nhờn bốc mùi mỡ ôi và dầu tràm gió nồng nặc.

Dù có chà xát bao nhiêu lần vào vạt áo, cái mùi tanh nồng chết chóc ấy hình như đã ăn sâu vào từng đường chỉ tay, bám riết lấy da thịt anh không chịu buông tha.

Thành cắn chặt răng, lê từng bước chân nặng nề bước lên những bậc thang ọp ẹp để trở về phòng ngủ trên gác lửng. Anh tự dặn lòng rằng sáng mai, ngay khi trời hừng sáng, anh sẽ gọi điện cho người chủ quán cà phê retro để trả lại chiếc thùng xe quái gở này, chấm dứt toàn bộ hợp đồng phục chế dù có phải bồi thường tiền cọc.

Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng người họa sĩ trẻ, một linh cảm u ám báo trước rằng mọi chuyện đã quá muộn màng.

Cái chốt khóa sắt mỏng manh ngăn cách giữa gác xép và gian xưởng tầng trệt hoàn toàn không thể ngăn được thứ tà khí đang thức giấc từ lớp ván gỗ năm 1985.

Và bên dưới tầng trệt tối om, giữa gian xưởng đã ngắt sạch cầu dao điện, một tiếng kẹt khô khốc lại vang lên, đều đặn và chậm rãi, như thể một chiếc bánh răng rỉ sét đang bắt đầu tự mình chuyển động trong bóng tối của canh ba.

Chương khác

Xem thêm