Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 1: Đêm Triều Cường Tháng Chín

Nước sông Sài Gòn vào độ tháng Mười mang màu nâu sẫm của bùn đáy bị xới tung, bốc lên cái mùi tanh nồng ngai ngái quen thuộc của rong rêu thối rữa và rác…

Nội dung chương

Nước sông Sài Gòn vào độ tháng Mười mang màu nâu sẫm của bùn đáy bị xới tung, bốc lên cái mùi tanh nồng ngai ngái quen thuộc của rong rêu thối rữa và rác rưởi trôi giạt từ miệt thượng nguồn Lái Thiêu đổ về.

Mỗi năm cứ đến cữ triều cường rằm tháng Chín sang đầu tháng Mười Một, con nước từ phía hạ nguồn Nhà Bè lại dội ngược lên, thúc từng đợt sóng đục ngầu tràn qua bờ kè, liếm ướt những căn nhà ổ chuột dựng xiêu vẹo bằng tôn cũ và ván ép dọc mé sông Bình Triệu. Ở chốn này, ranh giới giữa đất liền với mặt sông trở nên bấp bênh theo từng con trăng. Ban ngày xe cộ trên mặt cầu gầm rú khói bụi mịt mù, người ta chen chúc giành giật từng tấc đường để mưu sinh; nhưng khi đêm buông xuống, phía dưới gầm cầu chỉ còn lại tiếng vỗ ì oạp của dòng nước xiết va đập vào các trụ bê tông xám xịt.

Lê Văn Thìn ngồi xếp bằng trên sạp gỗ trước mũi chiếc ghe đuôi tôm dài tám thước, tay cầm chiếc dũa sắt cọ rèn rẹt vào lưỡi câu vương. Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn đường trên thân cầu Bình Triệu rọi xuống qua khe hở của những thanh dầm thép, cắt mặt nước thành từng mảng sáng tối chập chờn.

Năm nay ông sáu mươi bảy tuổi. Mái tóc hoa râm xơ xác vì ngấm nắng gió sông nước được búi gọn sau gáy bằng một sợi dây chuối khô, để lộ gương mặt vuông vức chằng chịt nếp nhăn sâu hoắm như những lằn rãnh nứt nẻ trên bãi bồi mùa cạn. Đôi mắt một mí kèm nhèm nhưng tròng mắt đục ngầu một màu vàng khè, thứ dấu tích của hơn nửa đời người trầm mình dưới đáy sông mò cá, vớt rác và vớt người chết đuối.

Ông Thìn thổi một lớp mạt sắt bám trên lưỡi câu, ngửa cổ nhấp một ngụm trà quao nguội ngắt trong chiếc ca nhựa móp méo. Vị đắng chát xộc thẳng vào cuống họng, làm dịu đi cơn ho khan dai dẳng đang chực trào lên lồng ngực gầy guộc lộ rõ từng chiếc xương sườn.

Chiếc ghe này là gia tài duy nhất của ông, cũng là nơi ba thế hệ nhà họ Lê sinh ra và bám trụ lấy dòng sông. Ông nội của ông Thìn trôi dạt từ miệt Tiền Giang lên khúc sông này từ trước năm bốn lăm, kiếm sống bằng nghề chài lưới và kéo xác trôi sông kiếm chút tiền chôn cất từ lòng hảo tâm của dân thương hồ. Đến đời cha ông, rồi đến lượt ông, cái nghiệp dính dáng đến nước lạnh và xác người cứ bám riết lấy chân như đám lục bình dính chặt vào chân vịt.

Vợ ông mất sớm sau một trận cảm hàn ngay trên khoang thuyền này vào mùa lũ mười lăm năm trước, để lại ba đứa con trai. Giờ đây ba đứa nó đều đã lớn, kéo nhau đi làm công nhân ở các khu công nghiệp tận Dĩ An, Biên Hòa. Chúng ghét mùi bùn sông, ghét cái nghề bẩn thỉu và xui xẻo của cha, cả năm họa hoằn lắm mới tạt về dúi cho ông vài trăm ngàn rồi lại vội vã đón xe đò rời đi như trốn chạy một thứ dịch bệnh. Ông Thìn không trách móc, bởi chính ông cũng hiểu rõ dòng nước này bạc bẽo đến dường nào. Kẻ ăn lộc của Hà Bá thì suốt đời phải chịu cái lạnh thấm vào tận tủy xương, chết không ai hay, sống chẳng ai đoái hoài.

Tiếng còi tàu chở cát hú lên từng hồi dài đặc quánh xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Chiếc sà lan nặng trĩu lừng lững rẽ sóng chạy qua luồng giữa sông, tạo ra những đợt sóng dềnh giật chiếc ghe của ông Thìn nảy lên bần bật. Nước tràn qua be thuyền, tạt vào giàn lưới bén treo lủng lẳng bên hông khoang. Ông Thìn buông cây dũa sắt, đứng dậy vịn tay vào mui tôn, bước cẩn trọng về phía đuôi ghe để kiểm tra lại sợi dây neo bằng xơ dừa bện to bằng bắp tay đang buộc chặt vào một cọc sắt đóng sâu dưới mép bờ đá.

Mực nước đang dâng nhanh một cách bất thường. Những cành củi khô, bao nilon và đám bèo tây kết thành từng mảng lớn trôi lờ lững xoay tít theo dòng chảy. Dưới chân cầu Bình Triệu, địa hình đáy sông vô cùng hiểm trở. Các tài xế tàu bè hay dân chài lâu năm đều biết rõ khúc sông này có một hố sâu hun hút do bom đạn thời chiến tranh cày xới, kết hợp với dòng chảy giao thoa giữa nhánh sông Sài Gòn và rạch Xuyên Tâm tạo thành một vùng nước xoáy ngầm cực kỳ hung hãn.

Đặc biệt là khu vực quanh chân trụ cầu số 3. Đó là cái rốn nước, nơi gom mọi thứ rác rưởi, xác súc vật, và cả những thi thể xấu số nhảy cầu tự tử hoặc trôi dạt từ phía Bình Dương về. Xác người dạt vào đấy thường bị cuốn vòng tròn dưới đáy sâu nhiều ngày liền trước khi trương phình trồi lên mặt nước, hoặc bị mắc kẹt vĩnh viễn vào những khối bê tông gãy nát, sắt thép rỉ sét ngầm dưới lòng sông.

Ông Thìn chép miệng, với lấy bao thuốc lá Cẩm Lệ nhét trong túi áo bà ba bạc màu, rút ra một điếu châm lửa. Đốm than đỏ le lói soi rõ bàn tay chai sần, những móng tay vàng ố và nứt nẻ vì ngâm nước phèn. Khói thuốc cay nồng phả ra, quyện vào làn sương đêm đang bắt đầu hạ thấp xuống mặt nước.

Theo kinh nghiệm của ông, đêm nay con nước sẽ đứng vào khoảng mười hai giờ khuya, sau đó dòng chảy sẽ đảo chiều cực xiết để rút ra biển. Đó là thời điểm cá ngát, cá tra dầu bắt đầu mò ra khỏi các hang hốc dưới chân trụ cầu để kiếm ăn theo dòng nước đứng. Nhưng đó cũng là lúc đáy sông trở nên nguy hiểm nhất. Nước bên trên trông phẳng lặng như một tấm gương soi bóng những tòa cao ốc lấp lánh phía xa xa, nhưng phía dưới đáy, từng luồng nước lạnh buốt đang cuộn xiết xé toạc mọi thứ cản đường.

Trên mạn thuyền, chiếc đài cát-sét cũ chạy pin con én đang rè rè phát một bản vọng cổ buồn bã của nghệ sĩ Út Trà Ôn. Tiếng đàn kìm trầm đục hòa lẫn với tiếng sóng vỗ bập bềnh tạo nên một thứ âm thanh ma quái, cô quạnh. Ông Thìn với tay tắt đài để tiết kiệm pin. Sự im ắng lập tức ập xuống, đè nặng lên chiếc ghe nhỏ nhoi trôi dạt giữa khúc sông vắng.

Bên bờ Thủ Đức, những ánh đèn quán nhậu thưa thớt dần rồi tắt hẳn. Thành phố bắt đầu chìm vào giấc ngủ muộn màng, chỉ còn lại tiếng rít gió đều đặn của những chuyến xe tải chở hàng chạy xuyên đêm trên mặt cầu bê tông cao vút. Ông Thìn bước vào khoang ghe, cúi đầu thắp ba nén nhang trên bàn thờ nhỏ đóng áp vào vách ván. Trên bàn thờ không có ảnh chụp, chỉ có một bát nhang sành cáu bẩn tàn tro và một bài vị bằng gỗ ố vàng đề vỏn vẹn mấy chữ: "Tiền vãng hậu linh hà bá thủy thần".

Đây là luật lệ bất thành văn của giới vớt xác sông Sài Gòn. Mỗi lần buông lưới đêm hay chuẩn bị đi rà tìm xác chết, người làm nghề bắt buộc phải khấn xin những kẻ khuất mặt khuất mày dưới đáy nước một sự dung tha. Sông có chủ, nước có thần, và những oan hồn chết chìm luôn chực chờ một phút sơ sẩy của người sống để kéo chân thế mạng.

"Cầu cho trời êm biển lặng, con nước xuôi dòng, tôm cá vào lưới, tai qua nạn khỏi..."

Ông Thìn lầm rầm khấn vái, cắm ba nén nhang ngay ngắn vào bát rồi cúi lạy ba lạy. Mùi trầm hương thoảng ra lấn át bớt cái mùi ngai ngái của nước triều đang ứ nghẹn quanh be thuyền.

Khi ngọn nhang cháy đỏ được một nửa, ông Thìn bắt đầu chuẩn bị đồ nghề. Ông lấy chiếc đèn pin bình ắc-quy đeo chéo qua vai, kiểm tra lại bình xăng con của chiếc máy đuôi tôm Kohler 7 mã lực gắn sau lái. Chiếc máy nổ này đã theo ông gần hai chục năm, rỉ sét bám đầy nắp quy-lát, mỗi lần giật nổ khói xả ra mù mịt kèm theo tiếng kêu cành cạch chát chúa. Nhưng nó là cần câu cơm, là đôi chân của ông trên mặt nước này. Ông dùng giẻ lau khô bugi, mở nắp bình xăng kiểm tra mức dầu rồi tra thêm chút nhớt vào trục láp.

Nước bắt đầu ngừng chảy xiết. Từng vệt bọt trắng xóa tụ lại thành từng mảng tròn xoay chậm rãi quanh mũi ghe, báo hiệu con nước đã đứng. Gió đột ngột ngừng thổi, không gian đặc quánh lại, chỉ còn nghe tiếng thở dốc nhọc nhằn của chính ông Thìn giữa đêm hoang vắng.

Ông cởi sợi dây neo xơ dừa, quấn gọn gàng đặt lên mũi thuyền. Bằng một động tác dứt khoát và thuần thục của kẻ cả đời cầm dầm bơi xuồng, ông dùng cây sào tre bịt sắt đẩy mạnh vào gờ đá bờ kè. Chiếc ghe gỗ nhẹ nhàng trôi ra xa bờ, lướt êm ru trên mặt nước đen ngòm như mực tàu.

Ông Thìn ngồi xuống đuôi ghe, với tay kéo dây giật máy. Tiếng máy nổ "tạch... tạch..." rồi bùng lên gầm rú dữ dội, xé tan màn đêm yên ắng. Khói xanh phụt ra cuồn cuộn trên mặt nước. Chiếc ghe hơi chồm lên, rẽ sóng chạy chầm chậm hướng về phía trụ cầu số 3.

Ở cự ly gần, trụ cầu bê tông hiện ra khổng lồ và lạnh lẽo như một pháo đài cổ xưa mọc lên từ đáy nước. Lớp rêu xanh đen bám dày đặc từ chân trụ lên đến vạch ngấn nước cao nhất, để lộ những mảng bê tông bong tróc trơ cả khung sắt hoen gỉ bên trong. Dòng nước quanh trụ cầu không bao giờ thực sự đứng yên. Dù triều cường hay triều kiệt, luồng nước chạm vào góc nhọn của chân đế bê tông đều bị chẻ làm đôi, tạo thành những quầng xoáy ngầm cuộn tròn liên tục phát ra tiếng ùng ục trầm thấp, nghe như tiếng thở dài của một sinh vật khổng lồ đang ẩn mình dưới đáy sâu.

Ông Thìn ghì chặt tay lái, giữ cho mũi ghe chếch một góc bốn mươi lăm độ so với dòng chảy ngầm để tránh bị hút vào lòng trụ. Đèn đường phía trên cầu bị che khuất bởi mặt sàn bê tông dày cộm, khiến khoảng không gian dưới gầm cầu tối sầm lại. Vùng sáng duy nhất phát ra từ bóng đèn dây tóc mười hai vôn treo trước mũi ghe của ông, hắt xuống mặt nước một quầng sáng vàng vọt, run rẩy theo từng nhịp sóng.

Ông Thìn với tay gạt cần ga về mức nhỏ nhất, tiếng máy đuôi tôm chuyển sang nhịp nổ đều đặn thì thào. Ông cúi người, hai tay thoăn thoắt nhấc dải lưới bén dài năm mươi thước ra khỏi sọt nhựa. Từng phao xốp trắng lần lượt rơi xuống nước tạo thành một đường cong mềm mại bao quanh luồng nước xoáy phía ngoài chân trụ. Chân lưới bằng chì nặng kéo dải màng cước chìm dần xuống lòng sông lạnh ngắt.

Đây là vị trí đắc địa nhất để đón đàn cá ngát đi ăn đêm. Cá ngát sông Sài Gòn thịt chắc và ngọt, giá bán cho bạn hàng ở chợ Bình Triệu vào sáng sớm hôm sau đủ để ông trang trải tiền gạo, tiền thuốc lá và vài lít dầu chạy máy cho cả tuần. Nhưng giăng lưới ở đây cũng đồng nghĩa với việc đánh cược mạng sống với đáy sông. Chỉ cần lơ đễnh để lưới quấn vào chân vịt hoặc để mũi thuyền trôi quá gần vào chân trụ, luồng xoáy ngầm có thể lật úp chiếc ghe gỗ chỉ trong tích tắc.

Mẻ lưới đầu tiên được thả xong xuôi. Chiếc ghe thả trôi chầm chậm theo hình vòng cung, cách chân trụ cầu chừng mười lăm sải tay. Ông Thìn ngồi xuống khoang giữa, đốt thêm một điếu thuốc để xua đi cái lạnh buốt đang ngấm qua lớp áo mỏng ướt sũng hơi sương. Đôi mắt ông chăm chú quan sát hàng phao xốp nhấp nhô trên mặt nước.

Thời gian trôi qua chầm chậm. Khoảng mười lăm phút sau, hàng phao xốp ở đoạn giữa bỗng dưng giật mạnh một cái, rồi lặn mất tăm dưới mặt nước đục ngầu.

"Dính cá bự rồi!"

Ông Thìn thầm reo lên, vội vàng vứt mẩu tàn thuốc xuống sàn ghe rồi đứng bật dậy. Động tác giật phao mạnh bạo và dứt khoát như vậy chắc chắn là cá ngát cụ hoặc một con cá tra dầu lạc đàn từ miệt trên trôi xuống. Ông với tay nắm lấy đầu dây giàn lưới, bắt đầu thu từng sải tay một cách cẩn thận. Dây cước căng cứng, rung lên từng chập báo hiệu con mồi dưới đáy sông đang vùng vẫy dữ dội để thoát thân.

Nhưng khi kéo được chừng mười sải cước, cảm giác nặng trịch ở đầu dây bỗng nhiên thay đổi. Nó không còn là cái giật giật nhịp nhàng của đuôi cá đập vào nước, mà biến thành một sức nặng trơ lì, lạnh ngắt và nhớp nhúa.

Sức nặng kéo trĩu cả hai cánh tay gân guốc của ông lão, làm mạn ghe nghiêng hẳn sang một bên, nước tràn qua gờ ván vào bên trong khoang lênh láng.

Ông Thìn nhíu mày, kinh nghiệm của nửa thế kỷ làm nghề sông nước mách bảo ông rằng đây không phải là cá. Rất có thể lưới đã mắc phải một nhánh cây mục trôi ngầm dưới đáy, hoặc tồi tệ hơn, một bao rác nặng bị dòng nước cuốn vào. Trong tình huống xấu nhất, đó có thể là một cái xác chết trôi đã ngâm nước nhiều ngày, bắt đầu trương sình và nặng gấp đôi người thường.

Ông nghiến răng, dùng hết sức bình sinh tì hông vào be thuyền, hai bàn tay siết chặt lấy sợi cước dù cứu sinh chịu lực kéo ngược lên. Mặt nước sủi bọt ùng ục. Từng lọn bèo tây và bùn đen bám đầy màng lưới dần dần trồi lên khỏi mặt nước.

Nhưng lưới chưa kịp kéo lên đến mạn thì chiếc ghe bỗng nhiên khựng lại. Một lực kéo vô hình và cực kỳ dữ dội từ dưới đáy sông đột ngột giật giật sợi lưới, kéo mạnh về phía chân trụ cầu số 3.

Cùng lúc đó, chiếc máy đuôi tôm phía sau lái đang nổ cầm chừng bỗng rú rít lên một tràng the thé. Tiếng kim loại va đập vào vật cản kêu lên "khục... khục..." hai tiếng đanh gọn và chát chúa, rồi chiếc máy phụt ra một luồng khói đen đặc quánh khét lẹt trước khi tắt ngấm hoàn toàn.

Mùi khét lẹt của dây curoa bị ma sát cháy khét lập tức bốc lên nồng nặc, át cả mùi bùn sông.

Không gian đột ngột rơi vào sự im lặng tuyệt đối, chỉ còn lại tiếng nước réo ầm ầm quanh thân thuyền. Chiếc ghe mất trớn, lập tức bị dòng nước ngầm tóm lấy và xoay ngang thân. Trọng tâm của thuyền bị lệch hẳn, mũi ghe chúc xuống nước trong khi đuôi ghe bị nhấc bổng lên theo một góc kỳ dị.

"Chết mẹ rồi! Kẹt chân vịt!"

Ông Thìn hoảng hốt buông vội sợi cước lưới đang cầm trên tay, lảo đảo bám vào mui tôn bò vội về phía sau lái. Chiếc ghe chao đảo dữ dội như một chiếc lá khô bị ném vào miệng cống xả. Ông v với lấy chiếc đèn pin bình ắc-quy gắn trên vách gỗ, bật công tắc rọi thẳng luồng sáng vàng vọt xuống vùng nước phía sau đuôi thuyền.

Mặt nước đục ngầu cuộn xoáy dữ dội quanh trục láp bằng sắt. Dưới ánh đèn pin lấp loáng, cánh quạt chân vịt bằng đồng ba cánh chìm sâu dưới mặt nước chừng hai gang tay hoàn toàn không nhúc nhích. Trục láp bị một thứ gì đó đen kịt, dẻo quánh quấn chặt thành nhiều tầng nhiều lớp dày cộm, siết cứng ngắc vào khớp quay khiến chiếc máy 7 mã lực bị đứng khựng lại tức thì.

Ông Thìn ghé sát mặt xuống mặt nước, nheo mắt nhìn kỹ qua làn bọt trắng xóa đang sủi tăm liên tục.

Đó không phải là bao nilon hay dây cước giăng câu thông thường. Thứ vật chất đang quấn chặt lấy trục chân vịt có màu đen nhánh óng ả một cách kỳ lạ dưới ánh đèn điện, mềm mại dập dềnh xuôi theo dòng nước chảy xiết. Từng sợi mảnh mai đan cài vào nhau chằng chịt, bám chặt vào từng rãnh ốc và cánh quạt đồng, trải dài từ đáy nước sâu thẳm quấn vút lên tận đuôi ghe.

Một đợt gió lạnh từ phía gầm cầu tạt mạnh vào mặt ông Thìn, mang theo một mùi hôi thối kỳ quặc. Mùi tanh của bùn đáy sông bỗng chốc bị lấn át bởi mùi mỡ thối rữa và mùi vải liệm ẩm mốc lâu ngày dưới mồ sâu.

Chiếc ghe gỗ lại rùng mình một cái thật mạnh. Dưới đáy thuyền, có tiếng cọ xát kèn kẹt khô khốc vang lên, như thể có hàng chục móng tay sắc nhọn đang cào rách lớp gỗ dầu dưới đáy lườn.

Sợi dây cước lưới bén phía mũi thuyền vẫn đang bị kéo căng hết mức, phát ra những tiếng kêu răn rắc như sắp đứt toác. Lực kéo từ dưới đáy sông không hề giảm đi mà càng lúc càng mạnh bạo hơn, lôi tuột chiếc ghe trôi ngược chiều con nước, từ từ rê thẳng về phía bóng đen sừng sững của trụ cầu số 3.

Ông Thìn run rẩy cầm chiếc đèn pin rọi ngược lại khoảng không gian đen ngòm trước mặt. Bóng của cây cầu bê tông khổng lồ đổ ập xuống chiếc ghe nhỏ bé. Dòng xoáy ngầm quanh chân trụ đang sôi réo dữ dội, cuốn từng mảng bọt trắng vào lòng sâu hun hút.

Chiếc ghe của ông đang trôi không phanh về phía miệng vực xoáy ngầm đó, trong khi động cơ đã tê liệt hoàn toàn, và thứ đen nhánh bám chặt dưới chân vịt vẫn đang từ từ siết chặt lại.

Chương khác

Xem thêm