Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 4: Vật Lạ Trên Mũi Ghe

Tiếng dao gõ khô khốc xuống sàn khoang vẫn còn ong ong nơi màng nhĩ ông Thìn. Con dao chặt lưới nằm chỏng chơ sát mép ván lườn, lưỡi thép bóng loáng còn…

Nội dung chương

Tiếng dao gõ khô khốc xuống sàn khoang vẫn còn ong ong nơi màng nhĩ ông Thìn.

Con dao chặt lưới nằm chỏng chơ sát mép ván lườn, lưỡi thép bóng loáng còn dính lại vài sợi tóc đen quăn queo. Gió từ mặt sông thổi thốc vào mui tôn, rít lên từng hồi qua khe hở của mấy tấm ván ghép tạm. Dòng nước triều bên dưới đáy thuyền bắt đầu chảy chậm lại, chuyển sang đợt nước đứng trước khi chuẩn bị đổi dòng đổ dồn về hướng Nhà Bè. Mặt sông Sài Gòn đêm nay đặc sánh một màu đen thẫm, gợn sóng lấp loáng hắt lên thứ ánh sáng nhờ nhợ từ dàn đèn cao áp tít trên thành cầu Bình Triệu.

Ông Thìn ngồi bẹp trên sạp gỗ, hai bắp chân co rút vì ngâm nước lạnh quá lâu. Cơn đau rát từ cổ tay phải lúc này mới giật giật nhức nhối. Ông nâng cánh tay lên sát ngọn đèn bão để nhìn cho rõ. Vòng tròn tím bầm quấn trọn lấy cổ tay ông, những lằn rách mảnh như sợi chỉ rướm máu tươi, bết lẫn bùn non và mỡ thối. Từng sợi tóc ma quái dưới chân vịt vừa rồi đã siết mạnh đến mức bóp nghẹt phần thịt mềm, hằn sâu vào da như có ai dùng dây thép gai siết chặt.

Cảm giác tê dại vẫn còn chạy dọc theo từng đường gân lên tận bả vai. Ông hít một hơi sâu, luồng gió lạnh buốt tràn vào buồng phổi xua đi bớt cái ngột ngạt của cặn bùn đáy sông.

Trước mặt ông lão, chiếc guốc mộc quấn dải vải liệm nằm trơ trọi giữa khoang ghe.

Bùn đen bám quanh thân gỗ đã bắt đầu se lại, nhưng những vệt nhờn bóng nhẫy vẫn tiếp tục rỉ ra, rỏ từng giọt tanh nồng xuống mặt ván. Mùi sáp hoa lài thanh tao ban nãy vẫn vương vít trong không khí, nhưng lẫn vào đó là mùi gỗ ngâm nước lâu năm và mùi tử khí hôi hôi của bùn sét.

Dân chài lưới cả đời gắn bó với sông nước như ông Thìn thừa hiểu những điều cấm kỵ được truyền lại qua bao thế hệ vớt xác. Gặp đồ vật của người chết đuối bám vào lưới hay mắc chân vịt, kẻ khôn ngoan chỉ có một cách xử trí duy nhất: chặt đứt, gạt bỏ cho trôi xuôi theo dòng, tuyệt đối không mang lên thuyền, càng không bao giờ được phép giữ lại trong khoang. Người ta bảo đồ vật ấy ngậm theo oán khí và sự bám víu của vong hồn. Mang lên ghe nghĩa là mở cửa rước phần hồn không nhà cửa ấy về chung sống, chia sẻ miếng ăn manh chiếu với người trần.

Thế nhưng, nhìn khối gỗ nhỏ bé nằm bẹp dưới sàn, tay ông Thìn run lên, không sao nhấc con dao lên lần nữa.

Ông với tay lấy chiếc gáo dừa đã mòn vẹt miệng để ở góc sạp, nhoài người ra ngoài be thuyền múc một gáo nước sông đầy ắp. Dòng nước mùa triều cường đục ngầu phù sa, lạnh như nước đá trong thùng ướp cá. Ông quỳ gối xuống sàn ván, đặt gáo nước cạnh chiếc guốc, rồi cẩn thận dùng những ngón tay thô ráp, sần sùi của mình gỡ từng sợi tóc còn bện chặt quanh quai guốc.

Từng sợi tóc dài, trơn tuột và dẻo quạnh lướt qua kẽ tay ông. Chúng không hề mục rữa dù đã nằm vùi dưới lớp bùn sâu không biết bao nhiêu năm tháng. Khi ngón tay ông chạm vào dải vải xô ố vàng buộc chéo qua thân guốc, một luồng khí lạnh buốt lập tức chạy dọc từ đầu ngón tay xộc thẳng vào sống lưng. Dải vải xô này thô ráp, mép vải tưa ra từng chùm sợi nhỏ, màu vải đã ngả sang sắc vàng xám của đất sét, nhưng nút thắt con bướm ở chính giữa vẫn còn nguyên vẹn, chặt chẽ lạ thường.

Ông Thìn nghiêng gáo dừa, từ từ dội một dòng nước nhỏ lên thân guốc.

"Xoạt... xoạt..."

Tiếng nước chảy róc rách hòa cùng tiếng bùn đất bị cuốn trôi trượt dài trên sạp thuyền. Lớp bùn đen đặc quánh bám bên ngoài dần dần tan rã, để lộ ra chất gỗ mộc mạc bên trong. Đó là một chiếc guốc mộc gót nhọn kiểu xưa, loại guốc mà phụ nữ thành thị thời trước hay mang cùng áo dài hoặc bà ba lụa. Khối gỗ được đẽo gọt vô cùng tinh xảo, eo guốc thắt lại mềm mại, phần gót cao chừng ba lóng tay, mặt trên sơn lớp then đen bóng nay đã tróc lở từng mảng lớn, trơ ra thớ gỗ màu nâu sẫm mịn màng.

Dưới làn nước dội, dải vải xô ngậm nước sẫm màu lại.

Ông Thìn dùng góc áo bà ba cũ của mình, nhẹ nhàng chấm lên quai guốc để thấm đi những vết nhơ nhớp. Hành động của ông chậm rãi, tỉ mỉ và dè dặt, không khác gì cách người ta lau rửa cho một bức tượng thờ trong miếu cũ. Trong lòng ông lão trào lên một nỗi xót xa khó tả.

Khúc sông Bình Triệu này rộng mênh mông, nước xoáy quanh năm gầm gừ dưới những mố cầu bê tông sừng sững. Người sống đi qua cầu nườm nượp, tiếng còi xe inh ỏi suốt ngày đêm, có mấy ai đoái hoài nhìn xuống đáy sông tăm tối, nơi những phận đời xấu số chìm khuất trong bùn lạnh.

Vợ ông mất sớm trên manh chiếu hẹp của chiếc ghe này, lúc lâm chung cũng chỉ có mình ông ngồi bên cạnh nắm lấy bàn tay lạnh ngắt. Ba đứa con trai lớn lên rồi cũng dứt áo ra đi, đứa dạt về Dĩ An làm thợ tiện, đứa xuống Biên Hòa bốc vác trong kho thép, quanh năm suốt tháng hiếm khi gửi về một lá thư hay cuộc gọi ngắn ngủi. Căn khoang thuyền này lúc nào cũng trống hoác, chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn và tiếng thở dài của chính ông giữa những đêm chờ con nước ròng.

"Thôi thì... coi như người dưới sông ghé lại tá túc một đêm. Tôi già rồi, sức mọn tài hèn, chẳng cứu được cô lúc chìm nổi, chỉ có tấm ván khô cho cô ngồi đỡ lạnh..."

Ông Thìn lầm bầm trong miệng, giọng khàn đặc lẫn vào tiếng gió rít.

Khi lớp bùn cuối cùng trôi sạch, lộ rõ phần gầm của chiếc guốc mộc. Ở chính giữa hõm cong dưới đáy, một vết khắc hình cánh hoa mai năm cánh hiện ra mờ nhạt. Vết khắc sâu và dứt khoát, chứng tỏ đây là đồ tiện tay do thợ mộc có tiếng làm riêng, chứ không phải loại guốc chợ bán đại trà.

Sau khi đã lau sạch sẽ từng ngóc ngách, ông Thìn hai tay nâng chiếc guốc lên ngang ngực. Vật thể bằng gỗ không còn vẻ nhầy nhụa đáng sợ ban nãy, nhưng sức nặng của nó vẫn trĩu trịt trên đôi bàn tay gầy gò của ông, tựa hồ đang gánh cả một phần hồn phách trầm uất dưới đáy sâu.

Ông Thìn chống gối đứng dậy, cẩn thận bước từng bước qua những sọt cá rỗng tiến về phía mũi thuyền.

Mũi ghe nan là nơi thiêng liêng nhất của dân chài. Nơi ấy có gắn cặp mắt thuyền vẽ bằng sơn đỏ để ghe tìm đường đi trong đêm tối, và cũng là nơi đặt chiếc lư hương nhỏ bằng đất nung để khấn vái Thủy Thần trước mỗi chuyến thả lưới.

Ông Thìn dẹp gọn cuộn dây lòi tói neo thuyền sang một bên, quét sạch những mẩu lá cây mục và vảy cá khô bám trên be gỗ mũi ghe. Sau đó, ông kính cẩn đặt chiếc guốc mộc ngay ngắn lên mặt be thuyền, chiếc mũi guốc hướng thẳng ra mặt sông mênh mông, ngay tầm nhìn hướng về phía chân trụ cầu số 3. Dải vải liệm rủ xuống mép gỗ, bay là đà trong gió như dải lụa trang trí kỳ dị.

Đặt xong xuôi, ông Thìn lùi lại hai bước, chấp hai bàn tay chai sạn trước ngực, khẽ cúi đầu vái ba vái.

"Cô ngụ ở đâu dưới chân cầu thì cứ tạm yên nghỉ nơi mũi ghe. Đêm nay tôi câu nốt mẻ cá kiếm chút tiền đong gạo, sáng mai triều lên tôi sẽ tìm cách cúng kiếng đàng hoàng cho cô..."

Lời khấn vừa dứt, một hiện tượng dị thường lập tức diễn ra trước mắt ông lão.

Giữa màn đêm ẩm ướt của mùa triều cường tháng mười, khi sương mù từ mặt sông bắt đầu dâng lên cuồn cuộn như những dải lụa trắng xóa nuốt chửng chân cầu, chiếc guốc mộc vừa được dội nước ướt đẫm bỗng nhiên bốc lên một làn khói mỏng le lói.

Nước đọng trên mặt gỗ mun rút đi với tốc độ lạ thường. Từng giọt nước li ti bám trên thớ gỗ tựa như bị một bề mặt khô khát vô hình hút sạch vào trong lõi. Dải vải xô đang ướt sũng, rũ rượi bỗng khô cong lại chỉ sau vài hơi thở. Những sợi chỉ tưa ra cứng đơ, thẳng thớm như thể vừa được hong qua than hồng rực lửa suốt nhiều giờ đồng hồ. Mặt gỗ của chiếc guốc trở nên ráo hoảnh, nhẵn thín và lên nước bóng lộn, hoàn toàn không còn để lại một dấu vết ẩm mốc nào của khúc sông bùn lầy vừa dìm nó suốt bao năm.

Chưa kịp hiểu chuyện gì đang diễn ra, một ngọn gió chướng từ phía chân trụ cầu số 3 đột ngột thổi ngược dòng nước cuốn thốc vào mũi thuyền.

Ngọn gió không mang theo hơi nước tanh nồng hay mùi sình lầy quen thuộc của sông Sài Gòn.

Xộc thẳng vào mũi ông Thìn là một mùi hương đậm đặc, ngai ngái và nồng gắt đến mức làm ông nghẹt thở.

Đó là mùi dầu dừa chải tóc.

Thứ mùi dầu dừa nguyên chất được thắng kỹ bằng đường tán của các bà, các cô Nam Bộ thuở trước, loại dầu dùng để vuốt vào những mái tóc dài chấm gót cho mượt mà óng ả. Mùi hương ngầy ngậy, ngọt lịm nhưng lại lạnh ngắt như mùi của vải vóc để lâu năm trong rương gỗ dưới đáy mộ phần. Mùi dầu dừa đậm đặc đến mức nó đè bẹp hoàn toàn mùi khói dầu cặn của động cơ ghe, cuộn tròn lấy khoảng không gian chật hẹp quanh mũi thuyền.

Ông Thìn rùng mình, lông tơ khắp người dựng đứng cả lên. Mùi dầu dừa này không phải thứ hương liệu xịt phòng hay nước hoa hóa chất của người thành phố bây giờ. Nó là mùi của ký ức, mùi của người chết từ một thời xa xăm nào đó vọng về.

Mũi ghe khẽ nghiêng sang một bên.

"Kẽo... kẹt..."

Tiếng ván gỗ ở be mũi thuyền rên rỉ dưới một áp lực vô hình. Phần mũi chiếc ghe nan vốn dĩ nhẹ bỗng vì động cơ máy đuôi tôm đặt hết ở phía sau lái, vậy mà ngay lúc này, mép be thuyền phía trước bỗng chìm sâu xuống mặt nước chừng nửa gang tay. Nước sông đen ngòm vỗ ì oạp vào mạn thuyền tạo nên những âm thanh nặng nề, tựa như có một người trưởng thành vừa bước chân lên, ngồi thong thả buông hai chân thòng xuống mé nước ngay sát cạnh chiếc guốc mộc.

Gió đêm vẫn thổi mạnh, làm tấm bạt che mui ghe phần phật rung lên từng chập.

Ông Thìn đứng chôn chân giữa khoang thuyền, hai mắt trừng trừng nhìn vào khoảng không mờ ảo nơi mũi ghe. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn bão đặt trên sạp, khoảng không gian phía sau chiếc guốc mộc dường như đặc quánh lại, sương mù tụ lại thành một khối lờ mờ hình bóng người ngồi nghiêng nghiêng, mái tóc dài phủ kín từ đỉnh đầu xõa dài xuống tận mặt nước đang cuộn chảy dưới lườn thuyền.

Chiếc quai guốc gãy chĩa thẳng về phía khoảng tối mênh mông của dòng sông, nơi bóng đen khổng lồ của chân trụ cầu số 3 đang sừng sững ẩn hiện trong làn sương trắng.

Từ mặt nước ven bờ đối diện, một đốm sáng màu vàng đục của đèn măng-xông bắt đầu lay lắt di chuyển qua lớp sương mù dày đặc. Tiếng máy nổ bình bịch giòn giã của một chiếc ghe chài khác đang xé toạc màn đêm tĩnh lặng, chầm chậm rẽ nước tiến về phía bãi bồi nơi ông Thìn đang neo đậu.

Chương khác

Xem thêm