Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 5: Lề Luật Của Dân Vớt Xác
Tiếng máy đuôi tôm nổ bình bịch giòn tan xé toạc màn sương muối đang đọng quánh trên mặt sông Sài Gòn. Đốm sáng vàng đục từ chiếc đèn măng-xông treo lủng…
Nội dung chương
Tiếng máy đuôi tôm nổ bình bịch giòn tan xé toạc màn sương muối đang đọng quánh trên mặt sông Sài Gòn. Đốm sáng vàng đục từ chiếc đèn măng-xông treo lủng lẳng trước mũi chiếc ghe chài đối diện hắt từng vệt loang lổ lên những con sóng gợn đen sì. Con nước lớn tháng mười đang réo sôi dưới lườn ván, đẩy những đám lục bình dạt mạnh về phía chân cầu Bình Triệu.
Ông Thìn giật nảy mình. Chiếc mũi ghe của ông vẫn còn đang trĩu nặng bất thường xuống mặt nước, tấm ván be phía trước rên lên kẽo kẹt dưới một sức ép vô hình. Mùi dầu dừa chải tóc thắng bằng đường tán vẫn còn nồng nặc quẩn quanh quanh chóp mũi, sực nức vị ngòn ngọt nhưng buốt tận chân răng.
"Ai đó? Ba Thìn phải hôn?"
Tiếng gọi khàn đặc, đục ngầu hơi thuốc rê của bác Năm Tàu Hủ vọng qua màn sương mù. Chiếc ghe nan chở đồ nghề cào hến và giăng lưới cá dứa của lão bạn chài trờ tới rất nhanh, mũi ghe xé nước ràn rạt, bọt tung trắng xóa một vạt nước tối.
Bác Năm Tàu Hủ trạc tuổi ông Thìn, người đen trùi trũi như một khúc gỗ ngâm bùn, hai cánh tay cuồn cuộn những múi cơ vặn vẹo sau hơn bốn mươi năm vật lộn với những vùng nước xoáy đoạn Bình Lợi ngược lên Bình Triệu. Cái biệt danh Năm Tàu Hủ dính với lão từ thời còn trai trẻ chèo ghe chở đậu hũ dạo dọc kênh Nhiêu Lộc, sau này nhảy ra sông lớn làm nghề cào cá, thỉnh thoảng thấy xác trôi sông thì vớt vào bờ báo công an kiếm vài đồng tiền dầu với gói trà lá. Hai ông già cùng chung cái phận lênh đênh mặt nước, lạ gì thói ăn nết ở của nhau.
Nghe tiếng gọi quen thuộc, tim ông Thìn đập thình thịch liên hồi. Ông quýnh quáng cúi rạp người xuống, nhìn quanh khoang lái. Mấy sợi tóc đen nhánh dài thượt vẫn còn vương vãi trên sàn gỗ ướt sũng bùn sình, dính bết vào mấy kẽ hở giữa hai tấm ván lót. Đó là mớ tóc vụn sót lại lúc ông dùng dao chặt đứt cuộn bện quấn nơi chân vịt.
Không kịp suy tính thiệt hơn, ông Thìn vội vàng quơ tay túm lấy mớ tóc ướt lạnh ngắt nhét tọt vào gầm sạp ván sau lưng, lấy chân đá mạnh một bao tải gai rách phủ trùm lên trên. Cùng lúc đó, ông kéo vội chiếc nón lá rách che khuất một phần be mũi thuyền, nơi chiếc guốc mộc quấn dải vải liệm trắng ố vàng đang nằm sừng sững, mũi guốc chĩa thẳng ra khoảng xoáy ngầm hun hút của chân trụ cầu số 3.
"Tui đây Năm ơi! Đi đâu mà lướt máy dữ vậy cha nội?"
Ông Thìn cố giữ giọng cho thật bình thản, vươn tay chộp lấy cây sào tre dài gác bên mạn thuyền, ghim mạnh xuống lòng nước bùn để ghìm cho chiếc ghe khỏi chao đảo khi luồng sóng từ ghe bạn tạt tới.
Chiếc ghe của bác Năm Tàu Hủ giảm ga cái rụp, tiếng máy nổ tạch tạch rồi êm dần. Lão già họ Năm bẻ lái một đường điệu nghệ, ép sát mạn gỗ vào cạnh sườn chiếc ghe của ông Thìn. Tiếng cọ xát giữa hai lườn thuyền bằng gỗ sao kêu lên răng rắc khô khốc.
Bác Năm buông cần lái, tiện tay chụp lấy sợi dây dừa quăng qua cột cọc mũi thuyền của ông Thìn để giữ hai chiếc ghe cặp sát nhau, miệng phì phèo điếu thuốc rê cháy đỏ rực đầu tàn.
"Tao đi ngang qua bãi bồi thấy ghe mày nằm chết dí chỗ này cả tiếng đồng hồ. Tưởng chân vịt dính bao ni-lông hay chết máy, tính ghé qua quăng sợi dây kéo mày vô mé bờ." Bác Năm nheo mắt nhìn quanh khoang thuyền của ông Thìn, ánh đèn măng-xông sáng rực soi rõ từng vết bùn non còn ướt trên sàn ván. "Ủa, mà sao mũi ghe mày nặng trịch vậy Ba Thìn? Mày vớt được cái giống gì to lắm hả? Khẳm mớm mũi tới nửa gang tay kìa!"
Ông Thìn nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng đắng nghét như vừa ngậm phải mật cá trê. Ông đưa tay quẹt ngang trán lau đi những giọt mồ hôi lạnh đang túa ra ròng ròng, giả đò khom lưng nhặt con dao chặt lưới đặt lại lên be thuyền.
"Có vớt được cái khỉ mốc gì đâu Năm. Hồi nãy thả mẻ lưới cào ngang qua họng xoáy, chân vịt bị quấn chặt cứng một khúc gỗ mục dính đầy rễ cây với bao tải rách. Tui phải lặn ngụp dưới lườn ghe cả buổi trời mới chặt đứt được mớ rác đó, hụt cả hơi. Nước nó vô khoang mũi một mớ, chưa kịp tát cạn nên ghe nó chúi xuống đó thôi."
Bác Năm Tàu Hủ đứng trên mạn ghe mình, hai chân chùng xuống nhịp nhàng theo từng đợt sóng dập dềnh. Đôi mắt già nua đùng đục của lão bạn chài quét từ đuôi lái lên tận mũi thuyền của ông Thìn. Là dân cắm sào trên sông nước cả đời, chỉ cần nhìn vết nước lượn quanh lườn ghe là lão đoán được trong khoang đang chứa vật nặng nhẹ ra sao. Lão hít một hơi thuốc thật sâu, tàn thuốc đỏ rực soi rõ khuôn mặt hằn sâu những vết chân chim khắc khổ.
"Khúc gỗ mục hả?" Bác Năm nhướng đôi lông mày bạc thếch, giọng chùng xuống đầy vẻ nghi hoặc. "Khúc gỗ mục gì mà làm cái ghe gỗ sao dày cui này nghiêng hẳn một bên mạn? Mày đừng có giấu tao nghe Ba Thìn. Hồi nãy tao chạy ghe từ khúc cầu Bình Lợi xuôi dòng về đây, từ đằng xa tao đã ngửi thấy cái mùi là lạ bay xuôi theo ngọn gió chướng rồi."
Trái tim ông Thìn thắt nghẽn lại. Ông đứng sững bên mạn thuyền, hai bàn tay nắm chặt mép gỗ dằm xước đến rướm máu. Mùi sáp hoa lài ban nãy cùng thứ mùi dầu dừa ngầy ngậy của dải vải liệm vẫn đang lởn vởn trong không khí, quện chặt lấy hơi sương ẩm ướt bốc lên từ mặt nước triều cường. Người thường có thể lầm tưởng đó là mùi rác rưởi trôi dạt từ các cống thải thành phố, nhưng với những kẻ kiếm cơm trên xác người chết đuối như bọn ông, mùi của cõi âm không thể nào lẫn lộn vào đâu được.
Bác Năm Tàu Hủ gí sát mũi về phía mũi ghe ông Thìn, hít hà vài ba hơi thật mạnh. Đột nhiên, khuôn mặt sạm nắng của lão đanh lại, đôi môi mỏng run rẩy đánh bập vào nhau. Lão vội vàng vứt mẩu thuốc rê đang hút dở xuống dòng nước đen ngòm, nghe đánh "xèo" một tiếng ngắn ngủi.
"Mùi này... Mùi dầu dừa chải tóc với vải xô ướt sũng!" Bác Năm hạ giọng, âm thanh rít qua kẽ răng nghe rợn cả người. "Mày vớt được đồ của người ta rồi phải không Thìn?"
Ông Thìn lặng thinh, mắt nhìn trân trân xuống đôi chân trần gầy guộc của mình trên sàn gỗ. Sự im lặng của kẻ đồng nghề chính là câu trả lời rõ ràng nhất.
Bác Năm Tàu Hủ bước mạnh một bước, nhảy phóc qua mạn chiếc ghe nan của ông Thìn. Chiếc ghe khẽ chao đảo, nước dưới lườn vỗ bì bõm. Lão già tiến thẳng về phía chiếc nón lá rách đang úp ngược nơi be mũi thuyền. Không cần hỏi thêm câu nào, bác Năm đưa chân gạt mạnh chiếc nón lá sang một bên.
Dưới ánh sáng chói lọi của ngọn đèn măng-xông, chiếc guốc mộc bằng gỗ mun hiện ra trần trụi. Bề mặt chiếc guốc khô ráo một cách kỳ dị, không dính lấy nửa giọt nước sông dù chung quanh ván thuyền ướt đẫm. Dải vải liệm trắng ngà quấn chặt quanh thân guốc, những sợi chỉ tưa ra đứng thẳng tắp trong gió đêm, chiếc quai guốc gãy chĩa thẳng tắp về phía trụ cầu số 3 như một mũi tên chỉ đường bất động.
Nhìn thấy vật lạ, đôi đồng tử của bác Năm Tàu Hủ co rút lại dữ dội. Lão lùi phắt lại một bước, sống lưng va mạnh vào cột chống mui bạt, hai cánh tay nổi đầy những cục da gà sần sùi.
"Trời đất quỷ thần ơi... Guốc mộc quấn vải xô tang!" Bác Năm chỉ tay vào chiếc guốc, giọng lão run lên bần bật vì hoảng hốt. "Ba Thìn! Mày sống tới gần bảy chục tuổi đầu rồi, ba đời nhà mày cắm sào vớt xác trên cái khúc sông Bình Triệu này, bộ mày điên rồi hay sao mà đem cái thứ này đặt lên mũi ghe?"
Ông Thìn lắp bắp, hai tay xua xua trong không khí: "Năm... Năm bình tĩnh nghe tui nói đã. Hồi nãy chân vịt bị quấn chặt quá, tui lặn xuống gỡ thì nó dính theo nguyên một búi tóc dài thượt. Tui tính lấy dao chặt đứt thả trôi sông cho xong chuyện, nhưng mà... nhưng mà nhìn dải vải liệm này tội nghiệp quá. Người ta chết chìm chết trôi không nơi nương tựa, lạnh lẽo dưới đáy bùn biết bao nhiêu năm. Tui chỉ tính để tạm lên mũi ghe đêm nay, cúng chén cơm lạt rồi sáng mai con nước ròng tui mang lên chùa nhờ mấy thầy làm lễ cầu siêu..."
"Mày ngu lắm Ba Thìn ơi!"
Bác Năm Tàu Hủ gầm lên một tiếng nghiến ngấu, cắt ngang lời giãi bày của ông bạn già. Lão bước tới túm lấy cổ áo sờn rách của ông Thìn, kéo giật về phía mình, gương mặt già nua giận dữ đến mức run rẩy.
"Lề luật của dân vớt xác sông Sài Gòn, mày quên hết sạch rồi hả? Đạo chài lưới cấm kỵ nhất là cái gì? Thấy xác thì vớt, thấy thây thì cứu, đưa người ta lên bờ cho người thân nhận mặt, đó là cái phúc đức của nghề. Nhưng gặp đồ tùy táng, gặp kỷ vật dính vải liệm dính tóc tai của người chết chìm mà không có xác, tuyệt đối phải dùng dao rựa chặt đứt thả trôi theo dòng! Đó là đồ oán khí, là đồ bắt hồn! Người ta chết oan dưới đáy sông, hồn phách rã ra nương vào kỷ vật, mày vớt vật lên tức là mày rước cái nợ máu của người ta lên ghe của mày!"
Lời mắng chửi như tạt từng gáo nước lạnh buốt vào mặt ông Thìn. Ông đứng chết trân, bàn tay bám chặt vào be thuyền run rẩy.
Lề luật đó ông đâu phải không biết. Từ thuở còn là một thằng bé mười hai tuổi theo cha chèo ghe dọc khúc sông này, cha ông đã dùng roi mây quất vào mông ông mà răn dạy từng câu từng chữ. Sông Sài Gòn đoạn chân cầu Bình Triệu là cái túi chứa oan hồn của cả cái đất Gia Định xưa. Nước xoáy sâu hàng chục mét, dưới đáy toàn là cọc gỗ, sắt thép công trình từ thời chiến tranh, cùng tầng tầng lớp lớp phù sa vùi lấp biết bao nhiêu phận người chìm nổi. Kẻ nhảy cầu tự tử vì tình, kẻ bị cướp bóc dìm sông, kẻ bị trói chân tay thả trôi sông từ thời loạn lạc.
Những linh hồn chết trôi không siêu thoát được đều quanh quẩn nơi các hốc xoáy ngầm. Họ bám víu vào từng nhánh rác, từng chiếc guốc, chiếc vòng tay mục rữa. Khi một người sống mang kỷ vật đó lên thuyền của mình, tức là đã tự nguyện ký vào một giao kèo vô hình với cõi chết, nhận lấy cái duyên nợ oan khuất của kẻ nằm dưới đáy bùn. Đến hạn thì Hà Bá đòi, duyên nợ ấy phải trả bằng mạng sống của chính kẻ mang nó lên, hoặc bằng máu thịt của những người thân ruột thịt cùng dòng máu.
"Tui... tui thấy nó tội quá..." Giọng ông Thìn chìm nghỉm giữa tiếng gió rít, yếu ớt như một tiếng thở dài. "Chỉ là một chiếc guốc cũ..."
"Một chiếc guốc cũ?" Bác Năm cười khẩy một tiếng cay đắng, bàn tay buông lỏng cổ áo ông Thìn ra, chỉ thẳng ngón tay run rẩy về phía chân trụ cầu số 3 đang mờ ảo trong sương. "Mày có biết khúc chân cầu đó ngày xưa là cái gì không? Hồi thời Tây, lính nó dựng bốt gác ngay đầu gò đất bên kia sông, bao nhiêu người bị đem ra xử bắn rồi chôn sống vùi dập ngay chân móng cầu! Cái dải vải liệm này là vải xô tang của người xưa, thứ vải tẩm sáp liệm xác chôn sống chứ chẳng phải người chết đuối bình thường đâu! Mày đem nó lên mũi ghe, quay mũi guốc về hướng trụ cầu, là mày đang chỉ đường cho người ta về đòi nợ mày đó!"
Bác Năm hít thở dồn dập, lồng ngực phập phồng sau tấm áo bà ba ướt sũng nước mưa đêm. Lão quay ngoắt người lại, với tay chụp lấy con dao chặt lưới to bản đang nằm trên sạp ván của ông Thìn.
"Bỏ dao xuống Năm! Mày tính làm cái gì?" Ông Thìn hốt hoảng lao tới giữ cánh tay bạn lại.
"Tao vứt nó xuống sông giùm mày! Tao chặt nát nó ra rồi thả trôi theo luồng nước xoáy! Mày muốn chết thì mặc xác mày, nhưng mày còn ba thằng con trai đang đi làm ăn xa ngoài Bình Dương, Đồng Nai kia kìa! Mày rước oán hồn dưới chân cầu lên thuyền, mày nghĩ ba đứa con mày sống yên ổn được với cái dớp này sao?"
Nhắc tới ba đứa con trai, tim ông Thìn như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Ba đứa con trai là tất cả những gì còn lại trong cuộc đời khốn khó của ông lão già nua này. Chúng nó làm lụng đầu tắt mặt tối ở những xưởng gỗ, xưởng dệt xa xôi, chắt bóp từng đồng gửi về cho ông đong gạo, cả năm trời mới về thăm ghe được đôi ba lần.
Thế nhưng, ngay khi mũi dao thép sắc lẻm trong tay bác Năm vừa giơ lên, định bổ thẳng xuống chiếc guốc mộc trên be thuyền, một luồng khí lạnh thấu xương bỗng từ dưới mặt nước quét thốc lên khoang lái.
Ngọn đèn măng-xông trên ghe của bác Năm Tàu Hủ phụt một tiếng, ánh sáng vàng rực bỗng chốc chuyển sang màu xanh lét ma quái, ngọn lửa bên trong chụp thủy tinh chao đảo dữ dội dù gió sông bên ngoài đã lặng ngắt tự bao giờ.
Nhiệt độ quanh mũi ghe tụt xuống đột ngột. Hơi thở của hai ông già phả ra làn khói trắng nhờ nhờ giữa màn đêm ẩm ướt của mùa triều cường.
Mùi dầu dừa chải tóc biến mất tăm.
Thay vào đó, một mùi bùn non tanh tưởi, ngai ngái mùi thịt mỡ rữa nát ngâm lâu năm dưới đáy sông bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào hốc mũi, làm hai người đàn ông già nua buồn nôn đến thắt ruột thắt gan.
Mũi ghe nan của ông Thìn khẽ giật lùi lại nửa thước, dây lòi tói neo dưới lòng sông căng ra như dây đàn, rền lên những âm thanh ken két rợn người. Be thuyền phía trước lại chìm sâu thêm vài phân, mép gỗ mấp mé sát mặt nước đen sì đang sủi bọt ùng ục.
Bác Năm Tàu Hủ đứng sững lại giữa khoang ghe, cánh tay giơ con dao rựa bỗng dưng cứng đờ giữa không trung.
Hai mắt lão già trợn trừng trừng, tròng mắt lồi ra như muốn nứt toác khỏi hốc mắt sâu hoắm. Lão nhìn chăm chú vào khoảng không gian tối đen như mực ngay sát mép be mũi thuyền của ông Thìn, nơi chiếc guốc mộc quấn vải liệm đang nằm bất động.
Hàm răng của bác Năm va vào nhau lập cập, phát ra những tiếng cành cạch khô khốc trong đêm tĩnh lặng. Ngón tay trỏ đen đúa, run rẩy của lão từ từ giơ lên, chỉ thẳng vào mép ván mũi ghe, nơi ánh sáng xanh lè của ngọn đèn bão vừa vặn soi tới.
"Ba... Ba Thìn..."
Tiếng bác Năm thều thào qua cuống họng, vỡ vụn ra từng mảnh nghẹn ứ, như có ai đó đang bóp chặt lấy thanh quản của lão từ phía sau.
"Cái... cái bóng ai... đang ngồi thòng hai chân xuống nước bên cạnh chiếc guốc đó... Thìn?"
Ông Thìn rùng mình ớn lạnh từ gót chân chạy dọc lên tận đỉnh đầu.
Dưới ánh đèn xanh lét mờ ảo, ngay trên tấm be gỗ mũi thuyền chỉ rộng chừng hai gang tay, một bóng đen sũng nước đang ngồi nghiêng nghiêng. Tấm lưng gầy guộc khoác chiếc áo bà ba màu đen cũ rích ướt sũng dính chặt vào da thịt, hai cẳng chân trắng bệch buông thõng xuống dòng nước xoáy ngầm cuồn cuộn bên dưới, đung đưa nhịp nhàng theo từng đợt sóng vỗ vào lườn thuyền.
Và từ đỉnh đầu bóng người ấy, một mái tóc dài đen nhánh, bết bát bùn non và rong rêu rũ rượi xõa dài xuống, từng lọn tóc trườn qua mặt ván gỗ, men theo mép thuyền chầm chậm bò về phía hai bàn chân trần của ông Thìn.