Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 6: Mẻ Lưới Tanh Nồng

Chiếc ghe của bác Năm Tàu Hủ giật lùi một cú thật mạnh, chân vịt khuấy nước tung bọt trắng xóa giữa đêm đen. Bác Năm run rẩy giật sợi dây curoa máy nổ…

Nội dung chương

Chiếc ghe của bác Năm Tàu Hủ giật lùi một cú thật mạnh, chân vịt khuấy nước tung bọt trắng xóa giữa đêm đen. Bác Năm run rẩy giật sợi dây curoa máy nổ đến lần thứ ba mới nghe tiếng động cơ nấc lên rồi gầm rú xé toạc màn sương. Lão già vứt cả cây dao rựa trên sàn gỗ, không thèm ngoái đầu nhìn lại lấy một lần, kéo hết ga cho chiếc vỏ lãi lướt thốc về phía bờ sông bên bán đảo Thanh Đa, trốn chạy như thể vừa thoát khỏi hàm răng của quái vật dưới đáy nước.

Ánh đèn măng-xông vàng vọt khuất dần sau rặng dừa nước mọc lúp xúp ven bờ, để lại khoảng không gian mênh mông chìm ngập trong tiếng triều dâng.

Bóng người đàn bà ngồi trên be thuyền cũng tan biến tự lúc nào. Trên mép gỗ ẩm ướt, chiếc guốc mộc quấn dải vải xô tang vẫn nằm im lìm, mũi guốc hướng thẳng về phía chân trụ cầu số 3. Mùi dầu dừa chải tóc ngai ngái nhạt dần, nhường chỗ cho vị mặn chát của phù sa và làn gió chướng thốc từ mạn cầu Bình Triệu xuống rát buốt mặt mày.

Ông Thìn đứng chôn chân giữa khoang ghe, hai bàn tay buông thõng bên sườn run lên bần bật. Ông đưa bàn tay thô ráp quệt ngang trán, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh hòa lẫn nước mưa đêm. Lời cảnh báo hoảng loạn của bác Năm Tàu Hủ vẫn văng vẳng bên tai, từng câu từng chữ nặng trịch đè nghẹt lồng ngực già nua.

Nhưng rồi, ánh mắt ông Thìn chạm vào chiếc can nhựa hai mươi lít nằm lăn lóc nơi góc khoang lái. Can dầu diesel đã cạn trơ đáy, chỉ còn một chút cặn đen sẫm đọng lại nơi khóe nắp. Chiều qua, bà chủ vựa dầu dưới chân cầu sắt rầy rà suốt nửa tiếng đồng hồ mới cho ông mua chịu nốt can dầu này để nổ máy ra sông. Tiền dầu chưa trả, tiền gạo mốc ở tiệm tạp hóa đầu hẻm đã ghi đến trang thứ tư của cuốn sổ tay nát bươm. Ba đứa con trai đi làm công nhân xa xứ, tháng nào tăng ca nhiều mới gom góp gửi về được vài trăm ngàn phụ tiền thuốc men cho chứng đau khớp của ông, tháng nào thất nghiệp thì chính chúng nó cũng chật vật bữa đói bữa no nơi đất khách quê người.

Nếu đêm nay quay mũi ghe về bến với khoang thuyền rỗng tuếch, ngày mai ông lấy gì đổ vào bao tử, lấy gì trả nợ cho người ta để mong có dầu chạy máy cho những đêm sau. Cái nghèo truyền kiếp bám chặt lấy đời dân chài như rêu bám đáy cọc gỗ, đôi khi còn đáng sợ hơn cả những bóng hình ma quái chập chờn trên mặt nước.

Ông Thìn hít một hơi thật sâu, nuốt sự sợ hãi xuống tận đáy dạ dày. Ông thò tay kéo sụp vành nón lá xuống che bớt gió lạnh, bước về phía mũi ghe. Khi đi ngang qua chiếc guốc mộc, ông cố tình nhìn lảng sang hướng khác, hai chân rảo bước thật nhanh ra khoảng sàn gỗ trống trải phía trước.

Mùa triều cường tháng mười, nước sông Sài Gòn dâng lên mấp mé mép bờ kè bê tông bên đường Kha Vạn Cân. Nước đục ngầu, cuồn cuộn chảy xiết tạo thành những lằn sóng dài va đập ầm oạp vào thân ghe nan. Đây chính là lúc cá tôm tầng đáy theo dòng nước ngược đi ăn mồi nhiều nhất. Những luồng cá lăng đuôi đỏ, cá ngát ngạnh bén ngót hay cá dứa béo ngậy thường chui rúc dưới những bãi bồi quanh chân trụ cầu để tìm phù sa mới.

Ông Thìn ngồi xổm trên sàn gỗ, bắt đầu kiểm tra lại tay lưới cào đêm. Đó là giàn lưới đay sợi ba, mặt lưới đan khít bằng mắt ngón tay, viền dưới kẹp những thỏi chì tròn nặng trịch để kéo chìm sát đáy bùn, viền trên thắt hàng phao xốp trắng ngà đã ố màu năm tháng. Đôi bàn tay chai sần, nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo do ngạnh cá đâm của ông thoăn thoắt xếp từng nếp lưới vào một chiếc thúng rái lớn. Từng sải chão được ông nắn nót cuộn tròn, kiểm tra kỹ lưỡng từng mối gút để tránh bị rối khi quăng xuống dòng nước xoáy.

Gió đêm rít qua khe lan can sắt của cầu Bình Triệu trên cao, tạo nên những âm thanh u u rền rĩ như tiếng kèn đồng thổi đám ma nơi bãi tha ma hoang vắng.

Đứng vững hai chân trên mép be thuyền dập dềnh, ông Thìn nhấc thúng lưới lên ngang hông. Ông lấy đà, vặn mình sang một bên rồi vung mạnh hai cánh tay gầy guộc đầy gân guốc.

Vạt lưới bung rộng ra giữa không trung tựa như một cánh diều đen khổng lồ, rào rào xé toạc làn sương mỏng trước khi chìm nghỉm xuống dòng nước đục ngầu. Tiếng chì nặng rơi tõm xuống đáy sông, kéo theo hàng phao xốp lặn mất tăm dưới những đợt sóng cuồn cuộn.

Sợi dây chão to bằng ngón chân cái lao vun vút qua mép gỗ, cọ vào mạn thuyền phát ra tiếng rít ràn rạt chói tai. Ông Thìn nhanh tay quấn hai vòng dây vào cây cọc bích bằng gỗ sao đóng chặt nơi mũi ghe, ghìm lại tốc độ trôi của giàn lưới ngầm dưới đáy sông.

Sức nước đẩy chiếc ghe nan chồm lên hụp xuống. Con thuyền bị giàn chì dưới đáy giữ lại, mũi thuyền chúi sâu xuống mặt nước, rung bần bật theo từng nhịp kéo của dòng chảy ngầm.

Ông Thìn ngồi bệt xuống sàn khoang, rút trong túi áo bà ba ra mẩu thuốc lá rê quấn dở bằng giấy báo. Ông bật que diêm, bàn tay khum khum che ngọn lửa leo lét trước cơn gió chướng đang lồng lộn thổi qua. Khói thuốc khét lẹt, cay xè tràn ngập khoang miệng giúp ông xua bớt cái giá lạnh đang ngấm sâu vào từng thớ thịt.

Ngồi trên sạp gỗ, mắt ông không rời sợi dây chão đang căng cứng như dây đàn. Dưới đáy sông sâu thẳm kia, tấm lưới cào đang quét ngang qua lớp bùn non, lùa từng đàn cá đang bơi ngược dòng nước lớn.

Một canh giờ trôi qua trong sự im lặng nghẹt thở của màn đêm. Chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền và tiếng còi tàu hỏa từ xa vọng lại khi chuyến tàu đêm muộn chuẩn bị vào ga Bình Triệu.

Bỗng nhiên, mũi ghe giật nảy lên một cái thật mạnh.

Cây cọc bích bằng gỗ sao rên lên ken két. Sợi dây chão bằng sợi gai to bản bỗng chốc siết chặt lại, rỉ ra những giọt nước sủi bọt trắng xóa. Toàn bộ thân ghe nan trĩu hẳn sang mạn phải, mép ván gỗ chìm ngập dưới làn nước đen kịt chừng ba tấc.

Ông Thìn buông rơi mẩu thuốc lá xuống sàn ghe, vội vàng dẫm chân dập tắt đốm lửa tàn. Hai mắt ông mở to, nhìn chằm chằm vào sợi dây neo đang căng phồng dưới một lực kéo kinh người từ dưới đáy nước.

Sức nặng này vượt xa những mẻ cá bình thường. Dây chão không hề rung giật lách cách theo nhịp quẫy đuôi hoảng loạn của bầy cá ngát, cũng không trĩu nặng bất động như khi lưới mắc phải cành cây mục hay gốc dừa nước chìm. Nó nặng trịch, dẻo quẹo và đang chầm chậm trì kéo chiếc ghe nan lùi dần về phía chân trụ cầu số 3.

"Trúng luồng rồi! Trúng luồng cá lớn rồi!"

Lồng ngực già nua của ông Thìn đập thình thịch từng hồi dồn dập. Một sự phấn khích tột cùng trào dâng, tạm thời xua tan đi tất cả những nỗi sợ hãi ma quái vừa bủa vây lấy tâm trí ông suốt đêm dài. Đoạn sông chân cầu Bình Triệu nổi tiếng là nơi trú ngụ của những con cá tra dầu khổng lồ sót lại từ thời xa xưa, có con nặng cả tạ, vảy dày như chiếc đĩa đồng. Nếu kéo được một mẻ cá như vậy lên khoang, ông Thìn có thể bán cho các nhà hàng đặc sản trên quận Nhất với giá hàng chục triệu đồng. Số tiền đó đủ để ông trả sạch nợ nần, mua sắm thêm ngư cụ mới, và quan trọng nhất là có một món tiền kha khá gửi cho ba đứa con trai túng quẫn ở quê người.

Không chần chừ thêm một giây nào, ông Thìn vơ vội lấy mảnh vải rách quấn chặt quanh hai lòng bàn tay để chống trầy xước. Ông bước tới đầu mũi ghe, cúi rạp người xuống, hai chân bấu chặt vào những kẽ hở giữa các thanh ván sàn.

"Một... hai... ba... lên!"

Ông Thìn nghiến chặt răng, gầm lên một tiếng khàn đặc qua cuống họng. Cơ bắp trên hai cánh tay khẳng khiu cuộn lên từng múi cứng ngắc như rễ cây cổ thụ. Từng đường gân máu xanh lè nổi cộm trên làn da đồi mồi ướt đẫm nước sông.

Sợi dây chão nặng khủng khiếp. Lực cản của dòng nước cuốn cùng sức nặng kỳ dị dưới đáy sông khiến từng đốt xương sống của ông lão 67 tuổi kêu lên rôm rốp. Hai bàn chân trần trượt đi trên mặt ván gỗ đóng rêu trơn tuột, các ngón chân phải quặp chặt lấy mép sàn để giữ thăng bằng.

Nước sông bắn tung tóe theo từng sải chão được kéo lên khỏi mặt nước. Mùi bùn sình xộc lên mũi ngai ngái.

Kéo được chừng mười sải dây, hai bàn tay ông Thìn bắt đầu nóng rát như bị chà xát trên than hồng. Vải quấn tay rách bươm, máu từ những vết nứt nẻ nơi kẽ ngón tay ứa ra, thấm đỏ cả sợi dây thừng đay ướt sũng. Nhưng nghĩ đến khoản tiền lớn sắp cầm trong tay, ông lão như quên hết mọi đau đớn thể xác, tiếp tục vặn mình, dùng cả sức nặng của thân trên để giật từng tấc lưới về phía mạn thuyền.

"Ầm... oạp!"

Mép phao đầu tiên của giàn lưới cuối cùng cũng nổi lên khỏi mặt nước đen ngòm, chao đảo giữa những lớp sóng gợn.

Thế nhưng, điều kỳ lạ là trên mặt nước hoàn toàn không xuất hiện những vệt bọt khí trắng xóa do cá giãy giụa. Thường thì khi một đàn cá lớn bị gom vào đụt lưới, chúng sẽ hoảng loạn quẫy đạp điên cuồng làm mặt nước sôi sục lên như nồi canh trào. Đằng này, mặt sông quanh túm lưới lặng ngắt như tờ, chỉ có một khối đen kịt, tròn ủng đang từ từ trồi lên theo từng nhịp kéo ráng sức của ông lão.

Ông Thìn thở dốc từng cơn nặng nhọc, hai lá phổi ran rát như có cát xát bên trong. Ông tựa hông vào be thuyền, hai tay túm lấy vòng sắt gom miệng lưới, dùng hết chút tàn lực cuối cùng nhấc bổng cái bọc nặng trịch ấy qua khỏi mạn ghe, quăng huỵch một tiếng thật mạnh xuống mặt sàn gỗ.

"Bịch!"

Một âm thanh trầm đục, nhão nhoét vang lên giữa khoang thuyền. Chiếc ghe nan chao đảo dữ dội, nước sông tràn qua mép be chảy lênh láng trên mặt sàn trước khi rút dần qua những lỗ thoát nước nhỏ hai bên sườn.

Ông Thìn ngã ngửa ra sau, hai bàn tay buông lỏng run rẩy, lồng ngực phập phồng sau lớp áo bà ba sũng ướt. Sau vài hơi thở gấp gáp, ông vội vã chống tay ngồi dậy, với lấy cây đèn bão treo lủng lẳng trên cột mui ghe, vặn to bấc lửa để kiểm tra chiến lợi phẩm.

Ánh lửa vàng vọt của ngọn đèn bão quét qua mặt sàn gỗ ẩm ướt.

Nụ cười vừa chớm nở trên gương mặt nhăn nheo của ông lão dân chài bỗng chốc đông cứng lại. Cả người ông run lên bần bật, tròng mắt trợn trừng kinh hãi nhìn vào khối vật thể đang nằm chình ình giữa khoang thuyền.

Không có lấy một chiếc vảy cá nào lấp lánh dưới ánh đèn. Không có một con tôm, con ốc hay bất kỳ một sinh vật sông nước nào nằm bên trong túi lưới.

Chiếm trọn khoảng sàn rộng hơn hai thước vuông là một khối nhầy nhụa, đen đục khổng lồ. Nó bốc lên một mùi tanh tưởi khủng khiếp, nồng nặc hơn gấp vạn lần mùi của những cái xác trôi sông bị trương phềnh ngâm lâu ngày dưới bùn lầy. Thứ mùi thối rữa của mỡ người chết hòa quyện với mùi tanh nồng của máu đọng lâu năm xộc thẳng vào cuống họng, khiến ông Thìn nôn thốc nôn tháo, bao tử co thắt lại từng cơn đau đớn.

Khi ánh sáng của ngọn đèn bão soi rọi rõ hơn vào từng ngóc ngách của tấm lưới đay, da đầu ông Thìn giật thót từng chập.

Toàn bộ hàng ngàn mắt lưới cước đay dày đặc đều bị những búi tóc đen nhánh quấn chết cứng.

Tóc nhiều vô kể, từng chùm, từng lọn dài cả sải tay bện chặt lấy sợi cước, quấn tròn quanh từng thỏi chì nặng, thắt chặt vào từng chiếc phao xốp. Những sợi tóc đen mượt, ướt nhẹp bám đầy bùn non màu xám xịt và những mẩu rêu xanh nhớp nháp. Chúng kết dính lại với nhau thành từng mảng lớn như những mảng da đầu người bị lột trần, bọc kín mít lấy chiếc túi lưới cào.

Nước sông đen ngòm rỉ ra từ khối tóc ma quái ấy, chảy róc rách qua các khe ván sàn gỗ, để lại những vệt nhờn bóng loáng bốc mùi hôi thối nôn nao.

Ông Thìn run rẩy lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào vách khoang lái. Bàn tay cầm ngọn đèn bão chao đảo dữ dội khiến những cái bóng đen trên mạn thuyền nhảy múa ma quái.

Giữa lúc ấy, một hiện tượng kỳ dị đột ngột xảy ra trên khúc sông Sài Gòn.

Tiếng nước triều đang cuồn cuộn gầm rú va đập vào thân ghe bỗng nhiên tắt ngấm. Những con sóng lớn đang chồm lên dữ dội từ phía hạ lưu bỗng chốc hạ rạp xuống mặt sông như bị một sức mạnh vô hình đè bẹp.

Không gian quanh chân cầu Bình Triệu trở nên tĩnh mịch một cách bất thường, tĩnh mịch đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng giọt nước nhỏ tong tỏng từ mái nón lá của ông Thìn rớt xuống sàn gỗ.

Ông Thìn kinh hoàng ngước mắt nhìn ra ngoài mạn thuyền.

Mặt nước sông Sài Gòn, đoạn vòng quanh chân trụ cầu số 3, bỗng nhiên phẳng lặng tuyệt đối.

Dưới chân cầu, dòng chảy xoáy ngầm hung tợn vốn dĩ nuốt chửng biết bao sinh mạng suốt nhiều thập kỷ qua bỗng biến mất không còn một gợn sóng. Mặt nước đen kịt phẳng lì, nhẵn thín như một tấm gương soi bằng kính đen khổng lồ được đặt úp xuống lòng sông sâu thẳm. Trên bề mặt phẳng lặng đến ghê người ấy, bóng đen sừng sững của trụ cầu số 3 in hằn rõ mồn một từng vết rêu phong và những vết nứt bê tông loang lổ.

Mặt gương đen phản chiếu ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão trên ghe ông Thìn. Nhưng lạ lùng thay, khi nhìn vào mặt nước phẳng lì ấy, ông Thìn không thấy bóng dáng của chiếc ghe nan đâu cả.

Dưới đáy sâu của tấm gương nước, chỉ có hàng ngàn sợi tóc đen dài dằng dặc đang lững lờ trôi bồng bềnh, uốn lượn như một rừng rong rêu ma quái vươn thẳng lên phía mặt sông.

"Xột... xoạt..."

Một âm thanh ma quái, nhỏ nhoi nhưng vô cùng sắc gọn bỗng vang lên ngay sát dưới chân ông Thìn.

Ông lão cúi gập đầu nhìn xuống.

Khối nhầy nhụa giữa khoang thuyền đang cựa mình.

Không cần một ngọn gió nào tác động, hàng vạn sợi tóc đen nhánh quấn chặt quanh mắt lưới bắt đầu tự động ngọ nguậy, tách rời ra khỏi nhau như những con giun đất trườn bò sau cơn mưa lớn. Từng lọn tóc ướt sũng, lạnh ngắt bắt đầu luồn lách qua các khe hở của sàn gỗ, rào rạo trườn dọc theo sống be thuyền, để lại những vệt nước nhờn đen kịt men dần về phía mạn gỗ chìm dưới dòng sông phẳng lặng.

Chương khác

Xem thêm