Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 9: Ghe Tự Xoay Mũi

Nước rằm tháng Chín dâng mấp mé bờ kè Thanh Đa, cuộn lên từng vệt bọt ngả màu vàng đục như mỡ bò. Đêm càng về khuya, dòng chảy dưới chân cầu Bình Triệu…

Nội dung chương

Nước rằm tháng Chín dâng mấp mé bờ kè Thanh Đa, cuộn lên từng vệt bọt ngả màu vàng đục như mỡ bò. Đêm càng về khuya, dòng chảy dưới chân cầu Bình Triệu càng xiết, tiếng nước vỗ vào những trụ bê tông nghe trầm đục, vang rền như tiếng cối xay đá dưới đáy sông. Sau khi chiếc dầm sắt tuột tay chìm nghỉm, ông Thìn lảo đảo bám lấy mép be gỗ, hai bàn chân trần bấm chặt xuống mặt sàn trơn ướt.

Sợi cáp ngầm bị đứt ngang với mép cắt ngọt xáng vẫn còn treo lơ lửng một mẩu ngắn nơi cọc bích. Chiếc ghe năm tấn không còn điểm tựa, trôi dạt vô định giữa luồng xoáy ngầm. Gió đêm từ phía bán đảo thổi thốc qua gầm cầu, quất những hạt mưa lất phất vào mặt ông rát buốt.

Ông Thìn biết rõ khúc sông này hơn bất kỳ ai. Mùa nước rong, đáy sông Bình Triệu biến thành một cái phễu khổng lồ. Xác người trôi từ mạn Lái Thiêu về tới đây, hễ gặp con nước lớn là lặn mất tăm xuống đáy sâu, dạt vào các hốc đá ngầm rồi mắc kẹt trong đó hàng tuần lễ. Nếu để con ghe trôi tự do vào vùng xoáy chân trụ số 3 lúc này, mũi thuyền sẽ bị hút nghiêng, lật úp chỉ trong vài chục nhịp thở.

"Phải ghì mũi lại, không thể để nó trôi!"

Ông Thìn cắn chặt hàm răng run rẩy, lồm cồm bò thụp xuống khoang mũi. Hai bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo chài lưới lần mò trong bóng tối mờ mịt của sạp ghe, lôi ra chiếc mỏ neo sắt phụ nặng gần hai mươi ký. Đây là chiếc neo ba chấu đúc bằng sắt đặc rỉ sét, bốn phía góc chấu đều sắc nhọn, thường ngày ông chỉ dùng khi gặp bão lớn ở mạn Nhà Bè. Cuộn dây thừng bện gai xơ dừa to bằng cổ tay trẻ con nằm gọn dưới đáy khoang, bốc mùi ẩm mốc và dầu nhớt lâu năm.

Ông quấn chặt một đầu dây vào chiếc cọc bích bằng gỗ lim trước mũi, thắt liên tiếp ba nút số tám theo đúng thói quen của dân chèo ghe tải. Từng động tác thắt nút được thực hiện vội vã nhưng dứt khoát. Xong xuôi, ông ôm trọn thân neo sắt lạnh ngắt lên ngực, hít một hơi sâu ngập ngụa mùi bùn non rồi dùng hết sức bình sinh quẳng chiếc neo qua mạn trái.

Bùm!

Khối sắt đặc xé toang mặt nước đen kịt, kéo theo sợi dây thừng tuôn xè xè qua mép be thuyền. Bụi xơ dừa bay mù mịt, cọ vào lớp sơn gỗ tạo nên những âm thanh ken két chói tai. Dây tuôn ra chừng bảy sải tay thì chùng lại. Ông Thìn lập tức nắm chặt thân dây, ghì cả trọng lượng cơ thể sáu mươi bảy tuổi ngả về phía sau, giật mạnh ba cái liên hồi để ba chấu sắt găm sâu vào tầng bùn quánh dưới đáy sông.

Sợi dây thừng giật nảy lên một cái rồi căng tức. Chiếc ghe chao mạnh sang mạn trái, mũi thuyền cắt ngang dòng nước xiết, dừng lại cách chân trụ cầu số 3 chừng mười lăm thước. Con thuyền gượng lại giữa dòng, hai bên mạn nước tẽ ra thành những luồng bọt trắng xóa nồng nặc mùi lưu huỳnh và rác thối.

Ông Thìn thở dốc, buông tay khỏi sợi thừng gai. Lòng bàn tay ông rách toạc một đường dài do sợi dây cọ xát, rỉ ra những giọt máu đỏ tươi tanh nồng. Ông vội vàng quệt tay áo lau sạch vết máu, không dám để dù chỉ một giọt rơi xuống dòng nước ngầm. Dân vớt xác kiêng kỵ nhất là để máu người sống chạm vào nước sông giữa đêm rằm, bởi mùi máu chính là thứ dẫn đường nhanh nhất cho những vong hồn đói khát bám vào mạn thuyền.

Mưa phùn đã ngớt hẳn, nhưng sương mù từ đầm lầy bắt đầu lan rộng, phủ một lớp màn đục ngầu lên mặt sông Sài Gòn. Ánh đèn vàng vọt từ thành cầu sắt Bình Triệu rọi xuống những bóng xe máy thưa thớt chạy về hướng Thủ Đức, tiếng động cơ rú ga nghe xa xăm, đứt quãng như vọng lại từ một thế giới khác.

Dưới mũi ghe, chiếc guốc mộc vẫn nằm trơ trọi trên be gỗ. Dải vải xô liệm ướt sũng dính chặt vào thân gỗ mốc thếch, phần mũi nhọn vẫn hướng thẳng về phía khối bê tông xám xịt của trụ cầu số 3.

Ông Thìn ngồi bệt xuống ván sàn, lưng tựa vào vách mui ghe. Đôi chân ông mỏi nhừ sau chuỗi động tác nặng nhọc. Ông run rẩy móc trong túi áo bà ba ra một gói thuốc rê nhăn nhúm cùng chiếc hộp quẹt gas bằng nhựa đã mòn đá. Ngón tay run rẩy cuốn chặt một điếu sâu kèn, móng tay cái dính đầy cáu ghét và dầu máy kẹp chặt mẩu giấy quyến.

Tách.

Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi rõ khuôn mặt hốc hác đầy những nếp nhăn sâu hoắm của ông lão chài lưới. Ông rít một hơi thật sâu. Khói thuốc rê nồng gắt xộc thẳng vào cuống họng, làm dịu bớt cảm giác ớn lạnh đang chạy dọc sống lưng.

Nghề vớt xác trên khúc sông này là cái nghiệp truyền đời của gia đình ông. Từ đời ông nội đến đời cha ông, con nước Bình Triệu nuốt chửng bao nhiêu mạng người thì dòng họ Lê vớt lên bấy nhiêu thể xác. Cha ông từng dặn trước lúc nhắm mắt xuôi tay: "Làm nghề này là gánh nợ giùm thiên hạ, thấy xác thì vớt, thấy đồ người chết trôi thì mặc kệ mà thả xuôi dòng. Đừng tò mò, đừng tiếc của, cũng đừng mang bất cứ thứ gì dưới đáy sông lên cất giữ trên ghe."

Lời dặn dò năm xưa văng vẳng bên tai khiến ngực ông thắt lại. Ông đã phạm vào điều cấm kỵ lớn nhất. Đêm đó, khi gỡ búi tóc rối quấn nghẹt chân vịt, nhìn thấy chiếc guốc mộc còn quấn dải vải liệm trắng, thay vì dùng rựa chặt đứt thả trôi theo dòng xoáy, lòng tham kỳ quặc và sự tò mò ma quái đã khiến ông đặt nó lên mũi ghe. Kể từ lúc đó, chiếc ghe của ông không còn tuân theo sự điều khiển của tay dầm hay chân máy nữa.

Mỗi khi con nước lớn dâng đầy, chiếc guốc lại tự động xoay mũi, kéo theo toàn bộ con thuyền hướng về phía chân trụ cầu số 3.

Tàn thuốc rơi xuống sàn gỗ mục, tắt ngấm.

Ông Thìn ngước mắt nhìn lên. Giữa không gian tĩnh mịch chỉ còn tiếng nước vỗ bì bõm, ông chợt nhận ra một sự im ắng lạ thường. Gió đêm ngừng thổi. Mặt sông phẳng lặng một cách bất thường, không còn những gợn sóng lấp loáng dưới ánh đèn đường. Bọt bèo và rác rưởi trôi xuôi dòng từ hướng cầu Bình Lợi bỗng nhiên dạt hết sang hai bên bờ, để lại một khoảng nước đen ngòm, bóng loáng bao quanh chiếc ghe của ông.

Cọt kẹt.

Một âm thanh khô khốc vang lên từ phía mũi thuyền.

Sợi dây neo bện gai xơ dừa đang căng cứng bỗng nhiên rung lên bần bật. Những tao dây bện xoắn xít kêu răng rắc như thể đang phải gánh chịu một sức kéo ngàn cân từ dưới đáy sông.

Ông Thìn vội vàng chồm dậy, hai mắt dán chặt vào đoạn dây neo. Với độ bám của chiếc neo ba chấu cắm ngập trong bùn quánh, đáng lẽ mũi ghe phải giữ nguyên vị trí, hướng thẳng về phía thượng lưu để đón dòng chảy.

Nhưng chiếc ghe bắt đầu chuyển động.

Không có tiếng sóng đập vào mạn thuyền, không có bất kỳ cơn gió nào thổi qua. Chiếc ghe nặng năm tấn lướt đi một cách êm ru, xoay chầm chậm trên mặt nước phẳng lặng.

Mũi ghe xoay từ mạn trái sang mạn phải, từng tấc một, vẽ thành một vòng cung hoàn hảo trên mặt nước đen ngòm. Mười độ, ba mươi độ, rồi chín mươi độ. Thân ghe nằm ngang chắn giữa dòng chảy cuồn cuộn của sông Sài Gòn.

"Trời đất quỷ thần ơi..." Ông Thìn thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai bàn tay bấu chặt vào mép vách mui.

Theo lẽ thường của sông nước, khi một chiếc ghe nằm ngang giữa dòng triều cường đang dâng cao, lực cản của nước sẽ lập tức hất tung mạn thuyền, nhận chìm con ghe xuống đáy sông trong chớp mắt. Nhưng chiếc ghe của ông Thìn lại hoàn toàn bất động trước sức ép của dòng nước. Nước sông đỏ ngầu phù sa chảy xiết đến chân ghe bỗng rẽ ra làm đôi, chảy luồn qua đáy thuyền mà không hề tạo ra một ngọn sóng vỗ nào.

Con thuyền tiếp tục xoay.

Nó quay đúng một trăm tám mươi độ.

Mũi ghe lúc này quay ngược hoàn toàn so với hướng neo ban đầu. Nó không còn hướng về phía thượng lưu để cản nước, mà chĩa thẳng tắp vào khối bê tông khổng lồ của chân trụ cầu số 3.

Mọi thứ diễn ra trong sự câm lặng tuyệt đối. Chiếc guốc mộc trên be thuyền nằm im lìm, dải vải xô liệm rủ xuống không hề lay động, thẳng hàng một cách chuẩn xác với tâm xoáy ngầm đang sủi bọt cách đó chừng mười thước.

Chiếc ghe tự quay mũi ngược dòng nước mà không hề chao đảo hay lật úp, tựa như có một bàn tay khổng lồ từ dưới đáy sông nắm chặt lấy sống thuyền, nhấc bổng nó lên rồi đặt xoay tròn theo ý muốn.

Cơn ớn lạnh từ gan bàn chân bốc ngược lên đỉnh đầu khiến da gà nổi khắp người ông lão. Bằng kinh nghiệm mấy mươi năm chèo chống trên sông, ông biết chắc chắn có điều gì đó cực kỳ tà ác đang diễn ra ngay dưới sàn gỗ dưới chân mình.

Ông Thìn quỳ rạp xuống mặt sàn, thận trọng bò từng bước nhỏ ra phía mũi ghe. Mỗi tấc ván sàn đều lạnh ngắt như mặt băng. Ông tiến đến gần cọc bích gỗ lim, nơi sợi dây neo gai xơ dừa đang bị kéo căng như một sợi dây đàn sắp đứt.

Đoạn dây không hề chùng xuống dù ghe đã xoay ngược hướng. Nó bị kéo thẳng băng xuống đáy nước theo một góc chéo nghiêng ngả về phía chân trụ cầu.

Và rồi, mắt ông Thìn dán chặt vào điểm buộc dây dưới chân cọc bích.

Bên cạnh sợi dây thừng gai xơ dừa của chiếc neo phụ vừa thả, mẩu cáp dù có lõi thép của chiếc neo chính bị đứt lúc nãy bỗng nhiên dài ngoẵng ra. Nó không hề trôi mất. Đầu dây cáp đứt nhẵn thín từ bao giờ đã trồi lên khỏi mặt nước, quấn chặt lấy sợi dây thừng phụ thành một khối dính liền.

Ông Thìn nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt, vươn cánh tay khẳng khiu run rẩy tóm lấy đoạn dây thừng, dùng sức kéo nhẹ lên để kiểm tra xem mỏ neo bên dưới có vướng phải vật cản hay không.

Sợi dây nặng trịch, không hề nhúc nhích dù chỉ nửa tấc.

Cảm giác truyền qua lòng bàn tay thô ráp của ông không phải là sự thô ráp của gai xơ dừa hay độ cứng sắc của lõi thép.

Bề mặt của sợi dây trơn tuột, nhớp nhúa và mềm oặt.

Ông Thìn ghé sát mặt xuống mép be thuyền, dán mắt nhìn xuyên qua làn sương mỏng và bóng tối thăm thẳm của dòng nước ngầm.

Dưới ánh sáng vàng vọt hắt xuống từ bóng đèn cao áp trên cầu Bình Triệu, hai sợi dây neo chìm dưới mặt nước chừng nửa thước hiện ra rõ mồn một.

Hai sợi dây to bằng cổ tay không hề tỏa ra hai hướng ngược nhau để giữ ghe như quy luật thông thường. Chúng quấn chặt lấy nhau, đan bện xoắn xuýt vào nhau từng tao, từng nuộc một cách tỉ mỉ, trơn tru.

Đó không phải là một mối thắt nút ngẫu nhiên do dòng nước xoáy tạo thành.

Hai sợi dây thừng to bản, kết hợp cùng những sợi thép tưa ra từ mối đứt lúc trước, đang được thắt chặt vào nhau thành một nút bện hình bím tóc dài ngoằng.

Từng múi bện đều tăm tắp, phẳng phiu và chặt chẽ, giống hệt như cách những người phụ nữ Nam Bộ xưa tết bím tóc ba tao thả dài sau lưng.

Những sợi chỉ xơ dừa và dây thép nhỏ li ti tưa ra xung quanh đung đưa nhịp nhàng trong làn nước chảy xiết, trông giống những lọn tóc đen nhánh của một người đàn bà đang trôi lơ lửng dưới đáy sông.

Đầu bím tóc kỳ quái đó cắm sâu xuống tầng bùn quánh, kéo thẳng tắp về phía chân trụ cầu số 3.

Nút bện bím tóc dường như đang thở. Từng múi dây siết chặt lại rồi hơi nới lỏng ra theo từng nhịp đập chậm rãi, truyền những rung động run rẩy từ đáy nước sâu thẳm thẳng vào thân gỗ của chiếc ghe chài.

Ông Thìn bàng hoàng buông tay khỏi sợi dây. Hai hàm răng ông va vào nhau cầm cập, phát ra những tiếng lập cập khô khốc giữa đêm vắng.

Một mùi hương thoang thoảng bốc lên từ mặt nước ngay dưới mũi ghe, át đi cả mùi bùn non và mùi dầu máy khét lẹt.

Đó là mùi hoa lài úa ngâm nước lâu ngày, hòa lẫn với mùi vải liệm mốc meo nồng nặc của người chết trôi.

Mũi ghe lúc này đã hoàn toàn cố định, hướng thẳng vào vùng xoáy ngầm đen ngòm nơi chân trụ cầu số 3 như một mũi tên đã đặt lên dây cung. Vùng nước xoáy quanh chân trụ bắt đầu phát ra những tiếng rền rĩ trầm đục, cuốn từng bọng nước xoay tít mù quanh khối bê tông xám xịt phủ đầy rêu phong.

Ông Thìn nhìn trừng trừng vào chân trụ cầu đang mờ ảo trong làn sương đêm, lồng ngực thắt nghẹn lại. Chiếc ghe của ông không còn thuộc về ông nữa, nó đã bị cột chặt vào số mệnh của thứ đang nằm im lìm dưới đáy vùng nước xoáy kia.

Chương khác

Xem thêm