Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 12: Lão Nghề Vớt Xác Kể Chuyện

Bóng đêm trong khoang thuyền đặc quánh lại, lạnh lẽo và nồng nặc mùi bùn thối. Ông Thìn ngồi bất động trên manh chiếu rách, lưng dựa sát vào vách gỗ mạn…

Nội dung chương

Bóng đêm trong khoang thuyền đặc quánh lại, lạnh lẽo và nồng nặc mùi bùn thối.

Ông Thìn ngồi bất động trên manh chiếu rách, lưng dựa sát vào vách gỗ mạn thuyền. Hai bàn tay ông bấu chặt lấy chiếc điện thoại bấm phím cũ mèm, các khớp ngón tay gồ ghê trắng bệch vì dùng sức quá nhiều. Màn hình điện thoại phát ra luồng sáng xanh lờ mờ, hắt lên khuôn mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn sâu hoắm của người đàn ông cả đời lênh đênh trên mặt nước.

Trên màn hình, đồng hồ điện tử hiển thị ba giờ bốn mươi phút sáng.

Dưới sàn ván, tiếng cọ quẹt nham nhám đã lắng xuống từ nửa tiếng trước, nhưng cảm giác lạnh buốt thấu xương vẫn không hề tan biến. Nước triều ngoài sông bắt đầu chững lại, dòng chảy ngầm rùng rình dưới lườn ghe tạo thành những tiếng ục ục nặng nề. Mấy sợi tóc đen lọt qua kẽ ván ban nãy đã rụt bớt xuống, để lại trên mặt chiếu cói một vệt nước màu xám đen, bốc lên mùi ngai ngái của rễ cây mục và hoa lài thối rữa.

Ông Thìn đưa ngón tay cái run rẩy chạm vào phím gọi, nhưng rồi lại ngập ngừng rút lại.

Ba giờ sáng. Giờ này thằng Hai Thắng cùng đám thợ hồ trên công trường Bình Dương chắc chắn đang ngủ say sau một ngày khuân vác gạch đá kiệt sức. Nếu ông bấm máy lúc này, tiếng chuông reo bất chợt giữa đêm hôm khuya khoắt sẽ làm nó hoảng hồn. Dân lao động nghèo sợ nhất là những cuộc gọi lúc nửa đêm từ quê nhà, bởi chín phần mười những cuộc gọi ấy đều đem theo tin tang tóc hoặc tai ương.

Nhưng tiếng thì thầm gọi rành rọt "Hai Thắng ơi" vang lên từ đáy sông ban nãy vẫn văng vẳng bên tai ông. Từng chữ, từng nhịp thở nghẹn ứ bùn non của người phụ nữ dưới trụ cầu số 3 như một cái dằm đâm sâu vào lồng ngực, khiến ông không tài nào thở đều được.

Ông Thìn nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt. Cổ họng ông khô khốc, ráp ranh như có ai rải một nắm cát sông vào trong cuống họng.

Bên ngoài mui ghe, tiếng xe tải hạng nặng chạy qua cầu Bình Triệu dội xuống mặt nước từng hồi ầm ầm đều đặn. Mặt sàn gỗ rung lên bần bật theo mỗi nhịp bánh xe lăn qua các mối nối kim loại trên cao. Cây cầu sắt và bê tông đồ sộ vẫn đứng đó, nối liền nhịp sống hối hả của thành phố, nhưng ngay dưới chân nó, nơi vùng nước xoáy ngầm quẩn quanh những trụ cầu rêu phong, lại là một thế giới tăm tối mà người đi trên bờ không bao giờ hay biết.

Ông Thìn ngồi canh chừng từng phút trôi qua.

Bốn giờ. Rồi bốn giờ rưỡi.

Màn đêm đen đặc bên ngoài cửa khoang bắt đầu chuyển dần sang màu xám đục của tro bếp. Sương sớm từ thượng nguồn sông Sài Gòn tràn về, giăng kín mặt nước một lớp màn trắng xóa, nhớp nháp hơi lạnh. Hơi ẩm bám vào các thanh be thuyền, đọng lại thành từng giọt nước đùng đục rồi nhỏ tí tách xuống sàn ván.

Năm giờ mười lăm phút sáng.

Ánh rạng đông le lói từ phía mạn đông hắt qua khe cửa sổ con của buồng lái. Tiếng máy ghe đuôi tôm của mấy người đi thu mua cá sớm ở mạn Thủ Đức bắt đầu nổ phành phạch từ đằng xa. Nhịp sống sông nước ban ngày đang chầm chậm cựa mình thức dậy.

Ông Thìn không thể chờ thêm được nữa.

Ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ vì ngâm nước phèn của ông run rẩy ấn từng phím số đã mòn vẹt lớp sơn trắng. Từng tiếng "tít... tít..." vang lên khô khốc trong không gian chật hẹp của khoang thuyền.

Dãy số của thằng con trưởng hiện lên trên màn hình xanh lét. Ông Thìn áp chặt chiếc điện thoại vào tai, nín thở lắng nghe.

Hồi chuông thứ nhất kéo dài, tút... tút...

Tiếng chuông điện thoại trong trẻo đến lạ lùng giữa buổi sớm mai tĩnh mịch, đối lập hoàn toàn với nỗi sợ hãi đang sôi sục trong bụng dạ ông lão chài lưới.

Hồi chuông thứ hai. Rồi hồi chuông thứ ba.

Mỗi tiếng tút ngân dài là một lần lồng ngực ông Thìn thắt lại. Bàn tay cầm máy của ông run rẩy đến mức mép vỏ nhựa va vào vành tai kêu lách cách. Ông sợ đầu dây bên kia sẽ mãi mãi là những khoảng im lặng kéo dài vô tận, hoặc tệ hơn, là một giọng nói xa lạ báo tin dữ.

Đến hồi chuông thứ năm, khi ông Thìn tưởng chừng trái tim mình sắp vỡ tung ra vì căng thẳng, tín hiệu bỗng ngắt quãng bằng một tiếng cạch nhỏ.

Đầu dây bên kia bắt máy.

Không có tiếng chào hỏi quen thuộc. Thay vào đó là một tràng thở dốc dồn dập, đứt quãng, xen lẫn tiếng ho sặc sụa và tiếng còi xe inh ỏi của quốc lộ vọng vào.

"Thắng? Thắng phải mày không con?"

Giọng ông Thìn lạc hẳn đi, vỡ vụn ra giữa hai bờ môi khô nứt. Ông vội vàng dán chặt ống nghe vào tai, mắt trừng trừng nhìn chằm chằm vào khoảng sáng mờ ảo ngoài cửa mui.

"Khụ... ba... Ba đó hả ba?"

Tiếng của thằng Hai Thắng vọng lại, đặc nghẹt và khàn đục như người vừa trải qua một cơn thập tử nhất sinh. Tiếng thở của nó rít qua kẽ răng, nặng nhọc hệt như tiếng một ống bễ lò rèn bị rách.

Nghe thấy tiếng con trai, toàn thân ông Thìn run lên bần bật, một nửa tảng đá đè nặng trong ngực vừa được nhấc ra, nhưng nửa còn lại lập tức trĩu nặng gấp bội vì nhận ra sự bất thường trong giọng nói của nó.

"Tao đây! Ba đây Thắng ơi! Mày sao vậy con? Giọng mày sao khàn đặc vậy? Có chuyện gì xảy ra trên trển không?"

Đầu dây bên kia im lặng mất mấy giây, chỉ còn lại tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng thở hóp bụng của Thắng. Một lát sau, giọng nó run rẩy cất lên, lắp bắp từng hồi:

"Ba... Sao... sao tự nhiên sáng sớm ba lại gọi cho con? Có phải ở dưới ghe ba thấy cái gì... hay có điềm gì không ba?"

Câu hỏi của con trai làm sống lưng ông Thìn lạnh toát. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán ông, nhỏ giọt xuống chiếc áo cộc bạc màu. Ông nắm chặt mép chiếu rách, hạ thấp giọng xuống mức thấp nhất:

"Mày nói thật cho ba nghe đi. Đêm qua mày gặp chuyện gì? Mày bị cái gì ngoài công trường phải không?"

Tiếng Thắng ở đầu dây bên kia run rẩy rõ rệt, kèm theo tiếng răng va vào nhau lập cập:

"Con... con vừa thoát chết đêm qua ba ơi. Tới giờ hai chân con vẫn còn run, đi không nổi nữa nè ba..."

"Mày bị sao? Kể rõ cho ba nghe!" Ông Thìn gắt lên, bàn tay bấu chặt vào đùi mình để giữ cho bản thân khỏi ngã quỵ.

Thắng thở hắt ra một hơi dài, giọng nó nghẹn lại như sắp khóc:

"Đêm qua đội thợ của con phải tăng ca đổ bê tông sàn tầng bốn của cái xưởng dệt bên Bến Cát. Tụi con làm từ chiều, tính ráng làm cho xong trước ba giờ sáng để kịp tiến độ bàn giao. Lúc đó... lúc đó chừng mười hai giờ đêm, trăng mờ căm hà ba."

Ông Thìn nín thở. Mười hai giờ đêm. Đúng vào thời điểm chiếc ghe của ông bị dòng xoáy kéo ngược về chân trụ cầu số 3, cũng là lúc tiếng cào móng tay bắt đầu ken két dưới đáy ván sàn.

"Lúc đó con đang đứng trên giàn giáo sắt ở mé ngoài cùng để móc cáp cho cẩu chuyển thùng vữa lên," Thắng kể tiếp, âm thanh gián đoạn bởi những tiếng nấc hoảng loạn. "Xung quanh máy trộn bê tông chạy ầm ầm, đèn cao áp sáng trưng. Đang đứng bình thường thì tự nhiên con thấy lạnh ngắt, ba ơi. Cái lạnh lạ lùng lắm, không phải gió đêm thổi qua đâu, mà nó buốt từ dưới lòng bàn chân buốt ngược lên tới đỉnh đầu, làm toàn thân con cứng đơ lại."

"Rồi sao nữa?"

"Con ngửi thấy mùi hôi... Mùi bùn sình thối rữa nồng nặc, giống hệt cái mùi bùn non dưới đáy sông Sài Gòn mỗi lần nước cạn mà hồi nhỏ con hay theo ba đi cào hến. Nhưng ngộ một điều là xen lẫn trong mùi sình đó lại có mùi hoa lài thối, nồng đến mức con muốn mửa ngay tại chỗ."

Bàn tay cầm điện thoại của ông Thìn siết chặt đến mức các khớp xương kêu răng rắc. Mùi hoa lài thối rữa. Đúng là cái mùi nồng nặc đã bao trùm lấy con thuyền của ông suốt cả đêm qua.

"Lúc con vừa định quay đầu lại kêu thằng bạn thợ đứng sau lưng," Thắng tiếp tục, giọng lạc đi vì kinh hoàng, "thì con nghe rõ ràng có tiếng đàn bà nỉ non sát bên tai. Tiếng the the, ướt rượt như ngậm nước trong miệng, kêu đúng tên con: 'Hai Thắng ơi... Về với em...'."

Tim ông Thìn như thắt lại. Tiếng kêu đó đã tìm đến tận Bình Dương, vượt qua hàng chục cây số đường bộ để chạm vào đứa con trai của ông.

"Con tưởng mình nghe lầm vì mệt quá hóa quẩn," Thắng vừa nói vừa thở dốc. "Nhưng con vừa bước một chân qua thanh xà gồ sắt để với lấy sợi dây cáp thì... thì có cái gì đó nắm chặt lấy cổ chân phải của con."

"Cái gì nắm?"

"Một bàn tay, ba ơi! Một bàn tay lạnh ngắt như cục nước đá, ướt sũng bùn đất nhớp nháp! Nó bóp chặt lấy mắt cá chân con rồi giật mạnh một cái thật mạnh xuống dưới! Con đứng trên giàn giáo cao hơn chục mét, xung quanh trống hoác không có ai đứng gần hết, vậy mà bàn tay đó từ dưới khoảng không chộp thẳng vào chân con!"

Ông Thìn bàng hoàng thốt không nên lời, hai mắt trợn trừng nhìn vào góc tối buồng lái.

"Con hụt chân, rớt thẳng ra ngoài giàn giáo," giọng Thắng run rẩy tột cùng. "May phước ông bà phù hộ, sợi dây an toàn con móc vào cột giàn giáo nó giật ngược con lại. Người con lơ lửng giữa trời, đầu đập vào thanh sắt may mà có nón bảo hộ. Mấy anh em thợ bu lại kéo con lên. Ai cũng tưởng con bị trượt chân vì sàn sắt trơn ướt sương đêm. Nhưng không phải ba ơi... không phải..."

"Chân mày... chân mày bây giờ ra sao rồi?" Ông Thìn nghẹn ngào hỏi, giọng run rẩy như sắp ngất.

Đầu dây bên kia vang lên tiếng vải sột soạt, có vẻ như Thắng đang kéo ống quần bảo hộ lên để nhìn lại vết thương. Tiếng thở của nó lại dồn dập, sợ hãi tột cùng:

"Lúc tụi nó kéo con vô lán trại, con cởi ủng ra coi thử vì thấy cổ chân buốt rát như bị phỏng lạnh. Ba ơi... trên cổ chân phải của con... in rõ mồn một năm dấu ngón tay."

Mặt ông Thìn cắt không còn một giọt máu.

"Năm lằn bầm tím đen thui, ba à. Nó hằn sâu vô da thịt như bị bàn tay người ta siết chặt từ lâu lắm rồi, bốn ngón một bên, ngón cái một bên. Da chỗ đó lạnh ngắt, con lấy dầu gió bóp hoài mà nó không ấm lên được miếng nào hết. Mà ghê nhất là... chỗ mấy vết bầm đó nó rỉ ra một thứ nước đục nhờ nhờ, bốc mùi sình bùn hệt như nước dưới đáy sông. Con lấy xà bông tắm chà rửa ba bốn bận rồi mà cái mùi bùn thối đó vẫn cứ bám chặt vô da thịt, không tài nào bay hết được!"

Tiếng Thắng nấc nghẹn trong điện thoại:

"Ba ơi, có phải con bị người ta quở, hay con đạp trúng mồ mả gì ngoài công trường không ba? Hồi hôm tới giờ con sợ quá, không dám nhắm mắt ngủ miếng nào hết. Con vừa tính sáng rõ mặt người sẽ bắt xe đò về bến cầu Bình Triệu với ba nè..."

"Không được!"

Ông Thìn đột ngột hét lớn vào ống nghe, giọng thảng thốt đến mức chính ông cũng phải giật mình. Tiếng hét của ông vang dội trong khoang thuyền chật hẹp, đập vào những tấm ván gỗ rồi dội ngược lại buốt nhói bên tai.

Đầu dây bên kia im bặt. Thắng ngỡ ngàng trước phản ứng dữ dội của cha:

"Ba... Sao vậy ba? Con về dưới ghe với ba không được hả ba?"

Ông Thìn cắn chặt môi dưới đến bật máu. Mùi máu tươi tanh nồng nơi đầu lưỡi giúp ông giữ lại chút tỉnh táo cuối cùng giữa cơn bàng hoàng tột độ.

Về dưới ghe?

Chiếc ghe của ông lúc này chính là cái bẫy chết người. Chiếc guốc mộc dính vải liệm vẫn nằm sừng sững trên mũi thuyền, hướng thẳng vào vùng xoáy ngầm của trụ cầu số 3. Thứ dưới đáy sông kia đã réo gọi tên thằng Thắng suốt cả đêm, bàn tay của nó đã vươn tận lên công trường Bến Cát để kéo chân con ông. Nếu thằng Thắng mò về đây, bước chân lên chiếc ghe này, chẳng khác nào tự mình nộp mạng vào miệng họng nước xoáy đang đói khát.

"Mày nghe lời tao," ông Thìn hít một hơi thật sâu, cố ép giọng mình nghe cho thật đanh thép và bình tĩnh, dù hai hàm răng ông vẫn đang va vào nhau lách cách. "Mày tuyệt đối không được bước chân về bến Bình Triệu lúc này. Nghe rõ chưa?"

"Nhưng mà ba..."

"Tao bảo nghe rõ chưa!" Ông Thìn gằn giọng từng chữ. "Mày ở yên trên lán trại trên Bến Cát cho tao. Đừng có đi đâu hết, cũng đừng có lại gần sông rạch, ao hồ hay bất cứ chỗ nào có nước sâu. Mua một nhánh tỏi nhét trong túi quần, kiếm miếng vải đỏ buộc quanh cái cổ chân bị bầm đó lại. Ban ngày ban mặt cứ ở chỗ đông người, tuyệt đối không được đi lại một mình trong chỗ tối!"

Thắng ngập ngừng ở đầu dây bên kia:

"Ba... Rốt cuộc dưới bến ghe có chuyện gì vậy ba? Sao ba nói chuyện nghe ghê quá..."

"Mày không cần biết!" Nước mắt ông Thìn trào ra, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo đen sạm vì nắng gió. "Mày chỉ cần nhớ lời tao dặn. Mạng của mày là do má mày đánh đổi cả tính mạng đẻ ra, mày phải giữ cho kỹ. Chuyện dưới này... để tao lo. Tao chưa chết thì chưa tới lượt tụi mày phải chịu vạ!"

Không đợi con trai kịp hỏi thêm câu nào, ông Thìn vội vã bấm nút ngắt cuộc gọi.

Màn hình điện thoại tối sầm lại.

Trong khoang thuyền, sự im lặng rợn người lập tức quay trở lại, nặng nề và u uất hơn trước gấp mười lần.

Ông Thìn ngồi thừ ra trên manh chiếu rách, hai tay buông thõng xuống sàn gỗ. Tiếng thở dốc của Thắng và hình ảnh năm lằn ngón tay bầm đen rỉ nước bùn trên cổ chân con trai cứ chập chờn trước mắt ông, rõ mồn một như một bản án tử hình đã được ấn định.

Tiếng thì thầm dưới đáy thuyền đêm qua không phải là ảo giác. Đó là một sự ứng nghiệm rùng rợn, một sự liên kết máu mủ đã bị thứ tà ma dưới lòng sông nắm thóp. Oan hồn gắn liền với chiếc guốc mộc và búi tóc đen dưới trụ cầu số 3 không chỉ nhắm vào mạng sống già nua của một kẻ vớt xác như ông.

Nó muốn bắt cả dòng giống nhà ông.

Nó đã gọi tên Hai Thắng, và Thắng đã suýt bỏ mạng trên giàn giáo cao hàng chục mét giữa đêm khuya.

Một luồng khí lạnh buốt bất chợt thổi thốc qua khe cửa mui thuyền, mang theo hơi nước ẩm ướt của dòng triều cường buổi sớm. Chiếc ghe khẽ lắc lư qua lại, dây neo cọ vào cọc sắt phát ra những tiếng ken két khô khốc.

Ông Thìn rùng mình một cái thật mạnh. Một ý nghĩ kinh hoàng khác bỗng nhiên ập đến, xé toạc tâm can người cha già như một nhát dao nhọn hoắt.

Ngoài thằng Hai Thắng đang làm thợ hồ ở Bình Dương, ông Thìn vẫn còn hai đứa con trai nữa. Thằng Ba Lợi đi làm công nhân xưởng gỗ dưới Biên Hòa, và thằng Út Danh đang theo tàu đánh cá ngoài miệt biển Vũng Tàu.

Đêm qua, tiếng đàn bà rền rĩ dưới đáy ván sàn mới chỉ gọi tên một mình thằng Thắng.

Nếu đêm nay triều cường lại dâng lên, nếu chiếc ghe lại tự xoay mũi về phía trụ cầu số 3... liệu dưới lớp ván gỗ mục nát kia, thứ quái ác ấy có dừng lại ở một cái tên hay không?

Ông Thìn run rẩy ngẩng đầu nhìn qua ô cửa nhỏ. Ngoài kia, sương sớm đang tan dần trên mặt sông Sài Gòn, để lộ ra bóng đen sừng sững, lạnh ngắt của trụ cầu bê tông số 3 cắm sâu vào lòng nước xoáy. Chiếc guốc mộc trên mũi ghe vẫn nằm im lìm ở đó, dải vải liệm trắng toát rũ xuống mép be thuyền, ướt đẫm sương mai như một chiếc lưỡi trắng thè dài ra chờ đợi đêm tối tiếp theo buông xuống.

Chương khác

Xem thêm