Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 13: Ba Người Con Trai Xa Nhà

Trời vừa sụp tối, con nước triều cường tháng mười đã bắt đầu nhảy bờ. Mặt sông Sài Gòn đoạn chân cầu Bình Triệu đặc quánh một màu nâu đỏ phù sa, cuộn…

Nội dung chương

Trời vừa sụp tối, con nước triều cường tháng mười đã bắt đầu nhảy bờ. Mặt sông Sài Gòn đoạn chân cầu Bình Triệu đặc quánh một màu nâu đỏ phù sa, cuộn thành những cuống xoáy tròn nuốt chửng từng mảng lục bình trôi dạt. Gió chướng thổi ngược dòng mang theo mùi hôi thối của rác rưởi và mùi tanh nồng của bùn đáy sông bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào buồng phổi khô khốc của ông Thìn.

Chiếc ghe chài của ông lại chầm chậm xoay mũi. Dù hai sợi dây dù loại lớn cột chặt vào cọc sắt bờ kè đã căng cứng đến mức rỉ nước, mũi thuyền bằng gỗ mù u vẫn kiên quyết trỏ thẳng về phía chân trụ cầu số 3.

Nơi đó, chiếc guốc mộc cũ kỹ dính dải vải liệm trắng bợt vẫn nằm im lìm trên be thuyền. Dải vải liệm ướt sũng nước sông rũ xuống mép gỗ, dập dềnh theo từng nhịp sóng vỗ bì bõm.

Ông Thìn ngồi bẹp dưới sàn khoang, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn đang run rẩy tách từng nải chuối sứ còn xanh lét. Bên cạnh ông là một chiếc mâm nhôm cũ móp méo mép, trên mâm bày sẵn ba chén rượu đế đục ngầu, một dĩa gạo muối trộn lẫn, vài xấp tiền vàng mã loại rẻ tiền và ba cây nhang trầm chưa đốt.

Cuộc điện thoại với thằng Hai Thắng lúc rạng sáng vẫn còn văng vẳng bên tai ông già. Năm vết ngón tay bầm đen rỉ nước bùn trên cổ chân thằng con cả ở tận Bến Cát chính là lời cảnh báo rùng rợn nhất. Oan hồn gắn liền với búi tóc đen và chiếc guốc mộc này không nhắm vào mạng già của ông, mà nó đang vươn những ngón tay nhớp nháp từ đáy vực sâu để túm lấy núm ruột của ông.

Thằng Thắng làm hồ trên Bến Cát. Thằng Ba Lợi đứng máy cưa xưởng gỗ dưới miệt Biên Hòa. Thằng Út Danh thì lênh đênh trên tàu cào ngoài khơi Vũng Tàu. Cả ba đứa con trai dứt ruột đẻ ra, ông nuôi lớn bằng từng con cá, từng xác chết vớt được trên khúc sông đầy sóng gió này. Chúng nó bỏ nghề sông nước lên bờ kiếm sống cũng vì không muốn giẫm lại vết chân cơ cực của người cha già. Vậy mà dòng nước oan khiên này vẫn quyết không buông tha cho gia đình ông.

Ông Thìn cắn chặt răng, bưng mâm lễ bước ra phía mũi ghe.

Gió sông thốc mạnh vào ngực áo bà ba đã sờn rách, làm ông lảo đảo suýt ngã sấp mặt xuống sàn. Ông cố giữ thăng bằng trên đôi chân khẳng khiu, đặt chiếc mâm nhôm xuống ngay sát cạnh chiếc guốc mộc dính vải liệm.

Mũi ghe lắc lư chao đảo dữ dội giữa dòng nước xoáy ngầm. Dưới chân trụ cầu số 3, bóng bê tông khổng lồ đổ ụp xuống mặt nước đen kịt, trông giống như một chiếc bia mộ khổng lồ cắm sâu vào lòng sông lạnh giá.

Ông Thìn quỳ sụp xuống hai đầu gối. Mặt gỗ sàn ướt nhẫy nước triều buốt lạnh thấu qua lớp vải quần, cắn vào da thịt ông từng cơn tê buốt. Ông chắp hai tay trước ngực, run rẩy quẹt một que diêm.

Gió sông rít qua khe ván mũi thuyền, ngọn lửa diêm vừa bùng lên đã lụi tàn sau tiếng phụt nhỏ nhoi. Ông che vạt áo cộc lại, kiên nhẫn quẹt que thứ hai, rồi que thứ ba. Đến que thứ tư, đốm lửa vàng le lói mới bén được vào đầu ba cây nhang trầm.

Làn khói mỏng manh màu xám ngoằn ngoèo bốc lên giữa không gian tối tăm mịt mùng, phảng phất mùi trầm khô khốc lẫn vào hơi tanh tưởi của bùn sình.

"Hỡi cô... hỡi người khuất mặt khuất mày nằm dưới chân trụ ba..."

Giọng ông Thìn cất lên, khàn đặc và run rẩy như sắp đứt hơi. Ông dập đầu lạy sát xuống mặt ván gỗ mục, trán chạm vào lớp bùn non trơn tuột vừa đọng lại sau đợt sóng tràn.

"Tôi là Lê Văn Thìn, dân chài lưới đêm ba đời ở bến Bình Triệu này. Mắt tôi mờ, tay tôi vụng, tai tôi điếc nên đêm hôm trước mới lỡ tay vớt nhầm kỷ vật của cô lên thuyền. Lệ sông ngộ nhận, tôi xin cúi đầu nhận hết mọi tội vạ. Tôi biết mình có lỗi, tôi biết cô chịu nhiều oan ức nghìn trùng dưới đáy vực sâu..."

Ông Thìn ngẩng đầu lên, hai mắt đỏ hoe chực trào nước mắt. Ông với tay bốc một nắm gạo muối trong chiếc đĩa nhôm, rải từng nhúm nhỏ quanh chiếc guốc mộc và hướng ra mép nước đen ngòm.

"Nhưng oan có đầu, nợ có chủ. Tôi làm tôi chịu, tấm thân già này sống trọn một đời trên sông nước cũng đã gần đất xa trời rồi. Nếu cô muốn đòi mạng, muốn kéo chân, xin cô cứ bắt lấy một mình cái thân già sáu mươi bảy tuổi này. Xin cô rủ lòng thương xót, mở lượng khoan hồng buông tha cho mấy đứa con của tôi..."

Nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má nhăn nheo, rơi lã chã xuống đĩa vàng mã. Ông Thìn tiếp tục dập đầu lạy liên tiếp ba lạy, tiếng trán va vào sàn gỗ nghe cồm cộp giữa tiếng sóng gầm gừ.

"Tụi nó còn trẻ người non dạ, tụi nó đã bỏ sông bỏ bến lên bờ làm ăn lương thiện từ nhiều năm nay. Tụi nó không can dự gì đến chuyện sông nước này hết. Cầu xin cô tha cho thằng Thắng, tha cho thằng Lợi, tha cho thằng Út Danh... Tôi lạy cô, tôi van cô..."

Bỗng nhiên, một luồng gió xoáy từ lòng sông cuộn thốc ngược lên mũi thuyền. Gió không mang hơi lạnh của bầu trời đêm, mà hầm hập thứ mùi tanh nồng tột cùng, tựa như mùi xác động vật trương phình thối rữa lâu ngày dưới đáy bùn bị chọc thủng.

Ba đốm lửa đỏ ở đầu ba cây nhang trầm đang cháy bỗng bùng lên một tia sáng xanh lè kỳ dị. Tia sáng vừa loé lên chừng một cái chớp mắt rồi lập tức tắt ngấu, để lại ba vết than đen ngòm cụt lủn, không còn lấy một sợi khói mỏng thoát ra.

Tim ông Thìn thắt nghẹn lại. Chân nhang bị dập tắt giữa chừng là điềm dữ cùng cực trong cõi sông nước. Người chết chối từ lễ vật, không nhận lời cầu xin.

Cùng lúc đó, những hạt gạo muối ông vừa rải xuống dòng sông cuộn sóng bỗng nhiên không hề trôi đi theo dòng nước xiết. Chúng tụ lại thành từng vệt trắng nhờ nhờ, nổi lềnh bềnh ngay sát mạn thuyền, xếp thành một hình vòng cung vây bọc lấy mũi ghe như một chiếc thòng lọng đang siết chặt.

Chiếc ghe chao mạnh một nhịp sang bên trái. Từ bên dưới ván sàn mũi thuyền, ngay sát nơi hai đầu gối ông Thìn đang quỳ, bắt đầu phát ra những âm thanh rục rịch.

Tiếng bong bóng nước vỡ tanh tách, ướt nhão và nghẹn đặc bùn non.

Ông Thìn cứng đờ toàn thân, hai bàn tay vẫn chắp trước ngực nhưng các khớp ngón tay đã trắng bệch vì gồng cứng. Ông nín thở, lắng tai nghe tiếng động vọng lên từ dưới đáy thuyền.

Dưới lớp ván gỗ mù u dày chừng hai lóng tay, một tiếng thở dài thê lương cất lên. Tiếng thở phì phò rền rĩ, mang theo tiếng nước sủi bọt ùng ục trong cổ họng của một kẻ ngạt nước.

Rồi giọng nói ấy lại vang lên.

Âm điệu the the, lảnh lót nhưng đục ngầu bùn đất, từng chữ từng lời như mũi dùi nhọn hoắt đâm xuyên qua thớ gỗ, rót thẳng vào màng nhĩ của người cha già:

"Thắng ơi..."

Tiếng gọi kéo dài lê thê, ai oán đến buốt tận xương tủy. Nhưng lần này, thứ tà ma dưới đáy sông không dừng lại ở đó.

Âm thanh nhão nhoét ấy khẽ chuyển giọng, chuyển sang một tông trầm hơn, rền rĩ và lạnh toát:

"Lợi ơi..."

Ông Thìn há hốc mồm, lồng ngực co thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Ông muốn gào lên, muốn hét bảo nó im đi, nhưng cổ họng ông tắc nghẹn, chỉ phát ra được những tiếng khè khè yếu ớt trong cuống họng.

Thằng Ba Lợi. Đứa con thứ hai của ông, đang làm việc cách đây mấy chục cây số ở Biên Hòa.

Chưa dừng lại ở đó, từ dưới đáy nước sâu thẳm ngăn cách bởi ván thuyền, tiếng phụ nữ lại cất lên lần thứ ba. Lần này giọng nói nhỏ giọt từng chữ, thì thào sát rạt ngay dưới lòng bàn chân ông Thìn, như thể có một cái đầu đàn bà đang áp sát mặt vào ván gỗ ngay bên dưới:

"Danh ơi... Út Danh ơi..."

"Về đây... Về với em... Dưới này đông vui lắm..."

Ba cái tên. Đủ cả ba đứa con trai của ông Thìn.

Tiếng nỉ non ai oán hoà vào tiếng gió rít qua chân cầu sắt, tạo thành một khúc ca tang tóc ghê rợn rền vang khắp khúc sông vắng. Oan hồn dưới chân trụ cầu số 3 đã đọc rành rọt không sót một đứa nào. Nó biết rõ từng giọt máu mủ của ông, nó đang réo gọi linh hồn của cả ba đứa con ông về với vùng xoáy nước đen ngòm chết chóc này.

"Trời đất ơi..."

Một tiếng nấc nghẹn ngào xé toạc cổ họng ông Thìn. Nỗi đau đớn và bất lực tột cùng bùng nổ trong lồng ngực người chài lưới già. Ông vồ lấy đĩa gạo muối, điên cuồng hắt tung toé xuống mặt nước đen:

"Mày muốn gì? Mày tha cho tụi nó đi! Tao lạy mày, tao cúng cho mày mà! Mày bắt tao đây này, tao ở đây này!"

Đáp lại tiếng gào thét tuyệt vọng của ông già chỉ là tiếng nước sông vỗ vào be thuyền từng đợt ầm ầm.

Ngay lúc đó, mạn thuyền phía dưới mặt nước bỗng vang lên những tiếng rít chói tai.

Kẹtttt... Ken két...

Đó là âm thanh của một vật sắc nhọn, cứng như sắt thép đang cào xé dữ dội vào thớ gỗ mù u dưới đáy nước. Lực cào mạnh đến mức cả thân ghe rung bần bật, mâm nhôm đựng đồ cúng trên sàn nảy lên lách cách, ba chén rượu đổ ụp, chất lỏng trắng đục loang lổ khắp mặt sàn trôi tuột xuống mép nước.

Ông Thìn hoảng loạn bò rạp người ra mép be thuyền. Ông chụp lấy cây đèn pin vỏ nhôm cũ kỹ giắt bên hông, run rẩy bật công tắc rồi rọi thẳng luồng ánh sáng vàng vọt xuống sát mép nước mạn thuyền.

Mặt nước phù sa cuộn sóng tách ra dưới ánh đèn pin.

Ngay trên thớ gỗ mù u dày dặn nơi mạn thuyền tiếp giáp với mặt nước, ba vết cào sâu hoắm hiện ra rõ mồn một.

Mỗi vết cào dài chừng hơn một gang tay, cày xới nát lớp gỗ kiền kiền cứng chắc thành từng rãnh sâu hoắm như thể bị móng vuốt của một con thú dữ khổng lồ xé toạc. Nhưng hình dáng của những vết rãnh lại mang dấu vết của những ngón tay người, với phần đầu nhọn hoắt đâm sâu vào lõi gỗ.

Từ ba vệt cào sâu hoắm ấy, một thứ chất lỏng đen sánh, đặc quánh như hắc ín bắt đầu rỉ ra, trườn dài trên mặt gỗ rồi hòa vào dòng nước sông.

Mùi hôi thối nồng nặc lập tức bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào mũi ông Thìn khiến ông phải lợm giọng nôn thốc nôn tháo xuống nước. Đó không phải là mùi bùn sình hay phù sa thông thường. Đó là thứ mùi hôi thối đặc trưng của nước tẩm liệm tử thi lâu năm bị ứ đọng trong quan tài kín dưới lòng đất, một thứ mùi tanh nồng thối rữa của da thịt người chết mà một kẻ làm nghề vớt xác cả đời như ông Thìn chỉ cần ngửi qua một lần là cả đời không thể nào quên được.

Thứ nước đen sánh ấy cứ rỉ ra cuồn cuộn từ ba vệt cào, như thể chiếc ghe chài của ông đang rỉ máu đen từ chính những vết thương chí mạng.

Ba vệt cào. Tượng trưng cho ba cái tên vừa bị xướng lên.

Oan hồn dưới chân trụ cầu số 3 đã khắc dấu ấn lên mạn thuyền của ông. Lời nguyền này không thể giải bằng một mâm chuối sứ, một chén gạo muối hay vài xấp tiền vàng mã rẻ tiền.

Gió sông càng lúc càng thổi mạnh, chiếc ghe chao đảo dữ dội như muốn lật úp giữa dòng triều cường đang dâng cao ngập bờ kè. Chiếc guốc mộc trên mũi thuyền khẽ nhúc nhích theo từng nhịp lắc, dải vải liệm trắng toát quất phần phật vào thành gỗ, phát ra những tiếng bôm bốp khô khốc trong đêm lạnh.

Ông Thìn buông rơi cây đèn pin xuống sàn ghe, hai đầu gối quỵ hẳn xuống. Ông ngồi chết lặng giữa khoang thuyền lạnh ngắt, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu.

Việc khấn vái tạ tội theo lệ thường của dân vớt xác hoàn toàn vô dụng.

Thứ nằm dưới vùng xoáy ngầm kia không phải là một xác chết trôi sông vất vưởng tình cờ mắc cạn. Nó mang một mối hận thù sâu thẳm, một món nợ máu truyền kiếp từ bao đời trước đang đòi thanh toán. Nếu ông cứ tiếp tục ngồi đây, chắp tay van xin trong vô vọng, thì chẳng mấy chốc ba cái tên Thắng, Lợi, Danh sẽ lần lượt biến thành ba cái xác lạnh ngắt trôi dạt về chân trụ cầu bê tông này.

Ông phải cứu lấy các con ông. Bằng mọi giá.

Muốn hóa giải mối họa này, ông phải biết rõ thứ quái ác nằm dưới lớp bùn sâu kia rốt cuộc là ai, cớ sự gì khiến nó bị chôn vùi dưới chân trụ cầu số 3, và tại sao nó lại chọn chiếc chân vịt ghe của ông để bám víu vào.

Trên khúc sông Sài Gòn đoạn chân cầu Bình Triệu này, những người già cùng thời với cha ông Thìn hầu hết đều đã qua đời hoặc dọn đi nơi khác. Những thợ chài trẻ tuổi sau này chỉ biết đến mặt nước hiện đại, không ai hiểu được cội nguồn sâu xa của những vùng nước xoáy ngầm thời thuộc địa.

Chỉ còn một người duy nhất.

Một khuôn mặt già nua với đôi mắt lồi to lồi lõm vì chứng bệnh nghề nghiệp sau mấy chục năm lặn sông ngụp lặn vụt hiện lên trước mắt ông Thìn.

Ông Ba "mắt lồi".

Tay thợ lặn già khét tiếng của cả bến Bình Lợi thuở trước, người từng gắn cả đời mình dưới đáy sông Sài Gòn, kẻ từng lặn mò qua từng móng cọc, từng gò đất cổ dưới chân cầu này trước khi giải nghệ lên bờ sống ẩn dật trong một căn chòi lá bên kia doi đất.

Ông Thìn gạt nước mắt, chống tay gượng đứng dậy. Đôi mắt mờ đục của người chài lưới già bỗng loé lên một tia quyết liệt cùng cực giữa đêm đen mịt mùng.

Chương khác

Xem thêm