Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 14: Đêm Triều Cường Thứ Hai
Nước triều rạng sáng bắt đầu rút chậm, để lại những vệt phù sa xám xịt bám chặt vào chân be thuyền. Ba vết cào sâu hoắm nơi mạn gỗ mù u vẫn rỉ ra từng…
Nội dung chương
Nước triều rạng sáng bắt đầu rút chậm, để lại những vệt phù sa xám xịt bám chặt vào chân be thuyền. Ba vết cào sâu hoắm nơi mạn gỗ mù u vẫn rỉ ra từng giọt nước đen kịt, sền sệt quánh lại như nhựa đường, bốc lên mùi vải liệm mốc meo nồng nặc cả khúc sông.
Ông Thìn ngồi xổm bên mép nước, dùng chiếc khăn rách thấm dầu hỏa chà mạnh lên mặt gỗ. Mặt gỗ kiền kiền bị cào tưa tủa từng thớ sắc nhọn, cắn rách cả mép giẻ lau. Mùi khét của dầu hỏa không tài nào át nổi cái mùi xác chết ngâm nước lâu ngày đang ngấm sâu vào từng thớ thuyền. Ba vệt cào ấy giống hệt như dấu ấn đóng đinh vào mạng sống của ba đứa con trai ông, không cách nào tẩy xóa.
Biết rõ bản thân không thể chần chừ thêm một khắc nào nữa, ông Thìn đứng dậy, dằn lòng quay lưng lại với trụ cầu bê tông số 3 đang sừng sững giữa sương sớm.
Ông bước vào trong khoang, với tay lấy chiếc áo khoác bạc màu treo trên vách ván ép. Trong góc tủ gỗ ọp ẹp dưới bàn thờ, ông lôi ra một xâu tiền lẻ nhăn nhúm cùng một chai rượu nếp Gò Đen nút lá chuối khô đã cất từ Tết năm ngoái. Bước lên bờ kè đá xanh, ông rẽ vào tiệm tạp hóa đầu xóm chài, mua thêm nửa lạng thuốc rê Cẩm Lệ thơm nồng và một tệp giấy quyến mỏng dính.
Mặt trời chưa ló rạng. Xóm lao động ven mép nước Bình Triệu còn chìm trong màn sương mù xám đục trộn lẫn khói bếp và mùi rác ẩm. Ông Thìn xốc lại quai dép, lầm lũi đi dọc theo bờ đê đất hướng về phía hạ lưu, nhắm thẳng doi đất bến Bình Lợi cũ.
Khu vực bến Bình Lợi những năm trước từng là nơi tụ họp của hàng chục tay thợ lặn mò sắt vụn, vớt gỗ chìm và vớt xác trôi sông. Khi cầu Bình Lợi mới được xây dựng, luồng lạch thay đổi, bãi bồi dần lấn chiếm lòng sông, dân thợ lặn tản mác tứ xứ. Đám thợ trẻ sắm bình hơi, máy nén khí hiện đại để đi lặn công trình xa, những người già yếu thì bỏ nghề lên bờ chạy xe ôm hay bán vé số. Giữa cái doi đất sình lầy ngập ngụa cỏ lác và dừa nước ấy, chỉ còn trơ trọi một căn chòi lá xiêu vẹo của ông Ba "mắt lồi".
Nhắc đến Ba Mắt Lồi, cả cái khúc sông Sài Gòn này từ thợ chài đến cánh đò ngang không ai không biết. Thời thanh niên, ông Ba nổi tiếng là tay lặn cừ khôi nhất vùng, có thể ngậm một cọng đu đủ lặn sâu cả chục sải tay dưới đáy nước chảy xiết suốt nửa ngày trời. Nghề lặn đáy sông những năm tháng hàn vi khi chưa có đồ lặn chuyên dụng đã tàn phá cơ thể ông lão một cách tàn nhẫn. Áp suất nước ngầm ép chặt qua năm tháng khiến hai tròng mắt ông lồi hẳn ra ngoài hốc mắt, đỏ ngầu những tia máu vỡ, còn đôi tai thì điếc đặc một bên vì rách màng nhĩ trong một lần chui vào khoang sà lan chìm.
Càng đến gần căn chòi lá của ông Ba, mùi bùn non và mùi cá khô sấy mặn chát càng phả vào mặt rát buốt. Con đường đất trơn trượt sau đợt triều ban đêm dính chặt lấy đế dép xốp của ông Thìn.
Trước cửa căn chòi cất tạm trên những cây cọc tràm khẳng khiu cắm sâu vào bãi bùn, một bóng người gầy guộc đang ngồi xổm trên tấm ván gỗ.
Ông Ba Mắt Lồi mặc chiếc áo thun ba lỗ ố vàng thủng lỗ chỗ, chiếc quần đùi cộc để lộ đôi chân khẳng khiu chằng chịt những vết sẹo do vỏ hàu cào xé. Bàn tay gầy guộc run rẩy của ông lão đang cặm cụi dùng con dao rựa gọt từng thanh tre để đan lại cái lờ bắt cá bống dừa.
Nghe tiếng bước chân lẹp bẹp trên bùn, đôi mắt lồi to tướng của ông Ba khẽ đảo quanh rồi ngước lên. Khi nhận ra người đến là ai, khóe miệng nhăn nheo của ông lão khẽ giật giật:
"Anh Thìn? Rạng ngày rạng mặt, sông đang con nước lớn mà ghe không thả lưới, mò sang cái bãi sình này làm giống gì?"
Giọng ông Ba khàn đặc, nghe lạo xạo như tiếng đá sỏi va vào nhau dưới đáy thùng tôn. Tai điếc một bên nên mỗi lần nói chuyện, ông đều phải cao giọng gắt gỏng như muốn cãi cọ.
Ông Thìn không vội đáp. Ông bước lên mấy bậc cầu thang gỗ ghép bằng những thanh ván mục, ngồi bệt xuống góc hiên chòi rồi đặt chai rượu Gò Đen cùng gói thuốc rê lên chiếc bàn con đóng bằng thùng gỗ thông.
"Sang thăm anh. Lâu quá anh em mình không ngồi lại với nhau."
Ông Ba liếc nhìn chai rượu nếp trong vắt qua lớp thủy tinh rồi nhìn sang gói thuốc rê Cẩm Lệ. Đôi lông mày bạc phếch nhíu chặt lại, tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán khắc khổ. Là người từng lăn lộn trên sông nước hơn nửa đời người, ông Ba hiểu rõ tính nết của bạn già. Kẻ làm nghề vớt xác quanh năm bầu bạn với người chết như ông Thìn ít khi rời ghe vào buổi sáng sớm, lại càng không bao giờ mang rượu ngon thuốc xịn đi biếu không cho ai nếu không vướng phải chuyện đại sự.
"Có biến dưới ghe hả?" Ông Ba buông con dao rựa xuống sàn tre phát cạch một tiếng, giọng chùng xuống đầy vẻ nghi ngại. "Đoạn nước đó lại có xác trôi dạt vô chân vịt?"
"Không có xác." Ông Thìn lắc đầu, với tay lấy chiếc ly nhựa cáu bẩn trên giàn bát úp xuống bàn. Ông rót đầy một ly rượu trắng rồi đẩy sang phía bạn già. "Uống miếng cho ấm bụng đã anh Ba. Gió sông mùa này lạnh buốt xương."
Ông Ba cầm ly rượu ngửa cổ nuốt ực một hơi. Vị cay nồng của rượu nếp bốc lên khiến ông ho sặc sụa vài tiếng, lồng ngực gầy giơ xương phập phồng kịch liệt. Sau cơn ho, ông lão với lấy tệp giấy quyến, thuần thục dùng ngón tay bốc một nhúm thuốc rê, cuốn lại thành một điếu sâu kèn rồi châm lửa hút.
Khói thuốc trắng đặc cuộn tròn trong không gian ẩm thấp của căn chòi lá. Ông Ba nhả một ngụm khói dài qua kẽ răng đen sì, đôi mắt lồi thao láo nhìn trừng trừng vào mặt ông Thìn:
"Nói đi. Khỏi giấu giếm. Tao với mày lặn ngụp khúc sông này từ cái thời cầu sắt Bình Lợi còn chạy tàu hỏa hơi nước. Nhìn cái mặt mày tái mét như người ngâm nước ba ngày thế kia, tao biết mày đang vướng vạ."
Ông Thìn siết chặt hai bàn tay đặt trên đầu gối. Những ngón tay thô ráp của ông khẽ run lên. Ông nhìn ra ngoài bờ sông, nơi dòng nước đục ngầu đang cuộn trào về hướng cầu Bình Triệu.
"Anh Ba... Hồi còn đi lặn đáy dưới chân cầu Bình Triệu, anh có từng mò trúng thứ gì kỳ lạ quanh cái trụ số 3 không?"
Vừa nghe đến bốn chữ "trụ cầu số 3", điếu thuốc sâu kèn trên tay ông Ba khẽ khựng lại giữa chừng. Một tàn lửa đỏ rực rơi trúng mu bàn tay gầy guộc nhưng ông lão dường như không hề cảm thấy bỏng rát.
Đôi mắt lồi vốn dĩ đã lộ ra ngoài nay lại càng mở to hơn, con ngươi đục ngầu dại đi trong giây lát. Ông Ba chầm chậm hạ tay xuống, dí đầu mẩu thuốc vào mặt bàn gỗ dập tắt ngúm.
"Mày hỏi chỗ đó làm cái gì?" Giọng ông Ba đột ngột hạ thấp xuống, chỉ còn là một tiếng thì thầm run rẩy, khác hẳn với vẻ gắt gỏng thường ngày. "Tao đã dặn mày từ chục năm trước, lúc mày dọn ghe về cắm neo ở doi đất đó rồi mà. Đoạn đó nước sâu, đáy có rãnh đá ngầm xẻ dọc, cá tôm bu đầy nhưng tuyệt đối không được thả neo qua đêm. Mày không nhớ sao?"
"Tôi nhớ." Ông Thìn thở hắt ra một hơi nặng nhọc. "Tôi vẫn tránh luồng nước xoáy đó suốt mấy chục năm. Nhưng mấy hôm nay... có chuyện không thể giải thích nổi."
"Chuyện gì?"
"Ghe của tôi tự đứt xích neo, quay mũi đâm thẳng vào trụ số 3. Ba đêm liền, đêm nào nước triều lên nó cũng tự xoay mũi đúng một hướng đó."
Sắc mặt của ông Ba Mắt Lồi bắt đầu thay đổi. Làn da ngăm đen vì cháy nắng của ông lão dường như mất đi một tầng huyết sắc, chuyển dần sang màu xám ngoét của xác chết úng nước. Ông vội vàng với lấy chai rượu, tự tay rót tràn ra cả mặt bàn một ly nữa rồi run rẩy đưa lên miệng nốc cạn.
"Mày có vớt phải thứ gì bậy bạ dưới đáy sông đem lên mui không?" Ông Ba trừng mắt hỏi dồn, giọng bắt đầu gấp gáp. "Dân vớt xác chúng ta có lệ ngầm: vật nổi thì cứu mạng, xác chìm thì đưa lên táng, còn những thứ quấn dưới bùn sâu mà không rõ hình thù thì phải dùng dao chém đứt, tuyệt đối không được kéo lên khoang! Mày có làm sai lệ không Thìn?"
Ông Thìn cúi gầm mặt xuống, hai bờ vai sụp xuống dưới sức nặng của sự hối hận đang cắn xé tâm can:
"Tôi lỡ tay. Đêm rằm vừa rồi, chân vịt ghe của tôi bị kẹt cứng giữa dòng xoáy trụ số 3. Tôi phải lặn xuống dùng dao cắt gỡ..."
"Mày cắt trúng cái gì?" Ông Ba chồm người tới mép bàn, hơi thở dồn dập mang theo mùi cồn cay xè.
"Một búi tóc." Ông Thìn nói, giọng nghẹn lại nơi cổ họng. "Một búi tóc đàn bà dài ngoằng, đen nhánh, sợi tóc còn sống và dẻo quắt như dây đồng. Nó quấn chặt cứng lấy trục cốt máy ba vòng..."
Bàn tay đang cầm chiếc ly rỗng của ông Ba run bắn lên. Những khớp xương ngón tay gồ ghề va vào thành ly phát ra những tiếng lách cách rợn người.
"Chưa hết..." Ông Thìn nhắm nghiền mắt lại, hình ảnh ma quái đêm hôm đó lại hiện rõ mồn một trong tâm trí ông. "Bên trong cái búi tóc đó... có quấn chặt một chiếc guốc mộc cũ. Cái guốc gọt bằng gỗ mít, mũi nhọn kiểu cổ, quai đóng đinh đồng. Dưới đế guốc còn dính chặt một mảnh vải xô trắng... Vải liệm người chết."
Choang!
Tiếng thủy tinh vỡ toang chói tai vang lên giữa căn chòi lá chật hẹp.
Chiếc ly nhựa trên tay ông Ba Mắt Lồi không biết từ lúc nào đã tuột khỏi kẽ tay, rơi đập mạnh xuống tấm ván sàn mục nát. Nước rượu còn sót lại bắn tung tóe lên ống quần của cả hai người đàn ông già nua.
Toàn thân ông Ba run lên bần bật như người đang lên cơn sốt rét rừng dữ dội. Lồng ngực ông lão phập phồng kịch liệt, đôi mắt lồi trợn ngược lên trần chòi, để lộ toàn bộ phần lòng trắng vằn vện những tia máu đỏ lòm. Hai cánh mũi ông phập phồng, hơi thở hổn hển biến thành những tiếng rít khe khẽ qua kẽ răng.
"Guốc mộc... vải liệm..." Ông Ba lẩm bẩm trong cơn hoảng loạn tột cùng, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy đầu gối. "Mày... Mày đem nó lên ghe? Mày không vứt nó trở lại đáy sông?"
"Tôi đem đặt lên mũi ghe..." Ông Thìn run rẩy thú nhận. "Tôi nghĩ đó chỉ là di vật của người chết đuối trôi sông bình thường, định bụng để đó làm lễ cúng xong mới đem thả trôi... Nào ngờ..."
"Mày điên rồi Thìn ơi! Mày tự tay rước họa diệt môn vào nhà rồi!"
Ông Ba gầm lên một tiếng kinh hoàng, đột ngột đứng phắt dậy. Lực đứng quá mạnh khiến chiếc bàn con bị hất văng sang một bên, chai rượu nếp Gò Đen lăn lông lốc trên sàn ván, thứ chất lỏng trắng trong rỉ qua nút lá chuối chảy ròng ròng xuống bãi bùn lầy bên dưới căn chòi.
Ông lão thợ lặn già chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt ông Thìn, khóe mắt rách toạc ra vì sự giận dữ lẫn sợ hãi tột độ:
"Mày làm nghề vớt xác trên cái khúc sông này bao nhiêu năm rồi mà mày ngu muội đến thế hả Thìn? Mày tưởng cái trụ số 3 đó chỉ là một cái hố nước xoáy tình cờ thôi sao? Mày có biết dưới cái chân móng bê tông đó từng chôn cái gì không?"
Ông Thìn ngẩng đầu lên, gương mặt nhăn nheo giàn giụa nước mắt kinh hãi:
"Anh Ba... Tôi thật sự không biết! Mấy đêm nay nó đã gọi tên thằng Thắng, thằng Lợi, thằng Danh... Đêm qua nó cào nát mạn thuyền của tôi thành ba vệt rỉ máu đen... Anh biết chuyện gì dưới đó, anh làm ơn cứu lấy ba đứa con của tôi với anh Ba!"
Nhắc đến ba cái tên của những đứa con trai, nét mặt ông Ba Mắt Lồi càng lúc càng xám ngoét. Ông lão lảo đảo lùi lại phía sau hai bước, lưng đập mạnh vào vách nứa của căn chòi, phát ra một tiếng ầm nặng nề.
Đôi mắt lồi của người bạn lặn già dại đi, nhìn trừng trừng vào khoảng không mờ mịt ngoài mặt sông Sài Gòn, nơi những con sóng đỏ ngầu phù sa đang vỗ bì bọp vào chân cọc tràm.
"Nợ máu..." Giọng ông Ba run rẩy đến mức méo mó, từng chữ thốt ra như bị ai đó bóp nghẹt nơi cuống họng. "Mày đã khơi lại món nợ máu từ thời gò mả Tây rồi Thìn ơi..."
Gió sông từ ngoài cửa chòi bất thần thốc mạnh vào bên trong, làm tấm rèm bao ba cũ rách bay phần phật. Hơi lạnh buốt giá mang theo mùi sình lầy nồng nặc lập tức tràn ngập khắp căn phòng nhỏ.
"Gò mả Tây?" Ông Thìn níu lấy mép ván sàn, gượng đứng dậy, giọng run bắn lên. "Chỗ trụ cầu đó... hồi xưa là gò mả sao anh Ba?"
Ông Ba Mắt Lồi không trả lời ngay. Ông lão từ từ trượt dọc theo vách nứa, ngồi bệt xuống góc sàn nhà tối tăm, hai bàn tay gầy trơ xương ôm chặt lấy gương mặt biến dạng vì sợ hãi. Đôi vai gầy của người thợ lặn từng một thời ngang dọc khắp đáy sông Sài Gòn nay co rúm lại như một đứa trẻ bị bỏ rơi giữa đồng không mông quạnh.
Bên ngoài, dòng nước triều bắt đầu chảy xiết hơn, từng đám lục bình trôi dạt dập dềnh xô đẩy nhau trôi về phía hạ lưu. Tiếng còi tàu từ xa vọng lại nghe u uất, hòa cùng tiếng nước sông vỗ vào bờ kè như một hồi chuông báo tử đang chầm chậm gõ vào số phận của gia đình người thợ chài già.