Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 16: Gò Đất Cạnh Trụ Cầu
Mưa đêm quất rát mặt khi ông Thìn lội ngược dòng nước triều đang tràn qua mé lộ đất đỏ. Bùn lầy nhão nhẹt bám chặt lấy cổ chân, lạnh ngắt và nhớp nháp…
Nội dung chương
Mưa đêm quất rát mặt khi ông Thìn lội ngược dòng nước triều đang tràn qua mé lộ đất đỏ. Bùn lầy nhão nhẹt bám chặt lấy cổ chân, lạnh ngắt và nhớp nháp mùi xú khí của cống rãnh Sài Gòn đổ dồn ra sông. Dòng nước đen ngầu cuộn xoáy ngập ngang bắp đùi, rác rưởi trôi dạt cùng những tảng bèo tây bện chặt vào nhau va đập lạo xạo vào ống chân trần gầy guộc.
Trước mắt ông, giữa khoảng tối mịt mùng của mặt nước tháng Mười, chiếc ghe gỗ mù u đang chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng dồn. Hai sợi dây neo buộc vào cọc tràm bên bờ kè căng ra kêu ken két, mũi ghe rẽ nước hướng thẳng tắp về phía chân trụ cầu số 3. Trên cái chóp mũi nhọn hoắt ấy, mảnh vải liệm trắng buộc ngang chiếc guốc mộc cổ vẫn quất phần phật vào gió đêm, rách tơi tả thành từng sợi dài run rẩy.
Ông Thìn bặm môi, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì cái rét thấu xương và cơn hoảng loạn đang siết nghẹt lồng ngực. Ông bấu tay vào mạn thuyền trơn tuột rong rêu, dùng hết sức bình sinh đu người trèo qua be gỗ. Thân ghe chao đảo dữ dội, nước từ đáy sông bắn tung tóe lên mặt sàn lát ván kiền kiền.
Mùi bùn non tanh nồng trộn lẫn mùi dầu hỏa và khói hương cũ bốc lên từ khoang lái. Ông Thìn thở dốc, hai đầu gối run lẩy bẩy sụp xuống sàn ván. Ông quơ vội tấm bao ba tơi tả ở góc mũi thuyền, bọc kín chiếc guốc gỗ cùng mớ tóc đen nhẫy vẫn còn dính chặt dưới đáy quai, rồi ôm xốc nó vào bên trong mui ghe.
Tiếng mưa gõ dồn dập trên mái bạt rách. Ông Thìn cài then cửa khoang lái, kéo sụp tấm rèm bao ba để chắn bớt từng cơn gió lộng từ ngoài sông thốc vào. Bàn tay già nua lập bập móc trong túi áo ra chiếc hộp quẹt diêm ướt sũng. Ông quẹt liền ba que mới bùng lên được một đóm lửa nhỏ nhoi. Tim ông đập thình thịch khi bấc đèn hột vịt bắt lửa, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, soi tỏ góc khoang chật hẹp nồng nặc tử khí.
Đặt bọc bao ba xuống giữa sàn, ông Thìn quỳ sụp xuống. Đôi bàn tay nứt nẻ vì ngâm nước sông quanh năm khẽ vén từng lớp vải ba gai. Chiếc guốc mộc nằm trơ trọi trên nền gỗ mục.
Sau nhiều đêm dầm trong nước lạnh phù sa, thân guốc gọt bằng gỗ mít già đã chuyển sang màu nâu sẫm, gần như đen kịt. Những thớ gỗ nở bung ra vì ngậm nước, trĩu nặng khác thường. Nhưng thứ khiến sống lưng ông Thìn dựng đứng là phần quai da thuộc đóng chéo qua thân guốc.
Quai da đã mủn mục, bên ngoài được cuốn chặt bằng dải vải xô xơ xác. Dưới lớp tro than và sình lầy bám két bên mép gỗ, ba chiếc đinh đồng lộ ra rõ mồn một.
Ba Mắt Lồi nói cấm có sai một chữ.
Ông Thìn run rẩy đưa ngón tay cái vuốt nhẹ lên từng đầu đinh. Kim loại chôn vùi cả trăm năm dưới bùn đáy sông đã hóa thành màu xanh xám của rỉ đồng, ăn sâu vào thớ da và gỗ mít.
Chiếc đinh thứ nhất nằm sát mép ngoài bên phải, đầu đinh dẹp lép, bị gõ méo mó sang một bên như chịu một nhát búa vội vàng. Nơi rỉ đồng bám quanh chân đinh có một vệt ố màu nâu thẫm, khô ráp quánh lại. Ông Thìn rùng mình. Đêm qua, vệt cào rỉ máu đầu tiên dưới ván thuyền cào đúng vào vị trí nằm của thằng Thắng hồi nó còn ở nhà. Thằng con cả của ông, đứa sinh năm Thìn gánh vác việc nặng nhọc nhất trên chiếc ghe chài này.
Chiếc đinh thứ hai cắm xiên xẹo ở chính giữa quai guốc. Thân đinh hơi cong, găm sâu đến mức làm toác một đường nứt nhỏ chạy dọc theo sóng lưng chiếc guốc gỗ. Chỗ rỉ sét này sần sùi những hạt đồng li ti, cộm lên sắc nhọn dưới da thịt ngón tay ông. Vết cào thứ hai trên be thuyền đêm trước rỉ ra thứ dịch nhớt tanh lợm mùi cá chết, cào nát chữ tên thằng Lợi mà ông từng khắc bằng mũi dao găm để nhớ ngày nó chào đời.
Và chiếc đinh thứ ba nằm ở mép trong. Đinh đóng ngập lút đầu, chỉ chừa lại một viền rỉ đồng xanh lè quấn quanh gốc. Nhưng đuôi đinh từ phía dưới đế guốc lại đâm xuyên qua thớ gỗ nhô lên một đoạn nhọn hoắt, tưa ra như cái ngạnh cá lăng độc. Đầu nhọn đó quấn chặt vài sợi tóc đen dài, săn lại cứng ngắc. Thằng Danh, đứa út dại dột của ông, đứa con mà vợ ông trước khi nhắm mắt đã trăng trối bắt ông phải bảo bọc bằng mọi giá.
Ba cái đinh đồng. Ba mạng trai tráng họ Lê.
"Trời cao đất dày ơi..." Tiếng rên rỉ nghẹn ngào bật ra từ cuống họng khô khốc của người thợ già. Nước mắt ông rỏ xuống mặt gỗ mục, hòa vào lớp bùn non tanh tưởi.
Để tìm cách giải mối oan khiên này, ông Thìn lồm cồm bò về phía góc khoang, nơi đặt chiếc rương thiếc cũ rỉ sét của gia đình. Chiếc rương này cha ông để lại từ hơn nửa thế kỷ trước, chứa những giấy tờ đóng thuế bến bãi thời chế độ cũ, những tấm bùa bình an xin ở chùa Bà Bình Triệu, và tập sổ nhật trình sông nước của ba đời dân chài vạn lăng.
Đôi bàn tay run rẩy lật từng xấp giấy ố vàng rách mép, giòn rụm vì ẩm mốc. Những trang chữ viết bằng mực tàu tím nhạt của người xưa hiện ra dưới ánh đèn hột vịt le lói. Cha ông, một tay thợ lặn nổi danh khắp vùng nước xoáy từ cầu Bình Lợi cũ ngược lên Lái Thiêu, từng ghi chép cẩn thận từng vùng xoáy ngầm, từng điểm trũng đáy sông nơi xác chết đuối hay dạt về tích tụ.
Ở những trang cuối cùng, nơi mép giấy bị gián nhấm nham nhở, có một đoạn chép tay bằng chữ quốc ngữ pha lẫn chữ Nôm nguệch ngoạc:
*“...Năm Ất Mùi, Tây đắp đê ngăn rạch đào móng trụ sắt cầu Bình Lợi. Đất gò mả xưa bị san phẳng, xương cốt vùi lấp chẳng kể xiết. Thầy địa lý phương Bắc bày kế tróc long yểm cốt, sợ mạch đất dữ quật đổ móng sắt. Phép tróc long dùng đinh đồng trảm mạch, dùng quai guốc hài gông cùm vong linh gái đồng trinh chôn sống dưới chân cừ móng. Chia đôi đôi guốc làm hai nửa âm dương: nửa tả thả trôi theo con nước dữ để câu hồn kẻ sống, nửa hữu ghim chặt cọc sắt yểm bùa đáy móng để khóa mạch đất...”*
Gió ngoài sông bỗng rít lên một hồi ma quái qua khe ván mui ghe. Ngọn lửa đèn hột vịt chao nghiêng, muội than đen bốc lên bám vào chao thủy tinh làm ánh sáng trong khoang tối sầm lại.
Mắt ông Thìn dán chặt vào hai chữ: *Nửa tả... Nửa hữu...*
Toàn thân ông cứng đờ. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng buốt nhói lên tận đỉnh đầu.
Ông Thìn buông rơi tập giấy cũ, vồ lấy chiếc guốc mộc trên sàn. Đưa chiếc guốc lên sát ngọn đèn dầu, ông nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn trừng trừng vào đường cong uốn lượn của thớ gỗ mít.
Lòng bàn chân con người có dáng cong riêng biệt. Phần eo guốc uốn lượn thon gọn về bên phải, trong khi mép bên trái thẳng đều đặn để nâng đỡ gót chân. Mũi guốc vuốt nhọn nhưng hơi nghiêng nhẹ sang hướng ngón chân cái nằm về mé trong.
Đây là chiếc guốc chân trái. Nửa tả.
Răng ông Thìn va vào nhau bần bật. Tiếng thở dốc của ông đứt quãng, dồn dập như người vừa bị vớt từ đáy sông lên.
Nó chỉ là một chiếc guốc đơn độc.
Lời dặn của ông Ba Mắt Lồi về việc làm lễ giải hạn, nhổ đinh đồng thả trôi lập tức trở thành một trò đùa tàn nhẫn của số phận. Muốn hóa giải một lời nguyền yểm cốt, người ta phải thu gom đủ cả đôi vật thiêng để ráp nối âm dương, cởi bỏ oán khí bị giam hãm. Một chiếc guốc đơn lẻ không thể tạo thành đôi hài để linh hồn siêu thoát sang bờ bên kia.
Chiếc guốc chân phải, chiếc nửa hữu mang cọc sắt yểm bùa, vẫn còn đang bị chôn vùi dưới hàng ngàn tấn bê tông và đá hộc của chân móng trụ cầu số 3. Suốt cả trăm năm qua, nó nằm sâu dưới đáy xoáy ngầm, bị cọc sắt ghim chặt vào xương cốt của người con gái xấu số, chưa từng được tháo dỡ dù chỉ một tấc.
Chiếc guốc bên trái này nổi lên, trôi dạt vào chân vịt ghe của ông, không phải ngẫu nhiên. Nó là nửa lời nguyền rách nát trồi lên mặt nước để tìm kiếm nửa còn lại. Nó dùng ba cái đinh đồng này để đòi nợ máu, để lôi kéo những người sống xuống đáy sâu tăm tối làm cọc tiêu thế mạng.
Làm sao mà nhổ đinh? Làm sao mà giải thoát khi nửa linh hồn của nó vẫn còn bị đóng đinh dưới lòng sông lạnh ngắt?
Rầm!
Một tiếng va đập nặng nề vang lên từ dưới lườn ghe, làm toàn bộ thân thuyền chấn động. Chiếc bình trà sành trên bếp lò nhỏ rơi xuống ván sàn vỡ tan tành thành nhiều mảnh vụn.
Nước sông Sài Gòn bên ngoài bắt đầu sôi ùng ục. Tiếng nước vỗ vào be thuyền không còn là tiếng ì ọp êm ả của mùa triều thường lệ, mà rền rĩ như tiếng gầm gừ của một bầy thú dữ đang chực xé toang đáy gỗ.
Xoẹt... xoẹt...
Tiếng móng tay cào cấu lại rộ lên. Lần này, âm thanh rợn người ấy không còn phát ra từ bên ngoài mạn thuyền nữa. Nó đang cào ngay dưới lớp ván sàn mỏng manh nơi ông Thìn đang quỳ.
Những vệt cào dài, sắc nhọn, miết sâu vào thớ gỗ kiền kiền nghe rát buốt. Dưới đáy nước đen thẳm, cách lớp ván chưa đầy hai gang tay, một thứ gì đó đang bám chặt vào sống đáy ghe, ngọ nguậy từng lọn tóc dài quấn riết lấy trục láp máy nổ.
Một giọng thì thầm luồn qua khe ván ẩm ướt, nhớp nháp mùi sình lầy và vải liệm mục, rít lên từng tiếng the thé đứt quãng:
*“Tìm... trả... cho... tao...”*
*“Trả... chiếc... bên... phải...”*
Mồ hôi lạnh vã ra đầm đìa trên vầng trán nhăn nheo của ông Thìn. Chiếc guốc mộc bên trái nằm trơ trọi giữa sàn bỗng rung rinh nhè nhẹ. Ba chiếc đinh đồng rỉ xanh phát ra những tiếng lách cách kim loại ghê rợn, tựa như có bàn tay vô hình đang cố lay giật từng chân đinh để thúc giục cơn đòi mạng.
Gió sông thốc tung mép bạt che, mưa dông tháng Mười trút xuống xối xả. Ngoài màn đêm đen kịt, dòng nước xoáy quanh trụ cầu số 3 bắt đầu cuộn tròn lại thành một cái phễu khổng lồ, gầm réo nuốt chửng từng tảng bọt nước phù sa.
Ông Thìn ôm chặt chiếc guốc độc nhất vào lòng, mắt trợn trừng nhìn vào khoảng tối mịt mù nơi chân móng bê tông đằng xa. Con đường sống của gia đình ông đã bị dòng nước bịt kín hoàn toàn. Đêm nay, khi con triều cường dâng lên đỉnh điểm, thứ oán hồn què quặt thiếu một bước chân kia sẽ kéo cả chiếc ghe này chìm sâu xuống đáy vực.