Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 15: Vòng Xoáy Ngầm Chân Cầu
Gió sông thốc từng cơn rát mặt qua những kẽ nứa rách toang của vách chòi. Dưới sàn ván mục, tiếng nước triều dâng bì bõm đập vào những cọc tràm run rẩy,…
Nội dung chương
Gió sông thốc từng cơn rát mặt qua những kẽ nứa rách toang của vách chòi. Dưới sàn ván mục, tiếng nước triều dâng bì bõm đập vào những cọc tràm run rẩy, nghe nặng nề như tiếng búa nện vào thớ thịt. Vết rượu nếp đổ loang lổ trên mặt ván gỗ đang rỉ qua từng khe hở, nhỏ tí tách xuống bãi bùn đen ngòm bên dưới bến nước.
Ông Ba Mắt Lồi vẫn ngồi bệt dưới góc tối, hai gối co quắp sát ngực. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do vỏ hàu, mảnh chai cắt thuở lặn sông cứ ôm chặt lấy mái đầu bạc phơ. Cặp mắt lồi to quá khổ của ông dại đi, lòng trắng vằn những vệt đỏ rực phản chiếu ánh sáng tù mù từ ngọn đèn hột vịt đặt ở góc bàn.
Ông Thìn run rẩy bước tới hai bước, chiếc đầu gối già nua đau nhức kêu lục cục. Ông cúi người, bàn tay thô ráp bám chặt lấy bờ vai khẳng khiu của bạn già, giọng nghẹn lại:
"Anh Ba... Anh nói cho tôi nghe đi! Gò mả Tây là sao? Cái trụ số 3 đó rốt cuộc rước cái thứ gì dưới đáy?"
Bờ vai ông Ba giật thót lên. Ông lão thợ lặn ngẩng đầu, quai hàm bạnh ra run bần bật, hơi thở phả ra nồng nặc mùi rượu chua và mùi bùn thối lâu năm bám trong cuống họng.
"Mày ngồi xuống đi, Thìn. Đứng đó làm cái gì cho gió nó lùa lạnh xương." Ông Ba chỉ tay xuống tấm chiếu rách bết đất, giọng khàn đặc như tiếng vỏ ốc cà vào đá tảng. "Mày có biết tại sao từ thời tao với mày còn cởi trần lặn sông, mấy ông già bên vạn chài Bình Lợi không bao giờ cho ghe thả lưới quanh cái doi đất đó không?"
Ông Thìn từ từ ngồi xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau để kìm cơn run. Ký ức thời niên thiếu dạt về. Hồi đó, cha ông còn sống, mỗi bận chèo ghe ngang qua khúc sông này vào những đêm rằm hoặc lúc triều cường đạt đỉnh, cha ông luôn bắt ông thu lưới, tắt hết đèn đuốc trên ghe rồi lẳng lặng chèo nép sát bờ phía Thủ Đức, tuyệt nhiên không dám buông một câu văng tục hay nhổ một bãi nước bọt xuống dòng nước xoáy.
"Hồi đó cha tao chỉ bảo khúc nước đó độc, đáy sông có hàm ếch dễ lật ghe..." Ông Thìn lí nhí đáp.
"Hàm ếch cái con cặc!"
Ông Ba Mắt Lồi gằn giọng chửi thề, ngón tay trỏ đen đúa gõ côm cốp xuống mặt ván sàn kêu chan chát. Cơn giận dữ bộc phát che lấp nỗi kinh sợ đang bóp nghẹt lồng ngực ông lão.
"Mấy ông già giấu mày thôi! Sợ tụi trẻ trâu tụi mình biết rồi tò mò lặn xuống mò mẫm thì mất xác! Cái gò đất đó, trước khi tụi Tây đổ đá xây móng cầu sắt cũ rồi sau này nhà nước mình đúc móng bê tông trụ số 3, nó là một cái bãi bồi hoang vu mọc toàn dừa nước với cây tra dại. Người ta gọi là Gò Chết Trôi, sau này tụi quan binh Tây chiếm đóng thì đổi thành Gò Mả Tây."
Ông Ba với tay chộp lấy chai rượu nằm chỏng chơ dưới sàn. Rượu đã đổ gần hết, chỉ còn lại một ngụm nhỏ dưới đáy. Ông ngửa cổ dốc cạn ngụm rượu cay xè, yết hầu giật giật rồi quẹt mu bàn tay ngang mép, mắt trợn trừng nhìn về phía khoảng sông tối mịt ngoài khung cửa.
"Đó là chuyện hồi đầu thế kỷ trước, cỡ năm một ngàn chín trăm hai mươi mấy." Giọng ông Ba chùng xuống, chậm rãi và u uất theo từng nhịp sóng vỗ chân cọc. "Lúc đó tao còn chưa đẻ, nhưng ông nội tao là tay thợ lặn đắp đê cho sở công chính thời Pháp, chính mắt ông nội tao chứng kiến cái đám tang quỷ ám đó."
Theo lời ông nội của Ba Mắt Lồi truyền lại, thuở ấy Sài Gòn nổi danh với các đoàn hát bội, gánh cải lương lưu diễn dọc sông Sài Gòn ngược lên miệt Lái Thiêu, Thủ Dầu Một. Trong một gánh hát nọ có cô đào trẻ đẹp nức tiếng, hát hay múa dẻo, được một viên đại lý người Pháp cùng một tay trùm buôn gỗ giàu có ở Chợ Lớn mê mệt. Hai kẻ quyền thế tranh giành nhau một người đàn bà, ghen tuông điên cuồng, cuối cùng dẫn đến một tấn bi kịch thối nát tột cùng.
Người ta đồn cô đào mang thai, nhưng giọt máu trong bụng lại không thuộc về hai kẻ tai to mặt lớn kia mà là của một chàng kép trẻ nghèo rớt mồng tơi cùng gánh. Sự việc vỡ lở, tay buôn gỗ cấu kết với đám cai ngục thuộc địa bắt sống cô đào nhốt vào xà lim ngầm. Chúng tra tấn, hành hạ cô dã man suốt mấy ngày đêm nhằm ép cô chỉ chỗ trốn của chàng kép, nhưng cô thà cắn lưỡi chứ nhất quyết không hé nửa lời.
"Rồi tụi nó làm gì cô ấy?" Tim ông Thìn thắt lại, lồng ngực nghẹn đắng.
"Tụi nó đem cô ta ra Gò Mả Tây giữa đêm triều cường tháng Mười." Đôi mắt lồi của ông Ba long sòng sọc, ngón tay co quắp bấu rách cả lớp chiếu lát. "Tụi nó không chém đầu, cũng không thắt cổ. Quân bất nhân đó dùng vải liệm trắng bó chặt toàn thân cô ta lại như một cái xác ướp. Tụi nó đóng một cái cọc sắt lớn xuyên qua giữa gò đất, rồi dùng dây thừng trói gập người cô ta vào cây cọc sắt đó."
Hơi thở của ông Thìn dồn dập. Gió ngoài sông rít qua mái lá nghe như tiếng gào khóc ai oán của một người đàn bà bị xé toạc họng.
"Dìm sống..." Ông Thìn thốt lên trong kinh hãi. "Tụi nó dìm sống người ta khi nước triều lên?"
"Dìm sống thì còn dễ thở chán!" Ông Ba rít lên qua kẽ răng. "Nếu chỉ dìm chết đuối bình thường thì oán khí đâu có ngút trời đến mức cả trăm năm sau vẫn quậy nát cái khúc sông này! Tụi nó sợ cô ta hóa quỷ về báo thù gia tộc tụi nó, nên tụi nó nghe lời một lão thầy pháp Tàu từ bên Chợ Lớn rước sang."
Lão thầy pháp đó bảo rằng, đàn bà chết oan mà còn giữ nguyên đôi chân lành lặn thì hồn vía sẽ đạp nước trồi lên, tìm về tận nhà kẻ thù để đòi mạng. Muốn triệt tận gốc, phải khóa chặt đôi bàn chân của người chết vào cõi âm ty, giam cầm vĩnh viễn dưới bùn lầy của đáy sông sâu.
"Mày có nhớ cái guốc mộc mày vớt được không?" Ông Ba đột ngột chồm tới, túm chặt lấy cổ áo bà ba của ông Thìn giật mạnh. Gương mặt nhăn nheo của thợ lặn già dí sát vào mặt ông Thìn, khoảng cách gần đến mức ông Thìn ngửi thấy rõ mùi tanh tưởi của dòng nước ngầm bốc ra từ chân răng của bạn mình. "Cái quai guốc da thuộc đó... có cái gì đóng trên đó?"
Ông Thìn đờ đẫn, hình ảnh chiếc guốc mộc đen sì đóng rong rêu nằm trên mũi ghe vụt hiện rõ ràng trong trí nhớ. Chiếc guốc gọt bằng gỗ mít già, phần mũi nhọn kiểu xưa cũ, bên trên miếng quai da mục nát dính chặt mảnh vải xô tẩm liệm là những chiếc đinh đồng to bản hoen gỉ.
"Có... có đinh đồng..." Giọng ông Thìn lạc hẳn đi.
"Mỗi bên quai guốc bị đóng chết bằng ba chiếc đinh đồng dài ba tấc!" Ông Ba buông cổ áo ông Thìn ra, đấm thùm thụp xuống ván sàn. "Lão thầy pháp dùng búa nện thẳng ba cái đinh đồng xuyên qua quai guốc, găm ngập vào bàn chân sống của cô ta, đóng chặt hai bàn chân cô ta dính cứng vào hai đế guốc gỗ mít! Máu tươi cô ta tuôn xối xả, nhuộm đỏ cả gò đất. Cô ta thét gào đến rách cổ họng, rủa sả ba đời mười kiếp dòng giống những kẻ hại mình. Tiếng thét đó, ông nội tao kể lại, át cả tiếng sóng gầm của mùa nước nhảy!"
Nước triều đêm đó dâng cao đột ngột, nuốt chửng gò đất hoang. Thân xác cô đào bị trói gập vào cọc sắt, đôi bàn chân bị đinh đồng đóng dính vào guốc mộc, chìm sâu dần vào dòng nước đen đặc phù sa. Cô gái chết nghẹn dưới bùn lầy, hai mắt mở trừng trừng nhìn lên mặt nước đêm mù mịt.
Một sự im lặng ghê rợn bao trùm lấy căn chòi nứa. Ngoài kia, tiếng còi sà lan hú lên một hồi dài thê lương từ phía cầu sắt Bình Lợi vọng lại, xé toạc màn đêm đặc quánh.
Ông Thìn run rẩy đưa bàn tay lên xoa mặt. Lòng bàn tay ông ướt đẫm mồ hôi lạnh ngắt. Ba thế hệ làm nghề chài lưới, vớt xác trên dòng sông này, ông từng vớt không biết bao nhiêu thây ma trương phềnh, từng đối mặt với những xác chết trôi sông không đầu, không tay chân, nhưng chưa bao giờ ông nghe một câu chuyện rùng rợn đến thấu tận tủy xương như thế này.
"Vậy... sau đó thì sao?" Ông Thìn thì thào hỏi, lồng ngực thắt lại từng cơn. "Sau khi cô ta chết, chuyện gì đã xảy ra?"
"Chuyện gì à?" Ông Ba cười khẩy, nụ cười méo mó như mặt quỷ. "Chưa đầy ba năm sau, viên đại lý Tây bị trượt chân té xuống sông ngay chỗ gò đất đó, lúc vớt lên thì hai mắt đã bị cá rỉa sạch. Tay trùm buôn gỗ Chợ Lớn thì ba đứa con trai lần lượt chết đuối một cách kỳ lạ, đứa lọt hố cá tra, đứa chìm đò ngang, đứa rớt xuống hồ nước ngầm trong biệt thự. Cả cái dòng họ đó tuyệt tự tuyệt tôn! Còn cái gò đất đó trở thành một vùng xoáy ngầm hung hiểm, ghe thuyền qua lại hễ sơ sẩy là bị nước cuốn lật úp, xác chìm xuống đó không bao giờ nổi lên."
Ông Ba thở dốc, với tay lấy chiếc điếu cày dựng ở góc vách, run rẩy nhét từng sợi thuốc rê vào nõ điếu. Chiếc bật lửa bằng sắt quẹt tanh tách mấy lần mới bén lửa. Ánh lửa bập bùng soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày trên gương mặt già nua đầy sợ hãi.
"Tới thời làm cầu Bình Triệu mới," ông Ba rít một hơi thuốc dài, nhả ra làn khói trắng đục khét lẹt, "công binh dùng xáng cạp nạo vét lòng sông để đóng cọc cừ, múc trúng cái cọc sắt yểm bùa năm xưa. Cọc sắt bị lay chuyển, đất bùn sạt lở, bộ xương của cô ta trôi dạt ra ngoài. Tụi thợ cầu thời đó sợ quá, bèn đổ hàng ngàn khối bê tông đè chết cái hố xoáy đó xuống, lập nên cái trụ cầu số 3 bây giờ để trấn yểm."
"Nhưng... trói thì dễ, trấn thì khó." Giọng ông Ba đột ngột hạ thấp xuống như tiếng thì thầm từ cõi âm. "Trụ cầu số 3 đứng sừng sững đó mấy chục năm, tưởng đâu êm thấm. Ai dè chân vịt ghe của mày lại cào trúng cái búi tóc oán khí của cô ta! Mày đã kéo di vật của người chết oan lên khỏi đáy nước!"
Ông Thìn chắp hai bàn tay run lẩy bẩy trước ngực:
"Anh Ba... Tôi đâu có biết! Tôi vớt rác quấn chân vịt, thấy chiếc guốc thì đem đặt trên mũi thuyền tính làm lễ cúng tiễn đi... Tôi có ác ý gì đâu anh Ba!"
"Mày ngu lắm Thìn ơi!" Ba Mắt Lồi gắt lên, bàn tay cầm điếu cày run rẩy suýt làm rơi nõ đóm. "Lệ sông nước của dân vớt xác tụi mình, vớt được xác người thì tích đức, nhưng đụng trúng đồ yểm mả dưới đáy hàm ếch thì phải cắt đứt dây, dộng đầu lạy ba lạy rồi bỏ trôi sông ngay lập tức! Mày đem đặt lên mũi ghe, tức là mày nhận rước vong linh cô ta về ngự trên thuyền mày! Mày mời cô ta vào nhà mày!"
Từng lời nói của Ba Mắt Lồi giáng xuống như những nhát búa tạ nện thẳng vào đỉnh đầu ông Thìn. Đầu óc ông ong ong, hai tai ù đi.
"Nhưng tại sao..." Giọng ông Thìn vỡ vụn ra thành từng mảnh. "Tại sao cô ta lại gọi tên ba đứa con của tôi? Thằng Thắng, thằng Lợi, thằng Danh... Tụi nó đâu có tội tình gì! Tụi nó đi làm ăn xa tít trên Bình Dương, Đồng Nai, cả năm mới về thăm ghe một lần... Sao cô ta lại nhằm vào tụi nó?"
Ông Ba Mắt Lồi ngừng hút thuốc. Ông lão từ từ ngẩng khuôn mặt xám ngoét lên nhìn thẳng vào mắt ông Thìn. Ánh nhìn của người thợ lặn già lúc này lộ rõ sự tuyệt vọng cùng cực, thứ cảm xúc của một kẻ đã nhìn thấu tận đáy của cái chết dưới dòng nước sâu.
"Mày vẫn chưa hiểu sao Thìn?"
Ông Ba run run giơ ba ngón tay khẳng khiu, đen đúa lên trước mặt ông Thìn.
"Ba cái đinh đồng."
Tiếng nói của ông Ba rít qua kẽ răng, lạnh buốt như ngậm phải tảng băng trôi giữa mùa đông.
"Mỗi chiếc guốc đóng ba cái đinh đồng xuyên qua da thịt. Đó là quy luật nghiệt ngã của cái bùa dìm sống năm xưa. Hễ kẻ nào dưới trần gian này vô tình vớt phải di vật của cô ta lên khỏi đáy bùn, quấy rầy giấc ngủ trăm năm của oan hồn mà không biết đường làm lễ thế mạng ngay trong đêm đầu tiên..."
Ông Ba dừng lại, nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, từng ngón tay run rẩy gập dần lại:
"Oan hồn sẽ đòi nợ máu. Nó sẽ đòi đủ ba mạng trai tráng! Đúng bằng số đinh đóng trên quai guốc gỗ!"
Ầm!
Một đợt sóng lớn ngoài sông bất ngờ đánh mạnh vào bờ kè, hất tung bọt nước văng qua khung cửa sổ chòi lá, rớt lộp độp lên nền ván mục. Chiếc đèn hột vịt trên bàn chao đảo dữ dội, ngọn lửa vàng vọt chực tắt rồi bùng lên le lói, hắt bóng hai người đàn ông già nua lên vách nứa thành những hình thù dị dạng, méo mó.
Ông Thìn ngồi chết trân tại chỗ.
Ba cái đinh đồng.
Ba mạng trai tráng.
Ba vệt cào rỉ máu đen ngòm trên be thuyền gỗ mù u đêm qua.
Ba tiếng gọi thì thào phát ra từ lòng nước sâu thẳm dưới ván sàn ghe: *Thắng ơi... Lợi ơi... Danh ơi...*
Mọi thứ khớp lại với nhau một cách tàn khốc, không một kẽ hở.
Không phải ngẫu nhiên mà chiếc ghe của ông cứ tự động xoay mũi đâm thẳng vào trụ cầu số 3 mỗi khi triều cường dâng cao. Thứ dưới đáy nước kia không hề muốn buông tha cho ông. Nó đã ngửi thấy mùi huyết thống của ba đứa con trai ông qua những bộ quần áo cũ, qua những tấm hình thẻ ông dán trên vách khoang thuyền. Nó đang chờ đợi từng đứa một, từng mạng một để nhổ đi ba chiếc đinh đồng oán hận đã găm chặt vào linh hồn nó suốt cả thế kỷ qua.
"Lễ thế mạng..." Ông Thìn bấu chặt lấy hai đầu gối của Ba Mắt Lồi, giọng khẩn thiết đến van lơn, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo đầy đồi mồi. "Anh Ba! Làm lễ thế mạng như thế nào? Cần hình nhân, heo quay hay gà sống? Tôi bán chiếc ghe này! Tôi bán hết lưới cụ, bán sạch những gì tôi có để mua đồ làm lễ! Anh làm ơn chỉ cho tôi đi anh Ba, tôi van anh mà!"
Ông Ba Mắt Lồi lắc đầu, khóe mắt già nua cũng đỏ hoe vì bất lực:
"Muộn rồi Thìn ơi... Nếu là đêm đầu tiên mày vớt được nó, mày bày lễ tam sên, chém đầu gà trống thiến thả trôi theo dòng nước thì may ra còn cơ giải thoát. Đằng này... đêm qua nó đã cào mạn thuyền của mày. Nó đã khắc tên ba đứa nhỏ bằng máu tẩm liệm của chính nó vào thớ gỗ kiền kiền!"
"Khắc dấu đòi mạng rồi... Hà Bá đòi người, sông sâu đòi xác... Làm sao mà cản nổi đây Thìn?"
"Không được!" Ông Thìn gầm lên, sự đau đớn biến thành cơn thịnh nộ tuyệt vọng tột cùng. Ông đứng phắt dậy, lồng ngực phập phồng dữ dội. "Tôi làm nghề vớt xác trên khúc sông này bốn mươi năm, vớt không biết bao nhiêu đứa con trôi sông trả về cho cha mẹ tụi nó! Trời đất không thể bất công đến mức cướp đi ba đứa con trai duy nhất của tôi được! Tụi nó là máu thịt của bà nhà tôi để lại trước khi nhắm mắt!"
"Mày định làm gì?" Ba Mắt Lồi ngước lên nhìn ông Thìn, hoảng hốt hỏi.
"Tôi phải về ghe!" Ông Thìn nghiến răng trét trét, hai nắm đấm siết chặt đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rỉ máu. "Tôi phải coi lại cái guốc đó! Anh nói trên quai guốc có ba cái đinh đồng... Tôi phải tận mắt nhìn thấy ba cái đinh đó!"
"Mày điên rồi Thìn! Đêm nay triều cường đang lên đỉnh, vùng xoáy ngầm quanh trụ số 3 đang cuộn dữ lắm, mày ra đó là mày nộp mạng cho nó!" Ba Mắt Lồi vùng dậy, cố níu lấy vạt áo ông Thìn nhưng đôi bàn tay run rẩy của ông lão thợ lặn đã quá yếu ớt, trượt tuột đi.
"Kệ mẹ nó!" Ông Thìn gạt phăng tay bạn già ra, ánh mắt đỏ ngầu như mắt thú dữ bị dồn vào chân tường. "Nó muốn bắt con tôi, nó phải bước qua cái xác già này trước!"
Dứt lời, ông Thìn quay người lao thẳng ra cửa chòi.
Gió sông thốc ngược vào mặt ông rát buốt, mùi tanh nồng của bùn sình và phù sa xộc thẳng vào cuống họng. Nước triều đã ngập trắng xóa con đường mòn dẫn ra bến đậu ghe, mấp mé tận gối chân. Mưa đêm bắt đầu rơi lác đác, từng hạt nặng trĩu quất vào mặt ông lạnh buốt.
Phía xa xa giữa dòng nước đen ngòm cuộn sóng, bóng dáng trụ cầu số 3 đứng sừng sững như một bia mộ khổng lồ cắm thẳng vào lòng sông Sài Gòn. Chiếc ghe chài của ông neo ở đằng kia đang dập dềnh chao đảo dữ dội giữa những con sóng lừng, mũi ghe một lần nữa lại tự động xoay ngược về phía khối bê tông xám xịt.
Trên mũi chiếc ghe cô độc đó, dải vải liệm trắng buộc quanh chiếc guốc mộc cổ đang quất phần phật vào không trung, phát ra những tiếng kêu phần phật khô khốc giữa đêm đen mịt mùng.