Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 18: Cô Gái Đội Guốc Mộc Thời Pháp
Cú va chạm giáng xuống nặng tựa một tảng đá ngàn cân nện thẳng vào lồng ngực chiếc ghe chài. Mũi thuyền bằng gỗ sao chai dày dặn thúc một tiếng "khực"…
Nội dung chương
Cú va chạm giáng xuống nặng tựa một tảng đá ngàn cân nện thẳng vào lồng ngực chiếc ghe chài.
Mũi thuyền bằng gỗ sao chai dày dặn thúc một tiếng "khực" chát chúa, cắm phập vào gờ đá hộc nơi chân bệ móng trụ cầu số 3. Lực tông khủng khiếp hất tung ông Thìn từ giữa khoang lái văng bổ nhào về phía trước. Thân hình gầy guộc của ông già sáu mươi bảy tuổi đập mạnh vào mép sạp gỗ, kéo theo mớ xoong chảo, can dầu hỏa và cuộn dây cước câu đêm văng tung tóe khắp sàn. Đốt sống lưng già cỗi rên lên từng hồi đau nhói, cổ tay phải va vào mạn thuyền trầy tróc một mảng da lớn, máu rỉ ra hòa lẫn với nước sông nhờn nhợt mùi phù sa.
Chiếc ghe chao đảo dữ dội sang mạn trái rồi khựng lại, dính chặt cứng ở góc vuông giữa hai vách móng.
Nước sông Sài Gòn đang độ triều cường tháng Mười dâng cao ngập ngụa, chảy xiết qua vòm dạ cầu Bình Triệu với tiếng gầm rền rĩ của thú dữ. Dòng nước xoáy đen ngòm từ lòng sâu cuộn lên thành từng đợt sóng đục ngầu, thúc liên hồi vào đuôi thuyền. Mỗi lần ngọn sóng lớn dồn tới, chiếc ghe lại bị ép nghiến vào khối bê tông xám xịt của trụ cầu. Tiếng gỗ kiền kiền và sao chai cọ xát vào mặt đá sắc nhọn phát ra âm thanh ken két rợn người, râm ran như tiếng răng người đang nghiến chặt trong cơn co giật.
Mũi ghe đã bị nêm chặt vào một khe nứt sâu hoắm ngay mép nước chân trụ.
Nếu không mau chóng gỡ chiếc ghe ra khỏi cái kẹp chết người này, con nước lớn đang dồn về từ phía hạ lưu chỉ cần dâng thêm nửa thước nữa sẽ đè bẹp be thuyền. Khi ấy, áp lực nước nghìn tấn sẽ nghiền nát toàn bộ vỏ gỗ, biến chiếc ghe thành một mớ dăm vụn và kéo chìm mọi thứ xuống đáy rốn xoáy ngầm.
"Trời đất quỷ thần ơi..."
Ông Thìn nén cơn đau thấu xương ở mạng sườn, chống hai tay run rẩy bò dậy giữa vũng nước đọng nhớp nháp. Mưa dông vẫn quất rát mặt, gió luồn qua dạ cầu rít từng chập buốt lạnh. Ông đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm công cụ thoát hiểm.
Cây sào tre đực dài hơn bốn thước, loại tre già đanh được ngâm bùn suốt ba năm và bịt mũi sắt nhọn ở đầu, đang nằm kẹt dưới một bó lưới cước bên be phải. Đây là thứ vật dụng duy nhất có đủ sức chịu lực để ông bẩy mũi thuyền ra khỏi hốc đá.
Ông Thìn lao tới, giật mạnh thanh tre ra khỏi đám dây nhợ chằng chịt. Đầu gối ông khụy xuống sàn vì sức nặng của nước lũ đang dập dềnh dưới chân. Đứng vững trên hai bàn chân trần quen bám ván ướt, ông Thìn hít một hơi thật sâu, gằn từng thớ thịt già nua trong buồng ngực lép kẹp, vác cây sào tre trèo lên mũi thuyền.
Gió thốc bạt mạng khiến tà áo vải sờn rách dán chặt vào da thịt lạnh ngắt của ông. Phía trước mặt ông, khối bê tông khổng lồ của trụ cầu số 3 sừng sững như một bức tường thành cổ quái, phủ đầy rêu đen và những mảng hà sông bám kết thành từng vầng lởm chởm. Mũi ghe của ông găm sâu vào một kẽ nứt nanh chuột rộng chừng ba gang tay, nằm ngay lằn ranh giữa tầng không khí ẩm ướt và mặt nước xoáy tít mù.
Ông Thìn lựa góc đặt mũi sắt của cây sào vào một điểm tựa vững chắc trên vách đá hộc. Hai bàn tay nổi gân xanh như rễ cây si siết chặt lấy thân tre, ông dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể cùng chút sức tàn của tuổi xế chiều ấn mạnh xuống.
"Ra... Ra mau!"
Ông Thìn gầm lên trong cổ họng, răng cắn chặt vào môi dưới đến bật máu.
Thân tre đực uốn cong thành một hình cánh cung căng tròn, rung lên bần bật dưới áp lực khổng lồ. Mặt gỗ sao của mũi ghe chỉ hơi rục rịch một chút rồi lại đứng trơ ra, tựa hồ có một mỏ neo vô hình dưới lòng bùn đang níu chặt lấy sống thuyền không cho nhúc nhích.
Chát!
Cây sào tre bật ngược lại vì mũi sắt trượt khỏi bờ đá trơn nhẫy rêu phong. Cả người ông Thìn ngã ngửa ra sau, đập lưng xuống sàn mũi thuyền một lần nữa. Cơn choáng váng ập đến làm mắt ông mờ đi trong vài nhịp thở. Nước sông tràn qua mép be, ngập lênh láng đến ngang bắp chân.
Dòng nước đang dâng nhanh hơn bình thường. Cứ mỗi đợt sóng dồn từ ngoài luồng tàu chạy vào, mặt nước lại nhích lên một lóng tay. Chỉ cần mười phút nữa, mép nước sẽ trùm kín be mũi, biến khoang ghe thành một cái phễu hứng trọn dòng nước lũ.
Không thể dùng sức bừa được. Với kinh nghiệm gần nửa thế kỷ vật lộn với sóng gió sông Sài Gòn, ông Thìn biết rõ mũi ghe không bao giờ kẹt cứng đến mức này nếu chỉ là va chạm cơ học thông thường. Lớp vỏ gỗ sao được quét dầu rái trơn nhẵn, chạm vào bê tông ẩm ướt lẽ ra phải trượt ra ngoài khi có lực đẩy, đằng này nó lại bị hút chặt vào trong hốc tối như thể bị ai đó dùng dây chằng níu lại.
Ông Thìn thở hổn hển, quờ tay vào túi áo mưa treo bên mạn lấy ra chiếc đèn pin mắt ếch bọc cao su chống nước. Ngón tay run rẩy gạt nhẹ công tắc.
Tách.
Ánh sáng vàng vọt xuyên qua màn mưa đêm dày đặc, quét một vệt dài trên mặt nước đục ngầu rồi dừng lại ở điểm tiếp giáp giữa mũi thuyền và kẽ nứt bê tông.
Một cảnh tượng dị thường đập thẳng vào mắt khiến tim ông Thìn như ngừng đập một nhịp. Sống lưng ông chạy dọc một luồng khí lạnh buốt, da gà nổi rợp khắp hai cánh tay.
Búi tóc đen nhánh vướng vào chân vịt lúc nãy không hề bị cuốn trôi đi khi sợi cáp neo đứt lìa.
Nó đã trườn dọc theo sống đáy ghe tự lúc nào, vươn dài ra phía trước như một loài sinh vật sống dưới đáy bùn. Dưới luồng ánh sáng đèn pin, hàng vạn, hàng triệu sợi tóc đen dày đặc không chỉ bọc kín mũi thuyền mà còn đang ăn sâu, bám rễ chằng chịt vào từng kẽ nứt li ti của khối bê tông chân trụ cầu.
Chúng không trôi dạt lững lờ theo dòng nước cuộn xiết. Những sợi tóc đen nhánh, dài dằng dặc ấy ghim chặt vào bề mặt đá hộc, luồn lách qua các khe hở của lớp vữa thế kỷ trước, bện lại thành những bó gân đen sì, căng cứng như dây chằng của loài thú khổng lồ. Từng lọn tóc khẽ co rút nhịp nhàng theo nhịp sóng vỗ, siết chặt lấy mũi gỗ kiền kiền, ghì chặt thân tàu vào vách đá ngầm bằng một lực kéo kinh hoàng.
Mùi hôi thối xộc thẳng vào cánh mũi ông Thìn. Đó không đơn thuần là mùi tanh nồng của bùn non sông Sài Gòn sau cơn mưa lớn. Đó là mùi của vải liệm mủn nát bị giam hãm dưới đáy nước tối tăm hàng trăm năm, mùi mỡ người rữa nát hòa quyện với thứ mùi ẩm mốc của xi măng cổ thụ lâu ngày không thấy ánh mặt trời. Thứ mùi nhớp nháp ấy đặc quánh lại, chui qua kẽ răng, xộc thẳng vào cuống họng làm ông buồn nôn dữ dội.
"Ma quỷ giữ ghe... Mày muốn kéo tao xuống thật sao?"
Ông Thìn lẩm bẩm, tay nắm chặt lấy con dao rựa vớt xác giắt sau lưng quần. Lưỡi dao thép nhíp xe đen bóng sắc lẹm, thứ đã từng cắt đứt hàng trăm đoạn lưới ma, giải thoát cho bao nhiêu thi thể chết trôi mắc kẹt dưới chân cầu.
Ông rướn người ra sát mũi thuyền, tay trái rọi đèn, tay phải vung dao chém mạnh vào búi tóc đang quấn quanh mũi thuyền.
Phập! Phập!
Lưỡi dao thép bén ngót chém đứt phăng từng búi tóc đen dày cộp. Nhưng ngay khi những sợi tóc bị cắt đứt lìa, từ vết cắt lại rỉ ra một thứ chất lỏng đen kịt, sền sệt như dầu luyn pha lẫn máu đông. Thứ chất lỏng ấy rớt xuống mặt sông lập tức sủi lên những cuộn bọt màu xám tro, bốc khói mỏng tanh tưởi.
Và kinh hoàng hơn, những sợi tóc vừa bị chém đứt không hề trôi đi. Chúng quẫy đạp điên cuồng trong làn nước đục như một bầy đỉa đói, rồi nhanh chóng đan kết lại vào nhau, vươn dài ra, tiếp tục bám chặt vào vách đá với tốc độ mắt thường có thể nhìn thấy rõ rệt. Càng chém, tóc mọc ra càng dày, càng siết chặt mũi ghe vào sâu hơn trong hốc nứt.
Mồ hôi hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng trên mặt ông Thìn. Đôi mắt kèm nhèm của ông nhận ra một điều cốt tử: phần gốc của búi tóc này không nằm ở đáy sông, cũng không bắt nguồn từ chiếc guốc mộc trên sàn thuyền.
Gốc rễ của nó nằm sâu hoắm bên trong kẽ nứt bê tông của chân móng trụ cầu số 3.
Khe nứt này không phải là một vết rạn chân chim nông toẹt do chấn động giao thông bên trên mặt cầu tạo ra. Đó là một hốc rỗng sâu hun hút, vết nứt toác của kết cấu móng chìm từ thời Pháp thuộc, nơi dòng chảy xoáy ngầm đã âm thầm bào mòn lớp đá hộc và vữa vôi suốt cả một thế kỷ qua.
Ông Thìn ghì chặt thân mình vào mũi thuyền, dùng một tay nắm lấy gờ đá để giữ thăng bằng, hạ thấp ngọn đèn pin xuống sát mặt nước đang cuộn sóng. Ông nheo mắt nhìn sâu vào bên trong cái hốc tối đen như miệng cống ấy.
Chùm sáng vàng đục rọi xuyên qua lớp nước phù sa nhờn nhợt, len sâu vào khe nứt nanh chuột.
Bên trong khoảng tối tăm ẩm ướt ngập nước ấy, những mảng rêu phong bám dày đặc trên những thanh sắt rỉ sét chằng chịt. Nhưng ngay bên dưới một tảng bê tông bị sụt lở, ánh đèn pin bỗng bắt gặp một màu sắc dị thường.
Đó là một mảng gỗ mục màu nâu thẫm, thớ gỗ mịn màng khác hẳn với loại gỗ tạp làm ván khuôn xây dựng. Miếng gỗ bị nứt toác thành nhiều mảnh vụn, nằm kẹp giữa hai phiến đá hộc chịu lực của chân móng. Những đường chạm khắc hoa văn cổ xưa hình mây cuộn dẫu đã bị nước sông và hà bám gặm nhấm nham nhở, nhưng vẫn lộ ra nét tinh xảo của một chiếc áo quan gia truyền thời trước.
Một cỗ quan tài cổ.
Lời kể râm ran của những bạn chài lưới già nua từ thuở ông Thìn còn là một đứa trẻ chăn vịt ven sông bỗng hiện về rõ mồn một. Người ta từng đồn rằng khi người Pháp đặt móng xây cây cầu sắt đầu tiên qua sông Sài Gòn, đất cát vùng này bị sụt lở liên miên, cọc đóng xuống bao nhiêu cũng bị dòng xoáy ngầm nuốt chửng. Để giữ vững chân móng giữa con nước dữ, người ta đã dùng đến thuật phong thủy man rợ nhất: chôn sống một người trinh nữ vào tâm mạch đất, ghim giữ linh hồn dưới chân cột cầu để làm thần giữ của cho công trình.
Hóa ra những câu chuyện nửa hư nửa thực thì thầm bên bàn rượu đế suốt mấy mươi năm qua lại là một sự thật đẫm máu đang nằm ngay trước mắt ông.
Ánh đèn pin của ông Thìn khẽ run rẩy, chầm chậm lia sâu hơn vào phía sau mảnh gỗ áo quan mục nát.
Nơi đáy sâu tăm tối nhất của hốc bê tông, nằm khuất sau những búi tóc đen đang ngọ nguậy như mạng nhện, một vật thể màu trắng xám lạnh lẽo hiện ra dưới đáy nước.
Đó là một mẩu xương ống chân người.
Đoạn xương cẳng chân thon nhỏ của một thiếu nữ, dài chừng một gang tay rưỡi, đã ngả sang màu xám tro của thời gian và bị vôi hóa lốm đốm những vảy hà sông sắc nhọn. Mẩu xương nằm nghiêng nghiêng, nửa chìm trong bùn lắng, nửa nhô lên giữa khe đá hẹp.
Điều làm cho máu trong toàn bộ huyết quản của ông Thìn như đông cứng lại là vật thể đang cắm phập vào giữa đoạn xương ấy.
Một chiếc đinh sắt han rỉ to bản, dài gần một gang tay, dày như một ngón tay cái người lớn. Đầu đinh bẹt gí, thân đinh hình vuông gồ ghề vết rỉ sét màu đỏ quạch như máu đọng. Chiếc đinh sắt cổ xưa ấy bị đóng lút cán, xuyên thẳng qua phần giữa của mẩu xương ống chân, ghim chặt khúc xương vào một khối đá hộc sâu bên trong lòng móng bê tông.
Đây chính là chiếc cọc sắt yểm bùa.
Nửa hữu của lời nguyền man rợ.
Nơi chiếc đinh sắt cắm ngập vào xương tàn, những sợi tóc đen nhánh túa ra như những mạch máu li ti, dày đặc và ken kết. Toàn bộ búi tóc đang quấn lấy chân vịt, trườn lên be thuyền của ông Thìn đều bắt nguồn từ chính cái lỗ đinh rỉ sét đang ghim chặt khúc xương oan khuất này.
Và ngay dưới chân mẩu xương ấy, lấp ló dưới lớp bùn non mịn màng vừa bị dòng xoáy xới tung lên, một góc gỗ mít màu nâu đỏ nhô ra một cách ma quái.
Chiếc guốc mộc bên phải.
Nó nằm đó, bất động dưới tầng nước sâu lạnh ngắt, đối diện với chiếc guốc mộc bên trái đang nằm trơ trọi trên sàn khoang lái của ông Thìn. Suốt hàng trăm năm bị đè nặng dưới hàng triệu tấn bê tông và sắt thép, nửa linh hồn què quặt bị đóng đinh nơi đáy vực chưa từng có một ngày được nhấc chân bước đi.
Rầm!
Một con sóng lừng bất thần đánh ập vào mạn thuyền, hất văng nước sông vào tận khoang trong. Thân ghe nghiêng hẳn sang một bên, mép be chìm nghỉm dưới mặt nước nửa gang tay. Tiếng ván gỗ rạn nứt vang lên răng rắc bên dưới lườn thuyền.
Không còn thời gian nữa. Nếu không nhổ được chiếc cọc sắt ấy ra, nếu không giải thoát cho mẩu xương tàn đang bị ghim chặt trong hốc đá, chiếc ghe này sẽ bị dìm chết ngay tại chân móng trong vòng vài con sóng nữa. Oán khí tích tụ trăm năm sẽ kéo cả thân xác ông lẫn chiếc ghe vùi sâu vào lòng xoáy ngầm để làm bạn cùng mẩu cốt xưa.
Trong cơn tuyệt vọng cùng cực, bản năng sinh tồn của một kẻ cả đời vớt xác trên sông bùng lên lấn át cả nỗi sợ hãi tột cùng.
Ông Thìn buông rơi chiếc đèn pin xuống sàn mũi thuyền. Ánh sáng vàng vẫn rọi thẳng vào kẽ nứt bê tông nghi ngút bọt nước. Ông gập người lại, thò cả cánh tay gầy guộc đầy sẹo cá vào trong làn nước buốt giá, luồn sâu bàn tay chai sần vào cái hốc nanh chuột chật hẹp.
Nước trong kẽ nứt lạnh một cách phi lý, cái lạnh không phải của nước sông mùa mưa bão, mà buốt giá như nước ngâm trong hầm mộ mùa đông. Những sợi tóc đen mềm nhũn, trơn tuột lập tức quấn lấy cổ tay ông, mơn trớn trên da thịt như hàng chục ngón tay phụ nữ đang níu giữ.
Ông Thìn cắn răng chịu đựng cái lạnh thấu tủy, các đầu ngón tay mò mẫm qua những mảng rêu nhớp nháp, vượt qua gờ gỗ áo quan mục nát, vươn thẳng tới nơi chiếc cọc sắt đang cắm ngập.
Đầu ngón tay thô ráp của người thợ già vừa chạm khẽ vào bề mặt nham nhở của mẩu xương ống chân trắng bệch.
Uỳnh!
Một luồng chấn động vô hình cực mạnh giáng thẳng vào thần trí ông Thìn như một tiếng sét đánh ngang tai giữa trời quang.
Toàn thân ông già giật bắn lên một cái dữ dội. Đầu ngón tay ông dính chặt cứng vào khúc xương lạnh ngắt, không tài nào rút ra được nữa. Một luồng hàn khí đen ngòm từ lòng mẩu cốt truyền thẳng qua da thịt, xông thẳng lên cánh tay, chạy dọc qua tủy sống rồi nổ tung trong lồng ngực.
Mặt sông Sài Gòn quanh trụ cầu số 3 bỗng chốc im bặt mọi tiếng ầm ào của sóng gió. Tiếng mưa rơi lộp độp biến mất, tiếng động cơ xe cộ xa xăm trên mặt cầu Bình Triệu vụt tắt lịm. Trong khoang tai ông Thìn chỉ còn lại tiếng rền rĩ ai oán của một giọng hờ khóc xé lòng từ trăm năm trước vọng về, cùng hơi lạnh tê dại đang lan nhanh khắp lục phủ ngũ tạng, kéo giật toàn bộ ý thức của ông chìm sâu vào một màn đêm đen kịt không đáy.