Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 20: Đêm Thứ Mười Lăm Triều Cường

Nước sông tràn qua mép be thuyền rút đi thật chậm, để lại một lớp phù sa nhờn nhẫy bám đầy trên sàn ván gỗ mù u. Ông Thìn nằm ép ngực xuống mặt sàn ẩm…

Nội dung chương

Nước sông tràn qua mép be thuyền rút đi thật chậm, để lại một lớp phù sa nhờn nhẫy bám đầy trên sàn ván gỗ mù u.

Ông Thìn nằm ép ngực xuống mặt sàn ẩm ướt, hai lá phổi ran lên từng cơn đau buốt rát sau ngụm nước sông lạnh ngắt vừa sặc vào cuống họng. Máu từ mu bàn tay phải vẫn rỉ từng giọt sẫm màu, rơi lộp độp xuống thớ ván đã ngả màu xám xịt vì năm tháng dầm dãi nắng mưa. Vết cào rách toác do đá hộc cứ giật từng cơn theo nhịp tim, nhưng cái đau xác thịt ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi lạnh lẽo đang siết cứng cuống họng ông già sáu mươi bảy tuổi.

Tiếng thì thầm dưới kẽ nứt bê tông trụ cầu vẫn chưa chịu tan đi. Âm thanh ấy quẩn quanh màng nhĩ, the thé và rành rọt từng chữ: thằng Cả tên Toàn, thằng Hai tên Thắng, thằng Út tên Phong. Ba cái tên rút từ ruột thịt của ông, những đứa con rời bến sông này đi làm ăn xa xứ cả chục năm trời, chưa từng một lần để lộ lai lịch với khúc sông đen ngòm dưới chân cầu Bình Triệu. Oan hồn nơi đáy nước không đòi thân già tàn tạ của người vớt xác, mà nhắm thẳng vào ba nhánh máu mủ dòng họ Lê.

Ông Thìn run rẩy chống cùi chỏ ngồi dậy. Khớp gối ông kêu lục cục, mỏi nhừ và nặng trĩu. Gió đêm thốc qua gầm cầu, quất những giọt mưa rào muộn mằn vào mặt lạnh buốt. Phía trên cao, một chuyến xe tải chở hàng nặng rầm rập bò qua mặt cầu, làm khung dầm thép rung lên bần bật, dội xuống dòng nước đục ngầu những tiếng u u kéo dài rợn gáy.

Ông lần tay với lấy chiếc áo bà ba cũ treo bên vách khoang lái, xé toạc một dải vải dài rồi quấn chặt quanh bàn tay đang đầm đìa máu tươi. Vải thô siết chặt vào miệng vết thương rách toạc, đau đến ứa nước mắt, nhưng ông chỉ nghiến chặt hàm răng lung lay mà chịu đựng. Ông cần cái đau này để giữ cho đầu óc hoàn toàn tỉnh táo.

Trên mũi ghe, chiếc guốc mộc màu nâu đỏ vẫn nằm im lìm bên cạnh chiếc đèn pin sứt góc. Quai da của nó đã bật hẳn ba chiếc đinh đồng han rỉ, cong vênh lên một góc kỳ dị. Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn pin phản chiếu lên lớp gỗ mít ướt nước, trông bóng loáng và trơn tuột như da thịt của một người chết đuối lâu ngày mới nổi.

Ông Thìn không dám đưa tay chạm vào chiếc guốc ấy thêm một lần nào nữa. Ông lùi dần về phía đuôi ghe, bước chân nặng nề dẫm lên những vũng nước cạn trên sàn khoang.

Dưới gầm sàn đuôi lái, sát cạnh bình chứa dầu cặn và mấy cuộn dây thừng ngâm nước muối, có một chiếc rương gỗ nhỏ đóng bằng gỗ sao dày dặn. Mặt nắp rương được bọc một lớp tôn mỏng gỉ sét để chống chuột bọ và nước triều dâng. Đây là nơi ông cất giữ những gì hệ trọng nhất của cuộc đời mình sau bốn mươi năm xuôi ngược trên sông Sài Gòn: mấy tấm giấy khai sinh ố vàng của ba đứa con trai, ít tiền lẻ phòng thân, và một cuốn sổ tay bìa bọc vải dù đã mòn xơ các góc cạnh.

Ông Thìn quỳ sụp hai gối xuống tấm chiếu cói ẩm mốc, dùng bàn tay trái không bị thương run rẩy mở chiếc móc sắt gỉ sét bên hông rương. Bản lề gỗ cọ vào nhau rít lên một tiếng khô khốc giữa không gian tĩnh mịch của đêm muộn.

Bên trong rương thoang thoảng mùi dầu hỏa, mùi long não cũ và mùi giấy ẩm đặc trưng của xóm vạn đò. Ông thò tay xuống tận đáy, lôi ra cuốn sổ tay dày cộm buộc bằng một sợi dây cước câu cá ngát.

Đây là cuốn sổ tay ghi chép con nước và những xác chết trôi sông của dòng họ Lê suốt ba đời nay. Bắt đầu từ đời ông nội ông là cụ Lê Văn Giác, truyền qua tay người cha quá cố là ông Ba Cần, rồi cuối cùng nằm lại trong tay ông Thìn suốt hơn hai mươi năm qua. Dân làm nghề vớt xác trên sông Sài Gòn đều có thói quen ghi chép lại ngày giờ con nước ròng, nước lớn, vị trí con nước xoáy nuốt xác, cùng đặc điểm quần áo hay hình hài người xấu số để thân nhân sau này có đường mà tìm lại nắm xương tàn.

Ông Thìn run rẩy châm một ngọn đèn chai nhỏ đặt trên nắp rương. Đốm lửa vàng le lói bập bùng theo từng cơn gió lọt qua khe vách, hắt bóng người thợ già gầy guộc lên vách khoang ghe như một cái bóng ma khắc khổ.

Ngón tay thô ráp đầy sẹo cá cẩn thận tháo từng nút thắt dây cước. Từng trang giấy bổi ngả sang màu vàng vôi, lốm đốm những vết ố của nước sông và thời gian, hiện ra dưới ánh lửa chập chờn.

Phần đầu cuốn sổ là những nét chữ Nho ngay ngắn, mực tàu đã nhạt nhòa của ông nội ông từ đầu thế kỷ hai mươi, ghi lại những con nước hiểm và những lần vớt người ngã sông ở bến đò Bình Quới, bến đò Thị Nghè. Tiếp theo đó là những trang chữ quốc ngữ viết bằng bút chấm mực của ông Ba Cần từ những năm 1960 trở đi.

Ông Thìn lật nhanh qua những trang viết quen thuộc về các vụ chết đuối thông thường: người nhảy cầu vì nợ nần, kẻ tắm sông bị vọp bẻ, đứa trẻ trượt chân bờ kè. Mắt ông dừng lại ở những trang đánh dấu mực đỏ, nơi ghi chép các vụ mất tích bí ẩn quanh trụ cầu Bình Triệu kể từ khi cây cầu này được xây dựng xong và đưa vào sử dụng.

Trụ số 3. Luôn luôn là chân móng trụ số 3.

Trang giấy đề ngày rằm tháng mười năm 1984, nét chữ của cha ông run rẩy lạ thường:

"Nước lớn lúc nửa đêm. Thằng Hai Râu xóm Chợ Nhỏ đi chài đêm ngang trụ số 3 cầu Bình Triệu. Lưới vướng vào một chiếc lược sừng trâu nổi lềnh bềnh mé chân móng. Nó tiếc của, đem chiếc lược về cài lên vách ghe tính để dành cho vợ chải tóc. Ba ngày sau, con nước ròng rút cạn, ghe thằng Hai Râu úp ngược ngay mắt rốn ngầm chân trụ. Thân xác nó trôi tuột đi đâu không rõ, lặn ròng rã bảy ngày đáy sông chỉ vớt được chiếc lược sừng kẹt trong hốc đá, còn người thì mất tăm mất tích."

Lồng ngực ông Thìn thắt lại. Một cơn buốt lạnh bò dọc theo sống lưng.

Ông lật tiếp sang một trang khác, đề năm 1991, khi ông đã bắt đầu cùng cha đi ghe phụ chài:

"Tháng chín, triều cường dâng ngập bờ kè. Anh Tư Lân thợ lưới khu Lò Gốm xuôi ghe qua gầm cầu Bình Triệu neo lại tránh dông. Đêm đó nước xoáy đùn bọt trắng xóa quanh trụ số 3. Tư Lân vớt được một cây trâm cài tóc bằng đồng đóng ten rỉ xanh trôi dạt vào mạn ghe, đem cất vào hộp câu cá. Đến đêm thứ năm, người trong xóm chài nghe tiếng Tư Lân la hét thất thanh giữa dòng sông rồi im bặt. Ghe còn nguyên vẹn trôi dạt vô bờ Thanh Đa, nhưng buồng lái trống trơn. Thằng Lân biến mất. Dưới đáy lườn ghe cắm ngập một búi tóc đen dài quấn chặt quanh chân vịt."

Những dòng chữ của người cha quá cố như từng nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ ông Thìn.

Ông lật tiếp, lật dồn dập trong hơi thở gấp gáp. Mắt ông rà soát từng dòng, từng cái tên của những người thợ chài xấu số từng bỏ mạng nơi khúc sông này suốt mấy mươi năm qua.

Lão Sáu Miên năm 1998, nhặt được một mảnh yếm rách dính bùn trôi dạt gần chân trụ số 3, ba đêm sau lật ghe chết đuối ngay vùng xoáy ngầm, xác không bao giờ nổi lên.

Thằng Bảy Đen năm 2005, mò được một chiếc vòng bạc cũ kẹt ở khe đá chân cầu, đem về khoang thuyền cất giấu, chưa đầy một tuần sau thì nhảy sông tự vẫn ngay giữa đêm triều cường lúc nước xiết nhất, miệng liên tục lẩm bẩm đòi đi trả đồ cho người ta.

Tất cả những người thợ chài từng bỏ mạng mất xác quanh trụ số 3 đều có một điểm chung tàn khốc đến nghẹt thở. Họ không đơn thuần bị nước xoáy cuốn đi vì rủi ro nghề nghiệp. Trước khi chết hoặc biến mất không để lại dấu vết, họ đều vô tình nhặt những món đồ trôi nổi quanh vùng xoáy chân trụ đem về ghe cất giữ.

Những món đồ ấy chính là chiếc lược, cây trâm, mảnh yếm, chiếc vòng bạc.

Và chiếc guốc mộc quấn búi tóc đen nhánh mà chính tay ông Thìn đã vớt lên đặt trên mũi ghe đêm trước.

Đó là những chiếc mồi câu của oan hồn đáy nước. Oan linh cô gái bị chôn sống nơi chân móng trụ cầu đã dùng chính những vật tùy thân còn vương lại của mình để làm vật dẫn dụ, đánh vào lòng tham hoặc sự tò mò vô hại của những kẻ kiếm cơm trên sông. Kẻ nào lỡ tay nhặt lấy vật của nàng đem về mạn thuyền, kẻ đó đã tự mình mở cửa rước oán khí vào khoang lái, tự ký vào bản án diệt mạng của chính mình.

Nhưng nếu chỉ có thế, tại sao nàng lại không lấy mạng ông Thìn ngay trong đêm nay?

Tại sao nàng lại gọi rành rọt tên của ba đứa con trai ông, những đứa con chưa từng một lần chạm tay vào chiếc guốc mộc, những người thậm chí còn không có mặt trên khúc sông Sài Gòn này?

Bàn tay băng bó của ông Thìn run rẩy dữ dội hơn. Máu tươi rỉ qua lớp vải thô, nhuộm đỏ một góc mép trang giấy cũ. Trực giác mách bảo ông rằng còn một uẩn khúc sâu kín hơn, một mối dây ràng buộc tàn độc hơn thế nữa đang ẩn giấu giữa dòng họ Lê và oan hồn người thiếu nữ dưới chân móng trụ số 3.

Ông lật ngược cuốn sổ về những trang giấy cách đây gần nửa thế kỷ, thời điểm cây cầu Bình Triệu vừa hoàn thành việc đóng những trụ móng bê tông đầu tiên vươn qua lòng sông. Đó là những năm cuối thập niên 1970, khi ông Thìn mới chỉ là một chàng trai mười tám đôi mươi, theo cha bám sông kiếm sống bằng nghề chài lưới đêm.

Nét chữ của ông Ba Cần ở phần này nguệch ngoạc, gấp gáp, nhiều chỗ nét bút đè mạnh làm rách toạc cả thớ giấy mục nát. Trang nhật ký đề ngày mười chín tháng mười năm 1978, nhằm một đêm triều cường dâng cao đỉnh điểm:

"Đêm nay nước xoáy chân trụ móng số 3 hung hãn khác thường. Ghe lội qua vùng xoáy ngầm thì bị chân vịt máy đuôi tôm siết cứng, máy gầm rú rồi tắt lịm. Ghe bị dòng nước ngầm dìm chúi mũi, mép be ngập sâu trong nước đục. Tao soi đèn pin xuống nước, thấy một búi tóc đàn bà đen nhánh, to bằng bắp đùi người lớn, đang trườn từ dưới hốc cọc sắt đóng móng cuộn chặt lấy cốt chân vịt máy, kéo giật cả lườn ghe chúi thẳng vào miệng xoáy rốn ngầm."

Hơi thở của ông Thìn nghẹn lại nơi lồng ngực. Ký ức xa xăm của gần năm mươi năm trước bỗng chốc dội về rõ mồn một.

Đêm đó, ông Thìn còn trẻ, đang ngồi giữ tay chèo ở mũi ghe thì nghe cha mình gào thét kinh hoàng phía sau đuôi lái. Tiếng máy đuôi tôm nghẹn ứ rồi tắt ngấm, tiếng gỗ va đập rầm rầm vào chân cọc móng giữa dòng nước cuồn cuộn bùn đen. Lúc đó cha ông đã bắt ông nằm rạp xuống khoang, cấm không cho quay đầu nhìn lại phía sau.

Trang giấy của ông Ba Cần tiếp tục phơi bày sự thật rùng rợn mà suốt một đời người cha già chưa từng một lần hé môi kể lại cho con cháu:

"Búi tóc ma siết mỗi lúc một chặt, kéo lườn ghe nghiêng ngửa sắp lật úp. Tao nhìn thấy rõ ràng dưới bóng nước đen ngòm, một gương mặt thiếu nữ trắng bệch không có mắt mũi, chỉ có cái miệng há rộng đang phát ra tiếng hờ khóc rền rĩ đòi mạng. Ghe sắp chìm. Nếu chìm thì cả tao lẫn thằng Thìn đều phải vùi xác nơi chân cọc móng này làm mồi cho nước sâu. Trong cơn tuyệt vọng cùng đường, tao rút cây dao rựa chặt củi trên be thuyền, nhắm thẳng vào búi tóc đang quấn nghẹt cốt chân vịt mà chém điên cuồng."

Mực ở đoạn này nhòe nhoẹt, loang lổ những vệt nước ố vàng như thể người viết đã vừa khóc vừa viết:

"Tao chém đứt phựt một lọn tóc ma to bằng cổ tay. Nước sông lập tức sủi bọt đỏ quạch như máu tươi ộc ra từ vết chém. Tiếng the thé ré lên đau đớn xé rách cả màng nhĩ, búi tóc rút nhanh xuống đáy móng trụ, nhả chân vịt ra cho ghe tao thoát nạn. Nhưng tao biết tao đã phạm phải đại kỵ lớn nhất của nghề chài lưới sông nước.

Chém đứt tóc oan hồn nơi chân móng trụ là cắt đứt sợi dây oan khuất chưa dứt của người ta, kết mối thù sâu như đáy bể. Nàng không tan biến, nàng chỉ lui về hốc đá nuôi oán khí chờ ngày con nước lớn. Oan khiên này dòng họ Lê không thể nào rửa sạch. Nàng đã nguyền rủa tao. Nợ máu này đời tao chưa trả hết thì nàng sẽ đợi đến đời con tao, đời cháu tao. Ba đứa cháu nội tao sinh ra mang dòng máu họ Lê, số phận đã bị trói chặt vào món nợ lọn tóc bị chém đứt năm xưa. Đến hạn triều cường quỷ dị, nàng sẽ đến đòi đủ ba mạng trai để bù vào chỗ thân xác bị đóng đinh dưới đáy nước."

Cuốn sổ tay tuột khỏi bàn tay run rẩy của ông Thìn, rơi bộp xuống sàn khoang ẩm ướt.

Chỉ còn tiếng gió rít qua những thanh dầm thép trên cao, lạnh buốt và rợn ngợp.

Toàn bộ mạch máu trong người ông Thìn như đông cứng lại thành đá. Đầu óc ông tê dại, mọi giác quan quay cuồng trước sự thật kinh hoàng vừa hé lộ từ những dòng chữ trăn trối của người cha quá cố.

Thì ra là như vậy.

Không phải ngẫu nhiên mà chiếc guốc mộc quấn búi tóc đen nhánh lại trôi dạt đúng vào chân vịt ghe ông giữa đêm triều cường dâng cao. Càng không phải ngẫu nhiên mà oan hồn người thiếu nữ dưới chân móng trụ số 3 lại gọi rành rọt tên của thằng Toàn, thằng Thắng, thằng Phong.

Tất cả là duyên nợ truyền kiếp.

Năm xưa, để cứu lấy mạng sống của chính mình và đứa con trai mười tám tuổi là ông Thìn, cha ông đã vung dao chém đứt lọn tóc oan khiên của người chết dưới đáy móng cầu. Nhát dao rựa năm 1978 ấy đã cứu được hai mạng người trong đêm dông bão, nhưng đồng thời cũng gieo xuống một lời nguyền máu mủ đè nặng lên ba thế hệ dòng họ Lê.

Những người thợ chài khác như Hai Râu, Tư Lân, Sáu Miên chết vì vô tình nhặt phải mồi câu của ma da để thế mạng cho dòng nước xoáy. Còn dòng họ Lê của ông thì khác. Oan hồn cô gái đội guốc không muốn một sự thế mạng ngẫu nhiên. Nàng muốn đòi nợ đích danh. Nàng muốn lấy đi ba giọt máu của thế hệ thứ ba dòng họ Lê để đền trả cho nhát dao chém đứt lọn tóc oan khuất năm nào.

Và con nước triều cường tháng mười năm nay chính là thời hạn mà món nợ máu ấy phải thanh toán.

Một nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy trái tim già nua của người thợ vớt xác. Ông Thìn gục đầu xuống hai bàn tay đầy máu và đất cát, hai vai run lên bần bật. Cả một đời ông lênh đênh trên sông nước, vớt không biết bao nhiêu xác chết không nơi nương tựa, gom góp từng mảnh xương tàn để tích đức cho con cháu. Ông cứ ngỡ những việc thiện lành ấy sẽ che chở cho ba đứa con trai ông được bình yên nơi đất khách quê người, thoát khỏi cái kiếp chài lưới nghèo khổ và đen bạc của dòng sông này.

Nhưng món nợ ân oán từ cõi âm không thể dùng chút phước đức trần gian mà xóa bỏ.

Chỉ còn một ngày nữa là đến đỉnh triều cường con nước rằm. Khi nước dâng ngập đỉnh móng trụ số 3, khi hai chiếc guốc mộc tìm lại được nhau, oán khí tích tụ trăm năm sẽ bùng phát đến tột cùng. Lúc đó, lời nguyền truyền kiếp sẽ giáng thẳng xuống đầu ba đứa con trai ông, kéo giật linh hồn chúng về với đáy sông lạnh ngắt.

Gió đêm bất thần thổi thốc vào khoang lái, thổi bùng lên ngọn lửa le lói của cây đèn chai rồi dập tắt ngấm. Màn đêm đen đặc lập tức phủ trùm lấy khoang thuyền, nuốt chửng thân hình còng queo của người cha già đang ngồi gục giữa những trang nhật ký đẫm mùi tử khí.

Rầm!

Một tiếng đập mạnh vang lên từ phía mũi thuyền, nơi chiếc guốc mộc đang nằm trơ trọi. Giữa bóng tối dày đặc của sông Sài Gòn, một luồng hàn khí buốt giá từ ngoài mạn thuyền tràn vào, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và tóc ướt, cùng tiếng thì thầm gọi tên ba đứa con trai lại bắt đầu rền rĩ vang lên từ dưới đáy lườn ghe.

Chương khác

Xem thêm