Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 10: Trụ Cầu Số Ba
Mùi hoa lài úa quyện với mùi vải liệm ẩm mốc cứ bốc lên từng đợt nồng nặc từ mép nước, xộc thẳng vào khoang mũi làm ông Thìn lợm giọng. Chiếc ghe năm tấn…
Nội dung chương
Mùi hoa lài úa quyện với mùi vải liệm ẩm mốc cứ bốc lên từng đợt nồng nặc từ mép nước, xộc thẳng vào khoang mũi làm ông Thìn lợm giọng. Chiếc ghe năm tấn đứng chòng chành giữa hai luồng nước chảy xiết, mũi thuyền ghìm chặt về phía trụ cầu số 3 bằng sợi dây neo kỳ dị đã bị thắt thành bím tóc ba tao.
Dưới lườn thuyền, từng đợt sóng ngầm quất vào be ván những tiếng ục ục khô khốc. Cảm giác chao đảo này rất khác với những đêm triều cường thông thường. Mỗi khi nước sông Sài Gòn dâng mút bờ kè, sóng đánh vào mạn thuyền sẽ làm mũi ghe nâng lên hạ xuống đều đặn theo nhịp thở của dòng chảy. Nhưng lúc này, sống thuyền bên dưới đáy như bị một ngàm kẹp khổng lồ ngậm chặt lấy, đóng đinh cả khối gỗ nặng nề giữa khoảng không gian đen đặc.
Ông Thìn run rẩy lùi lại nửa bước, lưng áp vào tấm vách gỗ ngăn giữa mũi và khoang lái. Hai bàn chân trần của ông bấu chặt lấy từng thớ ván ướt nhẹp, lạnh buốt. Mấy mươi năm làm nghề câu lưới đêm và vớt xác trôi sông, ông từng đối mặt với đủ thứ quái gở. Ông từng kéo lên những cái xác trương phềnh mắc kẹt trong đám rễ bần, từng gỡ những thi thể bị dây cước câu vương quấn chặt bảy tám vòng quanh cổ, thậm chí từng gặp những người chết đuối đứng thẳng dưới đáy sông sâu cả chục sải tay. Dân sông nước gọi đó là xác đứng, hễ ai thiếu kinh nghiệm mà lặn xuống chạm vào thì sẽ bị kéo chìm luôn xuống bùn. Nhưng chưa bao giờ ông thấy một sợi cáp dù lõi thép lại tự mình tết thành bím tóc của đàn bà rồi kéo ngược cả con thuyền vào tâm xoáy ngầm như thế này.
Có khi nào chân vịt hay mỏ neo phụ bên dưới đã vướng phải một cái xác trôi dạt từ miệt trên cầu Lái Thiêu đổ về?
Ý nghĩ đó vụt qua làm sống lưng ông Thìn giật thót. Ở khúc sông này, thỉnh thoảng những cái xác chết trôi ngâm nước lâu ngày bị rác rưởi, bao tải hoặc đăng nẹp của dân đáy cá quấn chặt bên ngoài, khi chìm sát đáy sẽ tạo thành những khối nặng trình trịch cuốn theo luồng nước xoáy. Nếu quả thật mỏ neo móc trúng một người khuất mặt, việc ghe bị kéo lệch hướng là điều có thể giải thích được theo lối thông thường. Nghĩ đến đó, một chút can đảm sót lại của người làm nghề vớt xác giục giã ông phải nhìn tận mắt cho ra lẽ. Người làm nghề sông nước sợ nhất là mù mờ; thấy rõ cái chết trước mắt thì còn biết đường mà khấn vái hay tìm cách tháo gỡ, còn để sự nghi hoặc bủa vây thì nỗi kinh hoàng sẽ bóp nghẹt buồng phổi trước khi nước tràn vào khoang.
Ông Thìn xoay người, khom lưng chui vào trong khoang lái tù mù. Gió bấc lùa qua mấy khe vách lá dừa nước rách nát kêu xé rách màng tai. Ông mò mẫm dưới gầm sạp gỗ, tay chạm vào bình dầu hỏa tây bằng sắt tây gỉ sét, rồi rút ra cây đèn bão cũ kỹ treo lủng lẳng trên cây đinh mười phân đóng ở cột buồm phụ.
Cây đèn bão hiệu bướm này đã theo ông gần ba chục năm, vỏ sắt tráng men xanh nay tróc lở từng mảng lớn, lớp kính bọc ngoài bám đầy muội than đen sì. Ông Thìn quẹt một que diêm. Lửa bùng lên le lói, soi rõ khuôn mặt già nua chằng chịt nếp nhăn cùng hai hốc mắt sâu hoắm của ông lão chài lưới. Ông cẩn thận vặn bấc đèn nhô lên một đoạn nhỏ, đặt chụp kính xuống rồi xoay nhẹ núm đồng. Ánh sáng vàng vọt, ấm nóng tỏa ra xua bớt phần nào cảm giác ẩm mồ hôi lạnh đang dính nhớp nháp sau gáy.
Cầm chặt quai xách bằng dây thép của cây đèn bão, tay kia vớ lấy cây sào tre bịt mũi sắt chuyên dùng để đẩy rác trôi dạt, ông Thìn lầm lũi bước trở lại mũi thuyền.
Mưa phùn bên ngoài vẫn giăng mịt mùng trên mặt sông. Phía trên cao, mặt cầu Bình Triệu rền rĩ theo từng lượt xe tải nặng rầm rộ chạy qua, dội xuống mặt nước những chấn động đùng đục. Nhưng ở khoảng cách vài mét sát mặt sông, không gian lại đặc quánh một vẻ ngột ngạt đến khó thở. Chiếc guốc mộc cũ kỹ vẫn nằm trơ trọi trên mép be thuyền bên trái, dải vải xô liệm ướt sũng dính bệt vào thớ gỗ xám xịt, đuôi vải chúc thẳng xuống dòng nước đen.
Ông Thìn bước từng bước dè dặt ra mui. Chiếc ghe khẽ lắc nhẹ dưới sức nặng của ông lão. Càng tiến về phía cọc bích, tiếng nước rít bên mạn thuyền càng dội lên rõ rệt. Đó là âm thanh của dòng nước chảy xiết bị chia cắt bởi một vật cản lớn ngầm dưới đáy, tạo nên những tiếng rột rột rợn người.
Ông cúi thấp người, vươn cánh tay khẳng khiu đưa ngọn đèn bão chìa ra ngoài mạn thuyền.
Ngọn lửa dầu hỏa cháy bập bùng sau lớp kính mờ, hắt một quầng sáng tròn trịa màu vàng úa xuống mặt nước. Theo lẽ tự nhiên, khi ánh đèn rọi xuống bề mặt sông Sài Gòn vào mùa phù sa, quầng sáng sẽ phản chiếu lại màu nước đỏ quạch pha lẫn bọt bèo, hoặc ít nhất cũng lấp loáng trên những gợn sóng lượn lờ.
Nhưng ngay khi luồng sáng vàng vọt vừa chạm vào mặt nước quanh mũi ghe, cảnh tượng xảy ra làm tim ông Thìn thắt nghẹn lại.
Mặt nước hoàn toàn không hề phản chiếu ánh sáng.
Quầng sáng từ ngọn đèn bão vừa rớt xuống liền bị một họng xoáy đen ngòm bên dưới nuốt chửng gọn gàng. Vùng nước quanh mũi thuyền không có màu nâu đỏ của bùn, cũng chẳng có màu xanh xám của rong rêu. Nó đen đặc một màu đen quánh đặc quái dị, hun hút như một cái giếng không đáy vừa mở toang giữa lòng sông. Ánh sáng rọi đến đâu, màu đen ấy nuốt trọn đến đó, tuyệt nhiên không dội lại một tia sáng nào cho mắt người nhìn thấy đáy.
Ngọn bấc bên trong chiếc đèn bão bỗng chao đảo dữ dội, ngọn lửa vàng cam teo tóp lại, chuyển dần sang một sắc xanh lét leo lét. Nhiệt lượng tỏa ra từ bầu đèn sụt giảm đột ngột, phả vào mu bàn tay ông Thìn một luồng hơi lạnh buốt như thể ông đang cầm một tảng đá ngâm dưới hầm nước đá.
"Trời đất quỷ thần ơi..." Ông Thìn thầm thốt lên, cổ họng khô khốc.
Ông rướn người thêm một chút, cố nghiêng ngọn đèn thấp xuống mép nước để tìm kiếm sợi dây neo bện hình bím tóc. Lúc này, dòng nước xoáy ngay trước mũi ghe quay tròn với tốc độ kinh hoàng nhưng lại không hề phát ra tiếng gầm gào sủi bọt như những vùng nước xoáy thông thường. Nó xoay tít trong một sự câm lặng tuyệt đối, tạo thành một cái phễu sâu hoắm khoét sâu xuống lòng bùn.
Và ở chính giữa tâm phễu ấy, sợi dây cáp dù lõi thép đen sì đang bị hút thẳng tắp xuống dưới.
Nhưng sợi dây không còn trơ trọi một mình nữa.
Bám dọc theo thân sợi dây thừng bện, kéo dài từ mép nước xuống tận đáy sâu thăm thẳm là hàng ngàn sợi dây màu đen mỏng manh. Chúng không phải xơ dừa tưa ra, cũng chẳng phải sợi chỉ dù của mớ lưới cá. Chúng mềm mại, uốn lượn nhịp nhàng theo từng vòng xoáy của họng nước, quấn chặt lấy sợi cáp thành từng búi dày đặc.
Dưới ánh sáng xanh lét của cây đèn bão sắp tắt, ông Thìn nhìn thấy những sợi đen ấy trơn nhẫy, mượt mà và bóng loáng. Đó là tóc. Hàng vạn sợi tóc dài của đàn bà kết thành từng chùm lớn, ôm riết lấy sợi dây neo của ông, kéo ghì chiếc ghe về phía chân trụ cầu số 3 với một sức mạnh vô hình không thể cưỡng lại.
Mỗi khi con nước dâng lên một tấc, những chùm tóc ấy lại lay động, trườn bò trên mặt nước như bầy rắn nước đen ngòm đang rình mồi.
Bàn tay cầm đèn của ông Thìn run lẩy bẩy làm khung sắt va vào thành thuyền lách cách. Ông muốn giật ngọn đèn lại, muốn quay lưng chui tọt vào khoang rồi vớ lấy con dao chặt đứt phăng sợi dây ma quái kia đi, mặc cho ghe trôi dạt ra giữa sông lớn hay đâm vào mạn tàu xà lan. Nhưng đôi chân ông dường như đã bị dính chặt xuống sàn gỗ. Một sức ép vô hình đè nặng lên ngực khiến ông không sao thở nổi, hai mắt dại ra nhìn chằm chằm vào khoảng tối phía trước.
Chiếc ghe lại trôi tới thêm một đoạn ngắn. Mũi thuyền lúc này chỉ còn cách khối bê tông đồ sộ của trụ cầu số 3 chừng năm sáu sải tay.
Ánh đèn bão yếu ớt hắt lên bề mặt xám xịt của cây trụ cầu. Chân trụ sừng sững cắm sâu vào lòng sông, bốn bề bám đầy những lớp hàu sắc nhọn, rác rưởi trôi sông dạt vào kết thành từng tảng dày cộm. Phần chân trụ nằm sát mép nước thường ngày vẫn phủ một lớp rêu xanh mướt, loại rêu nhớt trơn trượt của sông nước miền Tây bám vào bê tông sau nhiều năm tháng ngâm mình trong dòng chảy.
Ông Thìn nâng cao ngọn đèn bão, nheo mắt nhìn về phía lớp rêu bám quanh khối bê tông xám. Ông muốn dùng mắt thường để xác định xem chiếc ghe có nguy cơ va quẹt vỡ be thuyền hay không.
Nhưng khi tia sáng le lói vừa chạm tới bờ tường bê tông, cảnh tượng đập vào mắt khiến máu trong người ông Thìn đông cứng lại.
Lớp rêu xanh bám quanh thân trụ cầu số 3 không hề nằm yên.
Dưới làn nước dập dềnh của triều cường, lớp rêu xanh thẩm ấy bỗng nhiên tách rời ra từng sợi một. Chúng không rụng xuống hay trôi theo dòng nước xiết đang cuồn cuộn đổ về hạ lưu. Từng sợi, từng chùm rêu ngả dần từ màu xanh rêu sang màu đen kịt của tóc người, bập bềnh trồi sụt quanh chân trụ cầu.
Đó hoàn toàn là tóc.
Hàng ngàn, hàng vạn lọn tóc dài đen nhánh phủ kín từ trên mép nước xuống tận phần móng bê tông ngập sâu trong bùn lầy. Những lọn tóc ấy không bị dòng chảy cuốn đi, mà trôi dạt ngược dòng nước, xõa dài ra mặt sông như một tấm lưới đen khổng lồ đang giăng sẵn.
Từng chùm tóc bồng bềnh uốn lượn, tách ra rồi lại bện vào nhau theo từng nhịp thở của vùng nước xoáy. Trong làn sương đêm ẩm ướt và ánh sáng xanh xao của chiếc đèn bão, cảnh tượng ấy giống như có hàng chục, hàng trăm cái đầu đàn bà đang ẩn mình dưới chân trụ cầu, chỉ để lộ mái tóc dài chấm gót trôi nổi lờ đờ trên mặt nước để vẫy gọi con thuyền tiến lại gần.
Gió từ mặt sông bỗng ngưng bặt. Không khí trở nên đặc quánh, tanh tưởi đến lợm giọng. Mùi hoa lài thối rữa nồng nặc bốc lên ngùn ngụt từ chân trụ cầu, át hẳn mọi mùi bùn đất và dầu máy của đêm Sài Gòn.
Chiếc guốc mộc đặt trên mũi ghe bỗng nảy lên một tiếng cộc khô khốc.
Dải vải liệm trắng toát rũ xuống mép nước đột ngột dựng đứng lên, căng phồng trong không gian tĩnh mịch không một gợn gió, hướng thẳng về phía đám tóc đen đang bập bềnh quanh trụ bê tông.
Ngay phía dưới mũi thuyền, một lọn tóc dài đen nhánh từ từ nhô lên khỏi mặt nước đặc quánh. Nó trườn qua mép be gỗ ướt sũng, lướt êm ru không một tiếng động, vươn thẳng về phía chiếc lon sữa bò cắm ba chân nhang cháy dở.
Đầu ngọn tóc ướt sũng chạm nhẹ vào chân cây đèn bão ông Thìn đang cầm trên tay.
Một luồng khí lạnh buốt thấu xương truyền thẳng từ lớp sắt tây qua lòng bàn tay, chạy dọc lên cánh tay rồi xộc thẳng vào tim ông lão chài lưới. Quá kinh hãi, ông Thìn giật nảy người, buông lỏng bàn tay gầy guộc.
Chiếc đèn bão tuột khỏi tay ông, rơi thẳng xuống mép nước.
Không có tiếng nổ vỡ của bóng kính, cũng không có tiếng xèo xèo của lửa dầu gặp nước. Ngay khoảnh khắc chạm vào mặt sông, chiếc đèn bão bọc kính mờ lập tức bị cái phễu nước đen ngòm nuốt chửng vào trong họng xoáy. Ánh lửa xanh lét lịm đi trong tích tắc dưới tầng nước sâu hoắm, không để lại lấy một tia sáng thừa thãi trên mặt sóng.
Bóng tối dày đặc lập tức sập xuống bao trùm toàn bộ con thuyền.
Giữa màn đêm đen kịt mịt mùng, tiếng nước quanh chân trụ cầu số 3 bỗng rền rĩ lớn hơn, nghe như tiếng hớp nước ùng ục của một cái miệng khổng lồ từ dưới đáy sông vừa nuốt trọn bữa ăn đêm. Chiếc ghe năm tấn khẽ rùng mình một cái thật mạnh, rồi chầm chậm bị kéo trượt thêm một thước nữa về phía chân trụ bê tông phủ đầy tóc đen.
Hai chân ông Thìn nhũn ra, ông ngã thụp xuống sàn ván mũi ghe. Bàn tay ông quờ quạng trong đêm tối, chạm phải dải vải liệm ướt rượt đang trườn qua sàn gỗ như một con lươn lạnh ngắt. Từ dưới đáy ván sàn ngay chỗ ông đang quỳ, một tiếng cào nhẹ bắt đầu vang lên, ken két, đều đặn và sắc lẹm, tựa như có những chiếc móng tay dài đang lần mò tìm khe hở để cạy từng thớ gỗ bước vào bên trong khoang.