Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 8: Tiếng Cộc Cộc Trong Khoang
Đồng hồ con gà trên vách mui ghe điểm đúng mười một giờ đêm, con nước triều cường tháng Mười bắt đầu dâng mút bờ. Nước từ mạn sông Sài Gòn phía Thủ Đức…
Nội dung chương
Đồng hồ con gà trên vách mui ghe điểm đúng mười một giờ đêm, con nước triều cường tháng Mười bắt đầu dâng mút bờ.
Nước từ mạn sông Sài Gòn phía Thủ Đức cuồn cuộn đổ dồn về khúc eo Bình Triệu, đặc quánh một màu đen nhờ nhợ như mực tàu pha loãng. Sóng ngầm dưới đáy sâu đội ngược lên, quất từng đợt ràn rạt vào hai bên be thuyền khiến toàn bộ kết cấu gỗ kiền kiền già cỗi rên xiết kẽo kẹt. Nước dâng nhanh đến mức những cụm lục bình ken đặc ngoài sông chẳng kịp trôi xuôi, cứ thế chồm lên nhau, dồn ứ lại thành từng mảng lớn dập dềnh quanh mạn thuyền, mang theo mùi bùn non ngai ngái cùng mùi tanh lợm giọng của xác cá chết sình trôi dạt từ các nhánh rạch đổ ra.
Lê Văn Thìn ngồi thu lu ở góc mui ghe, hai đầu gối kéo sát tận cằm. Gió ngoài sông lùa qua khe hở của tấm vách gỗ thổi vào buốt rát, nhưng mồ hôi trên trán ông lão lại tuôn ra ròng ròng, bết dính những sợi tóc bạc lơ thơ vào thái dương.
Cửa khoang trước và khoang sau đều đã được ông dùng những thanh gỗ sao dày hai tấc cài chốt chặt chẽ. Bên ngoài then cài, ông còn cẩn thận lấy dây kẽm xoắn thêm ba bốn vòng, buộc ghì vào vòng khuyên sắt chôn sâu trong sống thuyền. Toàn bộ khoang mui lúc này biến thành một chiếc hộp gỗ kín bưng, ngột ngạt và nồng nặc mùi dầu hỏa hôi hắc phát ra từ cây đèn bão đặt ngay giữa sàn.
Ánh lửa vàng vọt của ngọn đèn bão được vặn nhỏ hết cỡ, chỉ to bằng hạt bắp, run rẩy chao đảo theo từng nhịp lắc lư của con thuyền.
Ông Thìn run rẩy ôm chặt lấy hai bắp chân gầy guộc. Đôi bàn tay của người cả đời bám sông bám lưới chai sần như vỏ cây tràm, lúc này lại co quắp, không sao giữ cho khỏi run rẩy. Lồng ngực ông nhói buốt từng cơn theo từng nhịp thở gấp gáp. Cứ mỗi lần con sóng lớn ngoài sông ập vào mạn thuyền tạo nên tiếng vỗ "oạp, oạp" trầm đục, trái tim già nua của ông lại thắt nghẹn lại.
Cảnh tượng chiếc guốc mộc quấn vải liệm tự xoay mũi novề phía trụ cầu số 3 hồi rạng sáng vẫn in hằn trong mắt ông. Dải khói nhang trầm bị luồng ám khí kéo bẹt xuống mặt nước, dắt lối thẳng tắp về miệng xoáy ngầm kia chính là một lời triệu gọi rõ ràng nhất.
Người dưới đáy sông đã nhắm vào chiếc ghe này.
Mấy mươi năm làm nghề vớt xác, ông Thìn từng chứng kiến không ít chuyện quái gở xảy ra trên đoạn sông từ cầu Bình Lợi cũ xuôi về cầu Bình Triệu. Có những cái xác chết trôi trôi dạt hàng chục cây số nhưng hễ đi qua trụ cầu số 3 là lập tức chìm nghỉm, dẫu cho thợ lặn có chuyên nghiệp đến mấy cũng chẳng thể nào tìm thấy xác đáy sông sâu hoắm đầy đá tảng và sắt thép công trình sót lại từ thời Pháp. Người già trong xóm chài đồn rằng dưới chân trụ cầu đó có một cái hang ngầm ăn thông ra giữa dòng xoáy, bên trong giam giữ biết bao nhiêu linh hồn u khuất của những kẻ thác oan.
Đến đời ông, chính tay ông đã vớt hàng chục sinh mạng xấu số mắc kẹt quanh chân cầu. Nhưng chưa bao giờ ông cảm thấy cái lạnh thấu xương đang bóp nghẹt lấy cổ họng mình như đêm nay.
"Cộc."
Một âm thanh khô khốc bất thần vang lên, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt bên trong khoang mui.
Toàn thân ông Thìn giật bắn, sống lưng cứng đờ. Ông nín thở, hai mắt trợn tròn nhìn trừng trừng vào ngọn lửa đèn bão le lói.
Chung quanh chỉ có tiếng nước triều cuồn cuộn chảy xiết dưới lườn thuyền và tiếng gió rít rin rít qua những khe ván gỗ. Tiếng xe máy chạy muộn trên mặt cầu Bình Triệu bên trên thỉnh thoảng dội xuống sàn một chuỗi rung động trầm đục rồi tắt lịm.
Ông Thìn thở hắt ra một hơi dài, tự nhủ chắc do một khúc gỗ mục hay quả dừa nước trôi sông va quẹt vào mạn thuyền. Ở khúc sông này vào mùa triều cường, đủ thứ rác rưởi từ thượng nguồn trôi về, việc va đập vào be ghe là chuyện thường tình.
"Cộc... Cộc..."
Tiếng động lại vang lên. Lần này rõ ràng hơn, dứt khoát hơn.
Nó không phát ra từ bên ngoài mạn thuyền nơi sóng nước đang vỗ bì bõm. Âm thanh ấy vang lên từ ngay dưới đáy khoang ghe, ngay bên dưới tấm chiếu manh rách nát mà ông Thìn đang ngồi bó gối.
Đó là tiếng gỗ gõ vào gỗ.
Một thứ âm thanh đanh gọn, nặng trịch và lạnh lẽo, tựa như có ai đó đang cầm một chiếc guốc mộc nện từng nhát gót sắc nhọn vào mặt ván lót sàn.
Tóc gáy ông Thìn dựng ngược đứng tròng. Dưới tấm ván lót sàn này chính là khoang đáy thuyền, nơi ông chỉ để vài đoạn dây thừng cũ và hai cục đá chì dùng để dằn lườn. Khoảng cách từ tấm ván lót sàn xuống đáy thuyền chưa đầy ba tấc, chứa đầy nước dằn đen ngòm và cặn dầu máy đặc quánh. Một khoảng không gian chật hẹp, ngập ngụa chất lỏng hôi hám như thế, làm sao có thể phát ra tiếng nện gỗ khô khốc nhường này?
"Cộc... Cộc... Cộc..."
Tiếng gõ bắt đầu dời đổi vị trí.
Nó di chuyển từ góc khoang máy phía đuôi thuyền, chầm chậm men theo sống thuyền ở giữa, gõ từng nhịp đều đặn tiến dần về phía chỗ ông Thìn đang ngồi co ro. Mỗi một tiếng "cộc" vang lên, tấm ván gỗ dưới lưng ông lại run rẩy một cái, truyền thẳng luồng khí lạnh buốt xộc lên tận đỉnh đầu.
Nhịp gõ không hề vội vã. Nó rề rà, chậm rãi, hệt như bước chân của một người phụ nữ đang xỏ đôi guốc mộc nặng trịch, lững thững bước đi lộn ngược bên dưới lườn thuyền, từng bước từng bước giẫm ngược lên sàn gỗ.
Ông Thìn run rẩy rút phắt chân lên, ép sát người vào vách mui ghe. Hai hàm răng ông va vào nhau cầm cập phát ra tiếng lập cập khô khốc giữa đêm vắng.
Từ các khe hở giữa hai tấm ván lót sàn, một mùi hương kỳ quái bắt đầu xộc thẳng vào khoang mũi ông Thìn. Chẳng phải mùi dầu máy khét lẹt, cũng chẳng phải mùi sình lầy sông nước quen thuộc. Đó là mùi bùn non ngâm lâu ngày dưới đáy sông sâu hòa quyện với mùi vải liệm mốc meo, tanh tưởi và lạnh ngắt như hơi thở của người vừa moi từ dưới huyệt mộ lên.
Ngọn lửa đèn bão bỗng chốc ngả sang màu xanh lét ma quái. Bấc đèn nổ tanh tách, ánh sáng chập chờn chiếu lên vách ván những hình thù quái dị đang co giật theo từng nhịp nước.
"Cộc... Cộc... Cộc..."
Tiếng gõ dừng lại. Ngay đúng vị trí dưới chỗ ông Thìn vừa ngồi lúc nãy.
Không gian bên trong mui ghe rơi vào một khoảng im bặt chết chóc. Bên ngoài, dường như tiếng sóng vỗ và tiếng gió rít cũng đã bị một bức tường vô hình ngăn cách lại, chỉ còn lại sự tĩnh lặng tuyệt đối đến gai người.
Lê Văn Thìn nghe rõ mồn một tiếng máu chảy rần rật bên hai thái dương. Mắt ông dán chặt vào khe ván sàn gỗ ngay trước mũi chân.
Ở khe hở hẹp chưa đầy nửa đốt ngón tay ấy, những sợi tơ màu đen nhánh bắt đầu từ từ trồi lên.
Ban đầu chỉ là vài ba sợi mảnh như tơ nhện ướt, nhưng chỉ vài giây sau, hàng trăm sợi tóc đen ngòm, trơn nhớt như những con giun đất thi nhau luồn lách qua khe hẹp. Chúng trườn bò ngoằn ngoèo trên mặt ván gỗ mục, mang theo những giọt nước đen thui, tanh nồng mùi mỡ người rỉ ra tong tỏng.
Mớ tóc ấy rẽ ra làm hai hướng, bò dài trên mặt sàn như những chiếc rễ cây ma quái đang kiếm tìm con mồi.
"Mô Phật... Nam mô A Di Đà Phật..."
Ông Thìn nhắm nghiền hai mắt lại, miệng lẩm bẩm cầu khấn tán loạn, hai bàn tay siết chặt lấy chiếc vòng dâu tằm đã mòn vẹt trên cổ tay trái. Nhưng lời kinh kệ vừa phát ra khỏi miệng liền nghẹn ứ nơi cổ họng. Một luồng khí lạnh buốt như bàn tay người chết thọc thẳng qua khe vách, vuốt nhẹ qua gáy ông lão khiến toàn thân ông co giật dữ dội.
"Cộc!"
Một tiếng gõ chát chúa vang lên ngay sát bên tai phải của ông Thìn.
Tiếng nện mạnh đến mức làm rung chuyển cả mảng vách mui ghe, khiến chiếc đèn bão treo trên móc sắt rơi tõm xuống sàn, lăn lông lốc về phía đống tóc ướt át. Dầu hỏa rỉ ra lênh láng trên mặt ván, ngọn lửa hạt bắp lập lòe chực tắt, hắt lên vách gỗ chiếc bóng méo mó của ông Thìn cùng một bóng đen cao lêu nghêu, tóc xõa chấm lưng đang đứng sừng sững bên ngoài cửa mui.
Bóng đen ấy không nhúc nhích. Phần đầu của nó nghiêng hẳn sang một bên, tựa như chiếc cổ đã bị bẻ gãy từ rất lâu.
Nỗi sợ hãi tích tụ suốt mấy ngày đêm bỗng chốc chuyển thành một cơn cuồng nộ tuyệt vọng của kẻ bị dồn vào chân tường. Cả đời bám sông bám nước, đối mặt với bao nhiêu lần suýt chết chìm trong những cơn lũ dữ, bản năng sinh tồn trỗi dậy lấn át cả sự kinh hãi đang bóp nghẹt lồng ngực.
"Trời đất quỷ thần ơi! Mày muốn cái gì ở tao?"
Ông Thìn gầm lên một tiếng khản đặc, xé toang sự tĩnh mịch nghẹt thở.
Bàn tay chai sạn của ông quờ quạng vớ lấy cây dầm sắt gỉ sét dựng ở góc mui, vừa vặn chộp lấy chiếc then cài cửa. Không thể ngồi đây chờ chết trong cái hòm gỗ ngột ngạt này. Phải ra ngoài. Chỉ có khoảng không rộng lớn của dòng sông mới cho ông cơ hội vùng vẫy thoát thân.
"Rắc!"
Ông Thìn dùng hết bình sinh giật mạnh chốt gỗ. Thanh gỗ sao kêu lên một tiếng gãy giòn tan dưới sức giật điên cuồng của ông lão. Những vòng dây kẽm xoắn chặt bị bẻ cong, cọ xát vào tay ông rách toạc da thịt, máu tươi ứa ra chảy ròng ròng xuống cổ tay nhưng ông không hề cảm thấy đau đớn.
Cánh cửa mui bật tung ra hai bên.
Một luồng gió sông ẩm ướt, lạnh buốt xộc thẳng vào mặt khiến ông Thìn choáng váng, ngã ngửa ra sau. Ông vội vàng chống cây dầm sắt xuống sàn, trườn người bò nhanh ra phía khoang trước mũi ghe.
Mưa phùn bắt đầu lất phất rơi trên khúc sông Sài Gòn.
Không khí bên ngoài lạnh ngắt, sương mù từ mặt nước bốc lên bảng lảng, trắng đục như một tấm màn liệm khổng lồ trùm kín cả đoạn sông. Ánh đèn đường vàng vọt trên cầu Bình Triệu chiếu xuống mặt nước mờ mờ ảo ảo, chẳng soi rọi nổi đáy sông đang sủi tăm sùng sục.
Chiếc guốc mộc quấn dải vải liệm vẫn nằm im lìm trên mép be thuyền phía mũi.
Mũi guốc vẫn chỉ thẳng tắp về phía trụ cầu số 3 như một mũi tên rùng rợn. Trên mặt gỗ mốc thếch dính đầy những vệt bùn xám ngoét, dải vải liệm ướt rượt rũ xuống mạn thuyền, đung đưa theo từng cơn gió giật.
Ông Thìn run rẩy cầm chắc cây dầm sắt trong tay, hơi thở hổn hển như người vừa chạy thục mạng qua một cánh đồng hoang. Ông nhìn quanh mũi ghe, cố tìm kiếm bóng hình quái dị vừa in trên vách mui lúc nãy.
Chẳng có ai cả.
Mũi ghe trống trơn, chỉ có chiếc lon sữa bò đựng ba chân nhang cháy dở đã bị nước mưa dập tắt từ bao giờ, tro tàn nhão nhoét bết chặt vào miệng lon.
"Chỉ là ảo giác... Chắc chắn do mình già cả lẩm cẩm, thần hồn nát thần tính..." Ông Thìn lẩm bẩm trấn an bản thân, đưa tay áo quệt mồ hôi đang hòa lẫn nước mưa trên mặt.
Nhưng rồi, một chi tiết bất thường đập vào mắt khiến tim ông lão như ngừng đập.
Mũi ghe của ông không hề đứng yên.
Theo thói quen nghề chài lưới hàng chục năm qua, mỗi khi neo đậu qua đêm ở vùng nước xoáy chân cầu Bình Triệu, ông Thìn luôn dùng loại dây neo bện bằng cáp dù to bằng cổ tay, bên trong có lõi cáp ngầm bằng thép chịu lực. Đầu dây neo được cột chặt vào một mỏ neo sắt bốn chấu nặng hơn ba mươi ký, cắm sâu vào gò đất ngầm dưới đáy sông, còn phần gốc dây được buộc ba nút chết vào cọc bích bằng gỗ lim vững chãi ở mũi thuyền. Với độ bám chắc chắn như thế, dẫu cho nước triều cường có cuồn cuộn dâng cao mút bờ thì chiếc ghe tải trọng năm tấn của ông cũng chỉ có thể lắc lư tại chỗ chứ không bao giờ xê dịch nửa thước.
Vậy mà lúc này, chiếc cọc bích ở mũi thuyền trống trơn.
Đoạn dây neo bện cáp ngầm chịu lực hàng tấn đã biến mất.
Ông Thìn kinh hoàng nhoài người tới mép mũi ghe, nhìn xuống chỗ mối buộc dây neo.
Đoạn dây cáp dù dày cộp đã bị đứt ngang. Vết đứt nhẵn thín, sắc lẹm, ngọt xáng tự bao giờ, tựa như có ai đó vừa dùng một chiếc dao cạo bén ngót xén ngang qua sợi cáp thép chỉ bằng một nhát cắt nhẹ tênh. Những sợi thép nhỏ li ti bên trong lõi tưa ra đều tăm tắp, lấp lánh lạnh lẽo dưới ánh đèn mờ mờ từ trên cầu hắt xuống.
Một vết cắt hoàn hảo đến mức rợn người, điều mà không một hòn đá ngầm hay bất kỳ lưỡi chân vịt nào dưới sông có thể tạo ra được.
"Đứt neo rồi..." Giọng ông Thìn nghẹn lại trong cổ họng, đôi mắt mờ đục dại đi.
Mất neo giữa dòng sông Sài Gòn vào lúc nửa đêm triều cường dâng cao chính là bản án tử hình đối với bất kỳ kẻ chèo ghe nào. Đáng lẽ ra, khi mất neo, chiếc ghe nan nhẹ bẫng phải bị dòng nước triều hung hãn cuốn phăng đi xuôi về phía hạ lưu, trôi dạt về phía bán đảo Thanh Đa hay dạt vào những bãi sình lầy ven sông.
Nhưng chiếc ghe của ông Thìn lại không hề trôi theo chiều nước.
Con thuyền không người lái, không nổ máy, không một mái chèo chống đỡ, đang chầm chậm tự mình rẽ sóng.
Mũi ghe lướt đi êm ru trên mặt nước đen kịt, xé toang từng mảng lục bình ken đặc xung quanh. Nó lướt ngược dòng một cách kỳ dị, đi ngược lại hoàn toàn quy luật của con nước triều đang cuồn cuộn đổ dồn về hướng ngược lại. Hai bên mạn thuyền, nước sông rẽ ra thành hai vệt sóng trắng xóa sủi bọt tanh nồng, tựa như có một sức kéo khổng lồ vô hình từ đáy sâu đang lôi tuột con thuyền đi về phía trước.
Hướng đi của mũi ghe nhắm thẳng tắp vào vùng xoáy ngầm đen ngòm nơi chân trụ cầu số 3.
Dưới làn mưa phùn giăng kín mặt sông, trụ cầu bê tông sừng sững hiện ra như một tượng đài hắc ám cắm sâu vào lòng đất. Khoảng cách giữa mũi thuyền và khối bê tông xám xịt phủ đầy rêu phong đang rút ngắn lại từng giây, từng tấc một. Vòng xoáy nước ngầm quanh chân trụ bắt đầu gầm rú lên những tiếng rền rĩ ghê rợn, cuốn rác rưởi và bọt bèo xoay tròn tít mù trước khi nuốt chửng tất cả vào họng nước sâu hoắm.
Chiếc guốc mộc trên be thuyền bỗng rung lên bần bật, dải vải liệm bay phần phật trong gió đêm, rít lên từng hồi ma quái.
Ông Thìn bàng hoàng nhìn mũi ghe đang lao thẳng vào miệng xoáy tử thần. Cả cơ thể ông lão run lên bần bật, cây dầm sắt trên tay rơi choảng xuống sàn ván gỗ, trượt dài rồi trôi tuột qua mép thuyền, chìm nghỉm vào dòng nước đen ngòm thăm thẳm.