Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 3: Chiếc Guốc Quấn Vải Liệm

Mùi bùn non tanh tưởi sặc lên mũi làm Lê Văn Thìn bật ho khù khụ, từng cơn co thắt nơi cuống họng khiến cả lồng ngực gầy guộc của ông đau nhức như có…

Nội dung chương

Mùi bùn non tanh tưởi sặc lên mũi làm Lê Văn Thìn bật ho khù khụ, từng cơn co thắt nơi cuống họng khiến cả lồng ngực gầy guộc của ông đau nhức như có người lấy đá đè lên.

Nước sông Sài Gòn tháng mười lạnh ngắt, ngấm qua từng thớ vải chiếc áo bà ba cũ rách, dán chặt vào da thịt già nua đang run lên bần bật. Ông nằm dài trên sàn ván khoang giữa, hai mắt trừng trừng nhìn lên khoảng không tối tăm mịt mùng. Phía trên đầu ông, mặt dưới của cây cầu Bình Triệu đồ sộ đè nặng xuống lòng sông một cái bóng đen kịt, thỉnh thoảng lại rung rinh nhè nhẹ mỗi khi có một chuyến xe tải chở hàng đêm ầm ầm lăn bánh qua mặt cầu bê tông.

Chiếc ghe tam bản trôi dạt bồng bềnh, theo dòng nước triều rút từ từ dạt xa khỏi chân trụ cầu số 3. Dòng xoáy ngầm hung hãn quanh bệ móng cọc nhả dần lực hút, để lại chiếc ghe cô độc quay tròn chầm chậm giữa khoảng sông mênh mông, mờ mịt hơi sương.

Ông Thìn run rẩy chống khuỷu tay xuống sàn gỗ trơn nhẫy, gắng gượng nhấc thân hình rã rời ngồi dậy. Toàn bộ khớp xương trên người ông kêu rắc rắc sau cú giằng co sinh tử dưới đáy nước. Cổ tay phải của ông đau buốt tận tủy, những vết hằn tím đen do các sợi tóc siết chặt vẫn còn rỉ ra từng giọt máu đỏ sẫm, bị nước sông rửa trôi thành những vệt nhờ nhờ loang lổ trên da.

Ông không nhìn vết thương của mình. Ánh mắt đùng đục của ông lão dán chặt vào vật thể vừa buông rơi bên cạnh be thuyền.

Khối vật chất ấy nằm im lìm trên ván gỗ, to cỡ bắp chân người lớn, bết đặc bùn đen và rêu nhớt đáy sông. Mớ tóc dài đen nhánh quấn quanh nó dày đặc đến mức trông chẳng khác nào một cái đầu người bị cắt lìa, từng lọn tóc ướt sũng xõa dài ra mặt sàn, run rẩy theo từng nhịp chao đảo của con nước dưới lườn ghe.

Chiếc đèn pin bình ắc-quy chập chờn sau cú va đập lúc nãy, ánh sáng vàng vọt cứ chớp tắt liên hồi rồi lịm dần đi.

Trong khoang thuyền tối om, tiếng nước vỗ bì bõm vào mạn gỗ nghe rợn ngợp. Ông Thìn quờ quạng tay vào hộc tủ nhỏ đóng sát vách mui ghe, mò mẫm lấy ra chiếc đèn bão bằng sắt tây đã hoen gỉ cùng một bao diêm quấn trong bọc nilon kín nước. Bàn tay thô ráp của ông quẹt ba lần mới bật lên được một đốm lửa. Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi rõ khuôn mặt hốc hác, nhăn nheo cùng đôi mắt sâu hoắm của người đàn ông cả đời gắn chặt số phận mình với đoạn sông tử thần này.

Ông Thìn chụp bầu kính thủy tinh lại, vặn tim đèn cho ngọn lửa cháy đượm. Ánh lửa màu vàng cam ấm áp lập tức xua bớt cái lạnh lẽo thấu xương đang bủa vây quanh mui thuyền.

Đặt cây đèn bão xuống cạnh chân, ông Thìn với tay cầm lấy con dao chặt lưới bén ngót găm ở be thuyền. Lưỡi thép sáng loáng phản chiếu ánh lửa lập lòe. Ông hít sâu một hơi khét lẹt mùi dầu máy, tiến lại gần khối tóc đen đang rỉ nước tong tỏng xuống kẽ sàn.

"Để coi mày là cái giống gì mà suýt dìm chết tao dưới đó..."

Giọng ông Thìn khàn đặc, đứt quãng như tiếng hai thanh tre khô cọ vào nhau giữa đêm vắng.

Lưỡi dao sắc ngọt lướt xuống, nhẹ nhàng rạch một đường dài dọc theo mớ tóc bện chặt. Từng thớ tóc đen nhánh phát ra những tiếng đứt "phựt, phựt" giòn tan. Lạ lùng thay, khi lưỡi thép vừa chạm vào, những sợi tóc ấy co giật nhẹ một cái rồi từ từ nhả vòng siết ra, mềm nhũn ra như xác đỉa gặp vôi. Một mùi hôi thối nồng nặc bốc lên, thứ mùi lưu cữu của đáy bùn tù đọng lâu năm pha lẫn mùi rữa nát của da thịt người chết đuối.

Ông Thìn dùng đầu mũi dao gạt bỏ từng mảng tóc nhớp nháp sang một bên. Bùn non đen kịt chảy tràn ra mặt ván.

Dưới lớp tóc rối bời ấy dần lộ ra một khối gỗ màu nâu sẫm, dài chừng hơn một gang tay. Đó là một chiếc guốc mộc xưa, loại guốc gọt bằng gỗ mít hoặc gỗ xoan đào mà phụ nữ Nam Bộ nhiều thập kỷ trước hay dùng. Mũi guốc uốn lượn thon nhỏ, phần gót được đẽo cao chừng ba lóng tay, tròn trịa và thanh thoát.

Thế nhưng, chiếc guốc đã ngâm mình dưới đáy nước quá lâu. Mép gỗ quanh gót đã mục rỗng, sứt mẻ nham nhở bởi sự gặm nhấm của ốc bùn và dòng chảy bào mòn qua năm tháng. Toàn bộ thân gỗ ngậm no nước sông, đen thẫm lại như một khúc gỗ mun chìm sâu dưới đáy đầm lầy.

Điều làm cho hơi thở của ông Thìn nghẹn lại nơi cổ họng chính là thứ đang buộc chặt lấy thân chiếc guốc ấy.

Quanh eo guốc và phần quai gãy nát, người ta không dùng đinh tán hay dây da thông thường để sửa chữa. Quấn chặt lấy khối gỗ là một dải vải xô dệt thô sợi to, bề ngang chừng hai ngón tay, được thắt nút nhiều vòng vô cùng cẩn thận. Dải vải đã ố vàng xỉn màu vì ngập ngụa trong bùn sét, các sợi chỉ mép đã tưa ra thành từng chùm tua rua, nhưng chất vải vẫn còn dai kỳ lạ.

Là người làm nghề vớt xác trên khúc sông Bình Triệu này ngót nghét bốn chục năm, ông Thìn chỉ cần liếc mắt một cái là nhận ra ngay.

Đó là dải vải xô dùng để buộc chân người chết trong lúc khâm liệm.

Theo tục lệ ma chay xưa của người bình dân, khi người mất nằm xuống, người nhà phải dùng một dải vải xô trắng buộc chặt hai ngón chân cái của người đã khuất lại với nhau trước khi đưa vào áo quan, nhằm giữ cho thân xác ngay ngắn, không bị co giật hay biến dạng. Dải vải xô này, từ đường dệt sợi thô ráp cho đến nút thắt số tám chặt chẽ ép sát vào eo guốc, đích thực là đồ của người nằm dưới mồ sâu.

Kỳ dị hơn cả, những sợi tóc đen dài óng ả kia hoàn toàn không phải trôi giạt tình cờ rồi quấn vào. Từng chân tóc mảnh mai như cội rễ của loài cỏ dại dưới đáy sông, đâm xuyên qua các mắt lưới của dải vải xô, bám rễ sâu vào từng thớ gỗ mục nát của chiếc guốc, ken dày thành từng búi chằng chịt không thể tách rời.

Chiếc guốc mộc của người chết. Vật bất tường từ đáy sông sâu.

Cả người ông Thìn lạnh toát đi, một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng dội thẳng lên đỉnh đầu. Bàn tay đang cầm dao của ông run lên nhè nhẹ, mũi dao bằng thép gõ cộc cộc xuống mặt ván khoang ghe.

Dân chài lưới và người vớt xác trên dòng sông Sài Gòn từ xưa đến nay đều truyền nhau những lề luật bất thành văn, những điều cấm kỵ được đánh đổi bằng mạng sống của biết bao thế hệ người chèo chống trên con nước. Nước sông sâu hiểm trở, người sống mưu sinh trên mặt nước chỉ là mượn đường của cõi âm. Dưới đáy nước kia là nơi trú ngụ của những linh hồn chết oan, chết đuối, những xác người trôi dạt từ thượng nguồn về không ai hương khói.

Lề luật của nghề đã dạy rất rõ: khi cào lưới hay mò đáy, hễ chạm phải xác người thì phải trân trọng vớt lên, đưa vào bờ làm phúc tích đức, báo chính quyền tìm thân nhân; nhưng nếu lưỡi câu hay chân vịt vướng phải đồ vật riêng tư của người khuất mặt - manh áo, mảnh quần, lược gãy, hay một chiếc guốc mộc quấn vải liệm như thế này - thì tuyệt đối không được đưa lên ghe.

Những thứ đồ vật ấy ngậm đầy oán khí và sự quyến luyến của vong linh trần gian. Chúng chìm dưới đáy sông, neo chặt linh hồn người chết vào vùng nước lạnh. Gặp phải những thứ đó, người đi sông phải lập tức dùng dao cắt bỏ mối vướng, khấn vái ba lời tạ lỗi rồi xô chúng trở lại dòng nước xiết để chúng trôi xuôi về biển cả, tuyệt đối không được giữ lại trên sàn ván dù chỉ nửa tấc.

Rước đồ người chết lên mạn thuyền, chính là mở cửa rước ma về nhà.

Ký ức của ông lão quay cuồng. Ông nhớ lại lời dặn của cha mình - một người cả đời cắm sào vớt xác ở bến đò Bình Quới xưa: "Thìn à, sông sâu có quỷ, nước xiết có ma. Đồ vật dính vải liệm dưới đáy sông là cái cọc buộc hồn của người ta. Mày mà vớt lên thuyền, người ta thấy hơi ấm dương gian sẽ bám theo mày đòi xác, đòi mạng, không ai cứu nổi đâu con."

Ông Thìn siết chặt cán dao. Gân xanh trên mu bàn tay ông gồ lên cuồn cuộn.

Đúng lề luật, bây giờ ông phải dùng lưỡi dao này phạt đứt dải vải xô, hất phăng chiếc guốc mộc cùng búi tóc quái ác kia trở lại lòng sông Sài Gòn đen kịt. Nước triều đang rút mạnh, dòng xoáy chân cầu sẽ lập tức cuốn phăng thứ quái đản này ra xa, trả lại sự bình yên cho chiếc ghe nhỏ của ông.

Ông giơ cao con dao, mũi thép chĩa thẳng vào dải vải ố vàng.

Nhưng khi mũi dao chỉ còn cách thân guốc một tấc, bàn tay thô ráp của ông lão bỗng khựng lại giữa không trung. Lưỡi dao cứng đờ, không thể chém xuống.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão, chiếc guốc mộc nằm cô quạnh trên mặt sàn ván rỉ nước. Nó nhỏ bé đến thảm thương. Chiếc guốc của một người con gái, thon thả và nhỏ nhắn, ước chừng chỉ vừa vặn với bàn chân của một thiếu nữ mười tám đôi mươi. Dải vải xô buộc chặt quanh eo gỗ mục như một sợi dây oan nghiệt trói buộc số kiếp người đó lại dưới chân trụ cầu tối tăm suốt bao nhiêu năm ròng rã.

Một nỗi xót xa kỳ lạ bất thần dâng lên trong ngực ông Thìn, đè bẹp cả nỗi sợ hãi đang bủa vây.

Ông Thìn nhớ lại cái cảm giác kinh hoàng khi bản thân bị dìm dưới đáy nước lúc nãy. Sự lạnh lẽo đến tận xương tủy, bóng tối đặc quánh không một tia sáng, bùn non nhét đầy họng và cảm giác ngạt thở xé toạc buồng phổi. Ông chỉ ở dưới đó vài chục giây mà đã thấy cái chết đáng sợ đến nhường nào.

Vậy mà chủ nhân của chiếc guốc này đã nằm lại nơi đáy sông sâu hun hút kia bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm?

Người con gái ấy là ai? Tại sao lại chết dưới chân cầu Bình Triệu? Có phải cô ta cũng từng chới với giữa dòng nước xoáy ngầm đen kịt, hai tay cào cấu trong vô vọng trước khi bị bùn cát vùi lấp, mang theo chiếc guốc buộc dải vải liệm này chìm sâu vào lòng đất lạnh? Không một nén nhang, không một manh chiếu rách đắp điếm tấm thân, chỉ có rong rêu và rác rưởi quấn quanh năm này qua tháng khác.

Nghĩ đến đó, lòng ông lão chùng xuống. Bản thân ông sống trên cõi đời này đến tuổi gần đất xa trời cũng chẳng khác gì một bóng ma đơn độc trôi nổi trên mặt nước. Vợ ông mất sớm vì bạo bệnh trên chính chiếc ghe này, bỏ lại ông gà trống nuôi ba đứa con trai khôn lớn. Rồi đàn con lần lượt tha phương cầu thực, đi làm công nhân ở những khu công nghiệp xa xôi tận Bình Dương, Đồng Nai, quanh năm suốt tháng chẳng buồn ghé mắt về thăm lại khúc sông quê hương.

Đêm nào ông cũng một thân một mình thả lưới câu cá dưới gầm cầu rền rĩ tiếng xe, nói chuyện với cái bóng của chính mình in trên mặt nước. Sự cô độc của người sống trên ghe và sự cô độc của linh hồn dưới đáy sông, âu cũng đều cùng một vị mặn chát của nước mắt.

"Bỏ trôi sông bây giờ... tội nghiệp người ta quá..."

Ông Thìn lẩm bẩm một mình, giọng nghẹn lại. Cánh tay giơ dao chém từ từ hạ xuống.

Đúng lúc ông Thìn buông lỏng cảnh giác, một biến đổi kỳ lạ bắt đầu diễn ra ngay trước mắt ông lão.

Mặt ván khoang ghe ướt sũng bùn non bỗng dưng bốc lên làn khói mỏng manh lạnh buốt. Những giọt nước sông đen ngòm bám quanh chiếc guốc mộc từ từ ráo bớt, rút cạn vào các thớ vải xô tưa chỉ. Lớp bùn sét hôi tanh bám chặt trên thân guốc khô se lại với tốc độ dị thường, tựa như có một sức nóng vô hình từ bên trong lõi gỗ đang thiêu đốt lớp bùn nhớp nháp bên ngoài.

Mùi hôi thối nồng nặc của mỡ người rữa nát và bùn đáy sông bỗng nhiên nhạt dần đi trong gió đêm.

Thay vào đó, từ dải vải xô ố vàng bắt đầu tỏa ra một mùi hương khác lạ.

Ban đầu, nó chỉ thoang thoảng như sợi khói mảnh, lướt qua sống mũi của ông Thìn giữa những cơn gió lạnh lùa qua mui ghe. Nhưng chỉ vài hơi thở sau, mùi hương ấy bỗng trở nên nồng nàn, ngào ngạt một cách kỳ quái. Đó là mùi sáp hoa lài.

Một mùi hương hoa lài tinh khiết, thanh tao, đậm đặc chất sáp thơm chải tóc cổ truyền mà những phụ nữ Sài Gòn nề nếp xưa kia hay dùng. Thứ mùi hương của phấn son, của nhung lụa khuê phòng, hoàn toàn xa lạ với sự nhơ nhớp của đáy bùn triều cường. Nó ngọt ngào, dịu dàng nhưng lại mang theo một sự lạnh lẽo đến buốt da, át sạch hoàn toàn mùi dầu máy khét lẹt và mùi cá ươn trên mạn thuyền.

Mùi hoa lài quấn quýt lấy khoang thuyền nhỏ bé, đặc quánh đến mức ông Thìn ngỡ như có một người thiếu nữ vừa bước lên mũi ghe, đứng nép mình sau tấm mui tôn rách nát, mái tóc dài ướt rượt còn đượm mùi sáp thơm đang rũ rượi xõa xuống sàn ván.

Tim ông Thìn đập thình thịch từng nhịp nặng nề trong lồng ngực.

Ông trợn trừng hai mắt, nhìn chăm chú vào dải vải xô buộc chặt chiếc guốc mộc. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn bão, dải vải liệm ố vàng ấy bỗng rung rinh nhẹ một cái, dù ngọn gió đêm bên ngoài đã lặng hẳn từ lúc nào.

Chiếc guốc mộc nằm yên vị giữa khoang ghe, chiếc quai gãy chĩa thẳng về phía trước mũi thuyền, như một dấu chỉ định hướng bí ẩn giữa màn sương mù dày đặc đang cuộn trào trên mặt sông Bình Triệu.

Bàn tay chai sạn của ông Thìn buông lỏng hoàn toàn.

"Keng!"

Con dao chặt lưới rơi khỏi tay ông lão, lưỡi thép va đập vào sàn gỗ gõ lên một tiếng khô khốc, trượt dài về phía góc khoang tối tăm.

Ông Thìn ngồi bệt xuống ván, đôi mắt đờ đẫn không rời chiếc guốc mộc quấn vải liệm thêm một khắc nào nữa. Ông biết mình vừa làm một điều cấm kỵ của tổ nghề vớt xác, nhưng mùi sáp hoa lài lạnh ngắt kia như một thứ bùa mê tăm tối, giam chặt lấy tâm can ông lão già nua trong nỗi u uất khôn cùng của người nằm dưới đáy sông.

Chương khác

Xem thêm