Búi Tóc Dưới Trụ Cầu - Chương 25: Hừng Đông Trên Sông Sài Gòn

Khối nước đen kịt ép chặt hai bên màng nhĩ dần nới lỏng khi cơ thể ông Thìn dâng lên. Không còn sức nặng của chùm chì níu giữ, thân hình còm cõi của…

Nội dung chương

Khối nước đen kịt ép chặt hai bên màng nhĩ dần nới lỏng khi cơ thể ông Thìn dâng lên. Không còn sức nặng của chùm chì níu giữ, thân hình còm cõi của người thợ già bồng bềnh trôi qua những tầng nước buốt giá, hướng thẳng về luồng sáng nhờ nhờ đang phản chiếu trên cao. Phổi ông ran rát, cổ họng ngập tràn vị tanh nồng của bùn phù sa và rêu lạnh.

Bụp.

Đầu ông Thìn nhô lên khỏi mặt nước.

Lớp kính lặn nứt toác tụt xuống cằm. Miệng ông bật ra tiếng hít thở dồn dập, tham lam đón lấy từng luồng khí trời tươi mát của buổi sớm mai. Không khí tràn vào cuống họng buốt buốt rần rật, đốt cháy cơn ngạt thở đang bóp nghẹt lồng ngực. Ông há to miệng, ho sặc sụa, khạc ra từng búng đờm nhớt lẫn bọt nước mặn chát của dòng triều cường. Hai tay ông chới với đập vào mặt nước gợn sóng, thân thể nổi dập dềnh giữa dòng chảy êm ả.

Không còn rốn xoáy gầm gào. Không còn những sợi tóc đen trườn bò nơi mắt cá.

Xung quanh ông, dòng sông Sài Gòn lúc chuyển canh yên ả đến lạ lùng. Mặt nước phẳng lặng trôi xuôi, không còn cuộn tròn thành những hố sâu hút xác người như mấy mươi phút trước. Khối bê tông xám xịt của trụ cầu số 3 đứng sừng sững cách ông chừng năm sải tay, từng vệt rêu xanh bám trên thân trụ rủ xuống dòng nước ròng đang chầm chậm rút ra biển. Những mảng đá hộc quanh bệ móng ngập chìm trong tĩnh lặng, không một bóng lân tinh ma quái, không một tiếng cọc cạch rợn người vọng lên từ đáy sâu.

Món nợ truyền kiếp nơi lòng sông đã được hóa giải. Khúc xương bàn chân lạnh buốt kia cuối cùng đã tìm lại được chiếc guốc mộc định mệnh của đời mình, khép lại nỗi hờn oán mấy mươi năm nằm vùi dưới bùn lầy tăm tối.

Ông Thìn thả lỏng đôi vai, ngửa mặt nhìn lên khoảng trời rộng lớn trên đầu. Tầng mây mù đen đặc của đêm triều cường đã rách toang, để lộ ra những vệt sáng xám bạc mỏng mảnh ở phía đông. Gió sớm từ phía bán đảo Thanh Đa thổi qua mát rượi, luồn qua mái tóc ướt sũng và mơn man trên những vết cào xước rỉ máu nơi cổ ông. Nỗi đau thể xác vẫn còn đó, nhức nhối và buốt rát, nhưng tâm can ông nhẹ bẫng tựa như vừa trút bỏ được cả một ngọn núi đè nặng suốt nửa đời người.

Dưới ngực áo bà ba rách bươm, dải vải liệm trắng vẫn còn quấn lỏng lẻo quanh mạn sườn. Dải vải đã sờn rách, ngấm no bùn đất phù sa, đuôi vải dập dềnh theo từng nhịp sóng vỗ.

Bằng những ngón tay run rẩy vì lạnh, ông Thìn đưa tay nới lỏng nút thắt nơi thắt lưng. Dải vải liệm trắng từ từ tuột khỏi da thịt ông. Ông nâng dải vải lên khỏi mặt nước, ngắm nhìn nó lần cuối cùng dưới ánh sáng rạng đông nhờ nhờ. Vết máu đỏ quạch nơi ba đầu ngón tay ông dầm vào trước khi lặn xuống nay đã phai nhạt, hòa lẫn vào màu nâu của bùn sông.

- Đi đi con... - Giọng ông Thìn khàn đặc, thều thào qua đôi môi tím tái vì ngâm nước lạnh - Về nơi yên nghỉ đi, đừng vất vưởng chốn chân cầu này nữa. Bác Thìn trả nợ xong cho con rồi...

Ông buông tay.

Dải vải liệm trắng rớt xuống dòng nước ròng, chầm chậm dạt ra xa theo con nước xuôi về hạ lưu Nhà Bè. Nó lượn lờ trên mặt sóng dập dềnh, trắng nhờ nhợt giữa làn nước nâu đỏ phù sa, rồi từ từ chìm dần xuống lòng sâu, mất hút vào dòng chảy bao la của con sông mẹ. Không còn oán khí, không còn níu kéo, chỉ còn lại sự buông bỏ thanh thản của một kiếp người trầm luân.

Cách chỗ ông chừng ba thước, chiếc ghe lườn thân thuộc đang dập dềnh nổi trên mặt nước.

Sợi dây neo bằng xơ dừa cột vào mũi ghe đã đứt từ lúc nào, nhưng con thuyền không hề bị trôi dạt vào chân trụ cầu số 3 hay bị sóng ngầm nuốt chửng. Nó cứ bình thản trôi lững lờ bên cạnh ông, mạn thuyền gõ nhè nhẹ vào mặt sóng tạo nên những âm thanh lách cách quen tai.

Ông Thìn vươn đôi cánh tay mỏi nhừ, bơi vài sải ngắn áp sát vào mạn thuyền. Bàn tay chai sạn của ông bám chặt vào be gỗ dầu bóng nhẫy, dùng hết chút tàn lực còn sót lại đạp nước trèo lên.

Rầm!

Thân hình ướt sũng của ông Thìn đổ ụp xuống sàn gỗ sau lái. Ông nằm sóng soài, lồng ngực phập phồng hít từng ngụm khí trời. Nước trên người ông chảy ròng ròng xuống các kẽ ván, mang theo mùi bùn non ngai ngái. Cả đời làm nghề hạ bạc, quen mặt với tử thi trôi sông và những đêm trắng giữa dòng nước xiết, chưa bao giờ ông thấy sàn gỗ ghe lườn lại ấm áp và vững chãi đến nhường này.

Ông gắng gượng ngồi dậy, tựa lưng vào mép khoang lái. Chiếc ghe lườn lúc này nhẹ tênh một cách kỳ lạ. Suốt hơn một tháng qua, từ cái đêm định mệnh vớt phải búi tóc ma cùng chiếc guốc mộc, con thuyền này luôn nặng trĩu như thể chở theo một khối đá tảng vô hình. Mũi ghe lúc nào cũng chúi nhủi, nặng nề trĩu xuống mỗi khi triều cường dâng. Nhưng giờ đây, thân thuyền nổi bồng bềnh, mạn ghe nhô cao trên mặt nước, nhẹ nhàng lướt đi theo từng gợn sóng nhỏ.

Ông Thìn đưa mắt nhìn ra chung quanh.

Trên cầu Bình Triệu, những ngọn đèn cao áp màu vàng cam đã bắt đầu tắt dần. Tiếng xe cộ đầu ngày rền rĩ vọng lại từ trên nhịp cầu cao vút, tiếng còi xe tải chở hàng từ miền Đông về chợ đầu mối Thủ Đức bấm từng hồi dài đục ngầu trong sương sớm. Nhịp sống phố thị ồn ã đang cựa mình thức giấc, bỏ lại sau lưng một đêm kinh hoàng dưới đáy vực nước ngầm.

Gió sớm thổi mạnh hơn, đẩy mũi chiếc ghe lườn chầm chậm quay đi.

Không cần mái chèo, không cần tiếng nổ xình xịch của cái máy Cole già nua, mũi ghe lườn tự rẽ sóng hướng về phía bờ xóm chài bên Thủ Đức. Nó không còn tự động xoay tít mũi lao vào chân trụ số 3 như những đêm trước. Con thuyền rẽ từng vạt bèo tây trôi nổi, êm ả lướt đi trên mặt sông đỏ quạch phù sa, tựa hồ như có một bàn tay vô hình đang dìu dắt nó quay về với bến đỗ bình yên.

Bờ sông Bình Triệu hiện ra mờ ảo sau rèm sương sớm. Rặng bần ven sông đung đưa cành lá ướt đẫm sương đêm, những bông hoa bần tím nhạt rụng lấm tấm trên thảm cỏ ven bờ. Bến nước của xóm vớt xác hiện ra trước mắt ông với những cây cọc tràm cắm sâu vào bùn, nơi neo đậu của dăm ba chiếc thuyền câu nhỏ.

Nhưng bến sông sáng nay không hề vắng lặng như mọi ngày.

Trên bậc tam cấp xi măng phủ đầy rêu trơn tuột của bến nước, ba bóng người cao lớn đang đứng chôn chân trong làn sương mỏng.

Ông Thìn dụi mắt. Cơn mệt mỏi cùng làn nước lạnh làm tầm mắt ông nhòe đi, nhưng cái dáng đứng vai u thịt bắp, cái đầu hơi nghiêng nghiêng quen thuộc kia thì ông không thể nào nhìn lầm được.

Đó là thằng Tài, thằng Nghĩa và thằng Hiếu.

Ba đứa con trai của ông. Những đứa con bỏ xứ đi làm công nhân xa tít tắp tận Bình Dương, Đồng Nai, quanh năm suốt tháng chỉ về thăm ông vào dịp Tết hay những ngày giỗ mẹ. Lúc này, cả ba đứa đều mặc nguyên bộ đồ bảo hộ lao động còn dính bụi than xưởng sắt và vết dầu mỡ máy móc. Chiếc xe máy cà tàng của thằng Tài dựng nghiêng trên bờ lộ, ống xả vẫn còn bốc khói mỏng vì vừa chạy vượt đường dài thâu đêm suốt sáng.

Thằng Tài là đứa nhìn thấy chiếc ghe lườn đầu tiên. Nó đứng bật dậy khỏi gờ đá, hai tay vịn chặt vào cây cọc tràm, đôi mắt trừng lớn nhìn về phía lòng sông.

- Ba! Ba ơi!

Tiếng gọi thất thanh của thằng con cả xé toang màn sương sớm trên mặt nước. Tiếng gọi mang theo sự sợ hãi, hoảng loạn nhưng vỡ òa mừng rỡ khi nhận ra bóng hình còm cõi của cha mình đang ngồi nơi sàn ghe.

Thằng Nghĩa và thằng Hiếu lập tức lao xuống mép nước bùn lầy, không màng đến đôi ủng bảo hộ bị bùn non ngập lút mắt cá. Cả ba anh em đứng túm tụm nơi mép sông, vẫy tay rối rít, mặt đứa nào đứa nấy tái mét, hốc hác vì cả đêm không ngủ.

Mũi chiếc ghe lườn rẽ đám lục bình cuối cùng, trượt nhẹ một đường dài trên lớp bùn non rồi áp sát vào bậc tam cấp bến nước.

- Ba! Sao người ba ướt sũng vậy nè? Ba có làm sao không ba?

Thằng Tài nhào tới trước tiên, hai bàn tay thô ráp của gã thợ cơ khí nắm chặt lấy cánh tay gầy guộc lạnh ngắt của ông Thìn. Hơi ấm từ bàn tay thằng con trai truyền qua da thịt làm ông rùng mình một cái, xua tan đi phần nào cái lạnh buốt thấu xương của đáy sông ngầm.

Thằng Nghĩa và thằng Hiếu cũng xúm lại, đứa giữ be xuồng, đứa đỡ lấy hai bên nách ông Thìn dìu ông bước lên bờ. Nhìn thấy những vết cào rách da rớm máu quanh cổ và vết bầm tím đen sì nơi cổ tay cha mình, thằng Hiếu mếu máo, nước mắt trào ra nơi khóe mi đỏ hoe:

- Đêm qua tụi con ở dưới xưởng tự dưng ruột gan cồn cào như lửa đốt. Cả ba đứa đều mơ thấy mẹ về... Mẹ đứng ở đầu giường khóc, mẹ bảo ba đang gặp nạn ngoài chân cầu, kêu tụi con phải tức tốc chạy về bến sông ngay... Tụi con xin nghỉ ca ba, chạy xe một mạch từ Biên Hòa về tới đây... Về tới nhà thấy cửa mở toang, ghe không có ở bến... Tụi con tưởng... tưởng ba...

Thằng con út nghẹn ngào không nói hết câu, gục đầu vào vai ông Thìn mà nấc lên từng chặp. Thằng Nghĩa đứng bên cạnh, bàn tay siết chặt lấy bả vai run rẩy của cha, đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm ra mặt sông phẳng lặng.

Ông Thìn đứng trên nền đất cứng, đôi chân trần ngập trong bùn non phù sa. Đôi bàn chân già nua cả đời ngâm nước sông nay bám chặt vào mảnh đất quê hương, vững chãi và ấm áp lạ thường. Ông đưa bàn tay run rẩy xoa đầu từng đứa con trai, cảm nhận được hơi thở nóng hổi, máu thịt ruột rà mà ông đã dùng cả tính mạng để chở che dưới đáy vực sâu.

- Ba không sao... Ba về rồi... - Giọng ông Thìn nghẹn lại, từng giọt nước mắt già nua lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm trên gò má, rơi xuống mặt bùn ven sông - Tụi con về là tốt rồi... Về với ba là tốt rồi...

- Ba bỏ nghề đi ba. - Thằng Tài quỳ một gối xuống sàn bến nước, ngước nhìn cha mình bằng ánh mắt van nài - Tụi con đi làm có tiền rồi, tháng sau con tăng ca, thằng Nghĩa cũng lên thợ chính. Tụi con lo được cho ba. Ba đừng ra sông vớt xác nữa, đừng nửa đêm một mình ngoài chân cầu Bình Triệu nữa ba ơi...

Ông Thìn nhìn con trai, khẽ gật đầu một cái thật chậm.

Cả đời ông gắn bó với chiếc ghe lườn, với những xác người chết trôi, với những đêm triều cường đen kịt và những món nợ truyền kiếp của cõi âm. Nhưng sau đêm nay, món nợ ấy đã hết. Bến sông này, trụ cầu này đã trả lại sự bình yên cho ông và các con. Đã đến lúc ông cất mái chèo, xếp lại những tấm lưới giăng và buông bỏ kiếp nạn lênh đênh mặt nước.

- Ừ. Ba nghe tụi con. Ba nghỉ... Từ nay ba không xuống sông nữa.

Nghe cha nói vậy, thằng Hiếu quẹt nước mắt, toét miệng cười trong tiếng nấc nghẹn ngào. Thằng Tài và thằng Nghĩa thở phào nhẹ nhõm, cẩn thận đỡ ông Thìn bước từng bước chậm rãi lên bờ dốc, hướng về căn nhà lá nhỏ nép mình dưới bóng rặng dừa nước quen thuộc.

Bỗng nhiên, thằng Nghĩa quay đầu nhìn lại chiếc ghe lườn đang bập bềnh theo ngọn sóng mai.

- Kìa ba, chân vịt ghe của ba...

Ông Thìn khựng bước, quay người nhìn theo hướng tay thằng con thứ hai chỉ.

Mấy tuần trước, chân vịt của chiếc ghe luôn bị những sợi tóc đen nhánh quấn chặt như rễ si, dù ông có dùng dao rọc giấy hay lưỡi liềm cạo sạch bao nhiêu lần thì cứ đến lúc triều cường, tóc ma lại bám dính lấy từng cánh quạt bằng đồng.

Nhưng lúc này, dưới ánh ban mai đang dần rực rỡ, cánh quạt chân vịt bằng đồng rỉ sét nhô lên khỏi mặt nước hoàn toàn sạch bóng. Lớp tóc ma đen ngòm, trơn nhớt đã biến mất không còn một sợi.

Dưới chân vịt ghe chỉ còn mắc lại một nhánh lục bình tím ngát.

Nhánh lục bình tươi rói, những cánh hoa màu tím nhạt đọng sương mai rung rinh nhè nhẹ theo từng nhịp sóng vỗ vào mạn thuyền. Một nhành hoa sông nước mộc mạc, thanh khiết, như một lời chào vĩnh biệt sau cùng của người con gái dưới đáy sông sâu gửi lại cho người thợ già trước lúc ông rời xa mặt nước.

Phía chân trời đằng đông, mặt trời đỏ ối như một lòng đỏ trứng gà từ từ nhô lên khỏi rặng dừa nước bên kia bán đảo Thanh Đa.

Ánh bình minh rực rỡ tuôn tràn, xé tan hoàn toàn màn sương sớm đùng đục, dát một dải vàng óng ả lên khắp mặt dòng sông Sài Gòn mênh mông. Dòng nước ròng êm đềm cuốn theo những vạt phù sa đỏ tươi xuôi về phía biển, chở theo mọi oán hận, đau thương của một kiếp người chìm khuất dưới dòng sâu trôi vào quên lãng.

Bến sông Bình Triệu rạng ngày trong tiếng còi tàu sớm ngân vang, ấm áp và thanh thản đón chào một cuộc đời mới.

Chương khác

Xem thêm