Bùn Quỷ Thực - Chương 1: Mùi Bùn Tanh Nơi Bến Cũ
Mặt nước Tây Giang khi ráng chiều lịm hẳn chuyển sang một màu xám đục trĩu nặng, trông đặc quánh giống nước ngâm tro mục. Gió bấc cuối thu thổi ràn rạt…
Nội dung chương
Mặt nước Tây Giang khi ráng chiều lịm hẳn chuyển sang một màu xám đục trĩu nặng,
trông đặc quánh giống nước ngâm tro mục. Gió bấc cuối thu thổi ràn rạt qua những bãi sậy xơ xác hai bên bờ, mang theo cái rét buốt luồn sâu vào từng thớ vải bạt chiếc áo khoác phong trần của tôi.
Tôi xốc lại quai túi đồ nghề bên vai, dẫm chân xuống mạn chiếc đò ngang ọp ẹp đóng bằng gỗ kiền kiền đã mủn mép.
Chuyến đò cuối cùng trong ngày nối liền huyện lỵ heo hút giáp ranh vùng Lĩnh Nam với xã bãi bồi Vọng Ngưu Đôn chẳng có lấy một bóng hành khách nào khác ngoài tôi.
Suốt chặng đường dài ngồi xe khách xóc nảy từ thành phố về đây, đầu gối tôi mỏi nhừ, nhưng cảm giác ê ẩm xương khớp mau chóng bị lấn át bởi thứ mùi nằng nặng bốc lên từ lòng sông.
Mục đích chuyến đi của tôi nằm gọn trong cuốn sổ tay bìa da đen và chiếc máy ghi âm chạy băng từ nhét tận đáy ba lô. Tôi muốn ghi chép lại những mảnh ký ức dân gian còn sót lại về nạn đói năm Đinh Sửu 1937,
năm mà người già dọc dải đất này vẫn gọi bằng cái tên rợn ngực: vụ đói bùn đất, hay chuyện về Quỷ Thực Nê.
Chiếc đò tròng trành rời bến đất lở.
Đứng ở đuôi thuyền là một lão già gầy guộc đến mức khung xương sườn gồ lên từng vệt dưới lớp áo vải thô vá chằng vá đụp.
Lão trạc ngoài sáu mươi, đầu đội nón mê rách vành, hai con mắt mờ đục đọng màng trắng nhờ nhờ, gần như mù lòa.
Khi tôi vẫy thuyền lúc chập choạng tối, lão không mở miệng đáp lời, chỉ vỗ tay vào mạn đò côm cốp ra hiệu cho tôi bước xuống.
Người trông coi bến xe huyện từng bảo với tôi rằng lão chèo đò này câm bẩm sinh, sống thui thủi một mình trong căn chòi dựng sát chân đê hoang phế, chẳng bao giờ giao thiệp với người làng trên xóm dưới.
Lão cắm chiếc sào tre dài ngoằng xuống lòng nước, dùng cả sức nặng của thân hình khô quắt để tì vào đầu sào, đẩy con đò trôi lững lờ cắt ngang dòng chảy. Mỗi nhịp đẩy sào của lão đều nặng nhọc, phát ra tiếng thở phì phò rít qua kẽ răng vàng ố.
Tôi đứng ở mũi đò, đưa mắt quan sát doi đất bồi phía trước. Dọc mép sông lúc nước triều rút để lộ ra những dải bùn đen kịt,
bóng nhẫy như mỡ trâu đông tụ. Bùn ở khúc sông này không mang màu phù sa son đỏ tươi tốt như vùng đồng bằng hạ lưu, mà sẫm tối, quánh đặc và bốc khói mỏng khi gặp hơi lạnh buốt của sương đêm.
Điều kỳ lạ là mỗi khi mũi đò nhắm gần đến các doi bùn bồi ven mép nước, lão chèo đò câm lập tức gò người lại, bẻ sào thật mạnh để ép thuyền dạt ra giữa dòng nước xiết.
Lão tuyệt đối không cho mạn thuyền cọ sát vào những bãi bùn đen ấy.
Đôi bàn chân trần nứt nẻ của lão bấm chặt xuống sàn ván gỗ trơn tuột, gân xanh nổi chằng chịt trên mu bàn chân, toát ra vẻ căng thẳng lộ rõ.
Lão né tránh nhìn về phía bờ, cằm gí chặt vào ngực, hai hốc mắt đục ngầu chỉ chăm chăm dán xuống đáy thuyền.
Tôi nhìn hành động của lão, toan mở miệng cất tiếng hỏi thăm đường vào trung tâm Vọng Ngưu Đôn, nhưng luồng gió từ ngã ba sông bất thình lình thốc mạnh tới khiến tôi nghẹn ngang họng.
Mùi hôi thối xộc thẳng vào cánh mũi tôi.
Đó không phải mùi rác rưởi trôi nổi thường thấy ven sông, cũng không mang vị tanh nồng của bùn rêu thối rữa dưới nắng hè. Thứ mùi này mang vị lợm giọng của thịt thà bị chôn vùi lâu ngày dưới đáy bùn lạnh,
một hỗn hợp tanh tưởi mục rỗng, nhớp nháp và bám chặt lấy cuống họng. Cảm giác buồn nôn bùng lên dữ dội nơi đáy dạ dày khiến tôi phải đưa mu bàn tay lên bịt chặt mũi, cổ họng giật thắt từng cơn.
Lão chèo đò vẫn cắm cúi đẩy sào, nhưng đôi vai gầy guộc của lão khẽ run lên bần bật theo từng nhịp thở. Lão biết có mùi vị gì đang lẩn quất quanh đây, và lão đang sợ hãi.
Cùng lúc mùi xú uế ấy ập vào giác quan, hai bên màng nhĩ của tôi bắt đầu lùng bùng.
Đây là chứng bệnh kỳ quặc bám theo tôi từ những ngày còn là một đứa trẻ ốm yếu ở vùng quê ven biển. Mỗi khi bước chân vào một vùng đất từng có quá nhiều người nằm xuống vì đói khát,
hoặc đứng trước những hố chôn tập thể của các trận thiên tai dịch bệnh cũ, thần kinh tôi lại phát ra những tín hiệu rung giật đau nhói. Người ta gọi đó là giác quan thứ sáu, nhưng đối với tôi, nó giống một cái gông cùm trói buộc thể xác hơn.
Tiếng vo ve bên tai tôi biến đổi, dầy đặc dần lên thành những thanh âm thì thào đứt quãng.
Cho... cho xin miếng...
Nuốt... nuốt không trôi...
Âm thanh không phát ra từ mặt đất, cũng không truyền qua không khí. Nó rì rầm vọng lên từ đáy sâu dưới lòng thuyền,
từ những thớ bùn đen ngòm đang nằm chìm nghỉm dưới dòng nước lạnh ngắt. Giọng nói nghẹn ứ, the thé và dính bết, hệt như người phát ra tiếng kêu đang ngậm chặt một họng đầy bùn nhão, cố trồi lên khỏi mặt nước để van vỉ xin một mẩu thức ăn.
Hai thái dương tôi giật thon thót từng hồi buốt nhói. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán dù gió đêm ràn rạt thổi buốt thấu xương. Tôi gập các ngón tay lại,
bấm thật mạnh móng tay vào lòng bàn tay để cơn đau thể xác kéo bản thân giữ lấy tỉnh táo. Nếu buông lỏng tinh thần vào lúc này, những tiếng rên xiết đói khát ấy sẽ kéo giật tâm trí tôi chìm sâu xuống đáy nước bùn đen kia.
Bác ơi, bến đò này... có chuyện gì thế?
Tôi cố ép giọng mình thật phẳng lặng, hỏi với về phía đuôi thuyền.
Lão chèo đò câm giật nảy mình. Lão không ngẩng đầu nhìn tôi,
chỉ lắc mạnh cái đầu khẳng khiu đến mức chiếc nón mê rách rung bần bật. Cánh tay lão gồng lên, chiếc sào tre cong vút tạo thành một đường vòng cung nguy hiểm trên mặt nước. Lão đang dốc cạn sức tàn để đẩy con đò đâm thẳng vào gờ đất nhô ra ở bờ bên kia.
Cú va chạm mạnh làm mạn thuyền cọ vào một cọc gỗ mục cắm nghiêng ngả nơi mép nước. Tiếng gỗ va đập khô khốc vang lên giữa không gian tịch mịch xua tan bớt sự ngột ngạt đang bóp nghẹt lồng ngực tôi.
Đò đã cập bến.
Bến đò cũ của làng Vọng Ngưu Đôn chỉ là một con dốc đất thoai thoải bị nước sông xói lở nham nhở,
rễ cây dại ngoằn ngoèo nhô lên như những ngón tay khô đét cào vào không trung. Chung quanh hoang tàn đến lạnh lẽo, không có cột đèn, không có trạm gác, chỉ rặt những bụi dứa dại mọc ken dày thành từng bức tường rậm rạp cao quá đầu người.
Tôi rút từ túi áo khoác ra hai tờ tiền giấy mệnh giá nhỏ, bước tới đặt nhẹ lên mặt ván gỗ ở khoang giữa. Lão chèo đò không thèm liếc mắt nhìn xấp tiền lấy một lần. Ngay khi gót giày của tôi vừa rời khỏi mép ván để bước lên mô đất ướt,
lão lập tức dùng đầu sào thúc mạnh vào bờ, đẩy chiếc đò giật lùi trở lại lòng sông Tây Giang đang cuộn sóng đen thẫm.
Thân hình khẳng khiu của lão nhanh chóng lẩn vào màn sương xám xịt đang dâng lên từ mặt nước. Lão chạy trốn bến đất này, nhanh như thể chỉ chậm một khắc nữa thôi thì chiếc đò sẽ bị thứ gì đó dưới đáy nước níu giữ lại vĩnh viễn.
Tôi thở hắt ra một hơi dài, kéo cổ áo khoác lên cao để ngăn những cơn gió lạnh thốc từ mép sông vào mặt. Đất dưới chân tôi xốp mềm, lầy lội và bết dính. Đế giày leo núi trơn trượt khiến tôi phải bước đi thật cẩn trọng trên con dốc trơn như đổ mỡ.
Tôi rút chiếc đèn pin mini từ túi áo ngực, bật công tắc. Luồng ánh sáng vàng nhạt quét một vệt mỏng qua nền đất bùn nhão nhoét trước mặt.
Ánh đèn dừng lại ở một khoảng đất trống nằm kẹp giữa mép nước và rặng dứa dại.
Dưới lớp sáng mờ mờ, tôi nhìn thấy những vệt trườn lết dài ngoằng in sâu hoắm vào nền đất ướt. Vệt trượt này không hề có dấu vết của bước chân người, cũng chẳng giống đường bò của loài trăn hay cá sấu. Nó là một vệt cày phẳng lì rộng chừng hai gang tay,
sâu hoắm xuống lớp bùn nhão, kéo dài liên tục từ lòng sông ẩm ướt trườn thẳng lên bờ. Mặt bùn nơi vệt trượt đi qua nhẵn thín, bóng nhẫy một lớp chất nhờn đặc quánh, phủ lên cả những ngọn cỏ dại bị nghiền nát bét.
Vệt trườn ấy ngoằn ngoèo bò xuyên qua bãi bùn,
chui tọt vào bóng tối thăm thẳm bên dưới gốc những bụi dứa dại đầy gai nhọn. Gai dứa dại sắc như dao cạo rách toạc từng mảng đất, nhưng lớp chất nhờn màu đen vẫn bám chặt trên từng chiếc lá dứa rủ xuống đất, sủi lên vài bọt khí nhỏ li ti.
Mùi hôi thối nồng nặc lúc nãy lại ập đến, lần này đậm đặc hơn, phả thẳng ra từ hốc tối của rặng cây gai góc.
Tôi nín thở, hạ thấp tầm đèn pin xuống sát vệt trượt. Lớp bùn bị đè bẹp vẫn còn đang ứa nước, chứng tỏ thứ vừa trườn qua đây chỉ mới rời khỏi mép nước cách đây không lâu, có thể là ngay trước khi chiếc đò của lão câm cập bến.
Trong các ghi chép cổ rải rác ở vùng Lĩnh Nam mà tôi từng đọc tại thư viện tỉnh, người xưa từng nhắc đến một loài quái dị sinh ra từ uất khí của những kẻ chết đói không được mồ yên mả đẹp. Chúng vùi mình trong bùn lầy ven các nhánh sông lớn,
ăn bùn đất để duy trì sự tồn tại dơ bẩn, và luôn thèm khát hơi ấm cùng thức ăn của người sống. Dân gian gọi đó là Quỷ Thực Nê - lũ quỷ ăn bùn.
Liệu thứ trườn lết qua đây có phải là dấu vết của chúng?
Tôi đứng thẳng dậy, lùi lại hai bước tránh xa mép bụi dứa dại.
Bàn tay tôi theo thói quen đưa lên sờ vào chiếc túi bạt đeo chéo trước ngực.
Chiếc máy ghi âm bọc vỏ kim loại lạnh ngắt và cuốn sổ tay vẫn nằm yên vị bên trong.
Vật dụng tác nghiệp quen thuộc mang lại cho tôi chút cảm giác an toàn mong manh giữa chốn đồng hoang lạnh lẽo này.
Phía trước mặt tôi, vượt qua bến đò hoang tàn, là một con đường đất độc đạo gồ ghề đầy sỏi nham nhở. Con đường chạy ngoằn ngoèo giữa hai bờ mương cạn trơ đáy,
dẫn sâu vào bên trong vùng đất bãi bồi. Ở đằng xa, cách chừng hơn một cây số, thấp thoáng sau những rặng tre xơ xác là vài đốm lửa vàng vọt lập lòe. Đó hẳn là những mái nhà đầu tiên của thôn Vọng Ngưu Đôn.
Nơi đó từng là tâm điểm của nạn đói năm 1937, nơi mà người ta đồn rằng cả làng từng phải đào đất sét trắng và bới bùn đáy sông lên nhào với cỏ dại để nuốt vào bụng cầm hơi.
Tôi cất bước đi về phía con đường đất,
cố gắng giữ nhịp thở đều đặn để lấn át đi sự căng thẳng đang siết chặt lồng ngực. Gió đêm mỗi lúc một mạnh, rít lên từng hồi ai oán qua những khe nứa của rặng tre bên đường, nghe như muôn vàn tiếng khóc hờ của người xưa vọng lại từ cõi xa xăm.
Mỗi bước chân dẫm xuống nền đất nhão đều phát ra tiếng nát bét lép nhép. Đất bám vào đế giày tôi nặng trịch, kéo ghì lấy từng bước đi.
Bỗng nhiên, gót chân phải của tôi lún sâu xuống một hố bùn mềm nằm khuất dưới lớp cỏ khô mục ải ven vệ đường.
Tôi dừng khựng lại, dồn lực vào bắp chân để rút chân lên. Nhưng lớp đất đen ngòm dưới đế giày không chịu nhả ra. Nó bết dính một cách kỳ dị, như thể có hàng chục ngón tay vô hình đang luồn qua các kẽ đất, ôm ghì lấy cổ chân tôi kéo giật xuống.
Bề mặt bãi bùn quanh mũi giày tôi bỗng nhiên rung nhẹ.
Từ trong lòng đất ẩm tối tăm, từng chùm bọt khí đen ngòm bắt đầu sủi lên lụp bụp, vỡ toác ra phả vào không khí luồng hơi tanh tưởi lạnh toát.
Và rồi, ngay dưới lớp bùn đang bám chặt lấy chiếc giày của tôi, một tiếng thở dài thườn thượt, buốt lạnh như hơi thở của người chết lâu năm trồi lên từ lòng đất tối tăm, rít khẽ qua từng kẽ sỏi lạnh căm.