Bùn Quỷ Thực - Chương 3: Vết Sẹo Cũ Dưới Gốc Trúc
Gió ngoài bờ sông vẫn dội từng cơn buốt lạnh qua khe nứa. Vệt nước xám đục in hình bàn tay năm ngón trên nền đất trước bậu cửa từ từ sẫm màu lại, biến…
Nội dung chương
Gió ngoài bờ sông vẫn dội từng cơn buốt lạnh qua khe nứa. Vệt nước xám đục in hình bàn tay năm ngón trên nền đất trước bậu cửa từ từ sẫm màu lại, biến thành một mảng bùn quánh dẻo, bốc lên mùi hôi nồng nặc của cá ươn thối rữa dưới đáy nước lâu ngày.
Lão A Ngưu không buồn nhìn xuống bậu cửa thêm lần nào nữa.
Lão với tay nhấc chiếc đèn bão đã hoen gỉ treo trên thanh xà ngang, vặn nhỏ bấc dầu xuống một chút để ngọn lửa vàng vọt khỏi bị gió tạt tắt.
Bàn tay khẳng khiu đầy những khớp xương to bè của lão run rẩy chốt chiếc then cài bằng cật tre mục ải lại.
Quán nước xập xệ chìm vào một khoảng tối nhờ nhờ, chỉ còn chút ánh lửa đỏ quạch từ đáy đèn soi rõ hai chiếc bóng xiêu vẹo in lên vách nứa.
- Đi thôi, cậu Tô
- Lão A Ngưu cất giọng khàn đặc,
ho khan hai tiếng rồi nhổ một bãi đờm đặc quánh xuống mép đất - Đêm ở bờ sông này độc lắm. Ở lại quán gió luồn vào phổi thì sáng mai chẳng còn hơi mà đi tiếp. Về lán của tôi, tuy rách nát nhưng ít ra còn có bốn bức vách che được sương muối.
Tôi kéo khóa áo khoác lên tận cằm, siết chặt quai đeo của chiếc túi bạt trước ngực. Sức nặng của cuốn sổ tay và chiếc máy ghi âm tì vào xương sườn mang lại cảm giác rắn rỏi quen thuộc. Tôi gật đầu, bước theo sau lưng lão già.
Hai người lách qua cánh cửa sau của căn quán nứa, bước thẳng vào con đường mòn dẫn ngược lên triền đồi.
Phía sau quán nước là cả một rừng trúc rậm rạp chạy dài tít tắp, ken dày đặc đến mức ngẩng đầu lên khó lòng nhìn thấy bầu trời đêm. Ánh trăng cuối tháng mờ đục rọi qua những kẽ lá hẹp,
hắt xuống mặt đất từng vệt sáng xám ngoét, lốm đốm như da người chết đuối. Từng thân trúc gầy guộc, thẳng đuột đứng san sát nhau trong bóng tối mịt mùng, nhìn từ xa chẳng khác nào những bộ xương khô khổng lồ đang lặng lẽ cắm rễ vào lòng đất hoang.
Gió đêm rít qua từng khe gióng giang, tạo nên những chuỗi âm thanh ken két rợn cả gáy.
Tiếng tre trúc cọ xát vào nhau nghe khô khốc, nghiến rít liên hồi như hàng ngàn hàm răng đang lập cập va đập vào nhau vì cơn rét buốt.
Mặt đất phủ một lớp lá trúc khô mục dày cả gang tay, nhưng bên dưới lớp lá vàng xơ xác ấy là bùn đất nhão nhoét rỉ nước ra từ sườn đồi.
Mỗi bước chân tôi giẫm xuống đều phát ra tiếng lép nhép nặng trịch, đất bùn bám chặt lấy đế giày cao su, trơn tuột và nặng trĩu.
Lão A Ngưu đi phía trước, một tay cầm ngọn đèn bão đung đưa,
một tay chống một đoạn gậy trúc cộc. Dáng đi của lão khập khiễng, lưng gập hẳn về phía trước, cẳng chân khẳng khiu như hai que củi khô cắm xuống bùn. Chiếc bóng của lão đổ dài trên nền đất, ngoằn ngoèo vặn vẹo theo từng bước chân xiêu đổ.
Tôi bước cẩn trọng phía sau, cố gắng giẫm đúng vào những khoảng đất có rễ cây đan chéo để khỏi trượt chân. Không khí trong rừng trúc đặc quánh mùi ẩm mốc xen lẫn mùi hăng hắc của lá cây thối rữa và mùi bùn tanh nồng thoang thoảng bốc lên từ lòng đất.
- Lão A Ngưu
- Tôi mở lời, cố gắng phá vỡ sự im lặng ngột ngạt đang đè nặng lên từng hơi thở - Rừng trúc này có từ bao giờ? Tôi thấy thân cây nào cũng sẫm màu, gốc to bự, chắc cũng nhiều năm tuổi rồi.
Lão già không quay đầu lại, tiếng gậy trúc cộc cộc gõ đều đặn xuống nền đất đá:
- Tre trúc xứ này mọc nhanh lắm. Cứ có xác người vùi xuống là rễ nó bám vào mà lớn. Sau nạn đói năm ba mươi bảy, người ta chết rải rác khắp các sườn đồi quanh Vọng Ngưu Đôn. Không ai đủ sức đào hố sâu đâu cậu. Họ chỉ cào lớp đất mặt,
đặt người chết xuống rồi vơ cành khô lá rụng phủ lên. Rễ trúc cứ thế đâm xuyên qua da thịt người ta mà hút chất mục. Mấy gốc trúc to này, phía dưới toàn là xương trắng cả đấy.
Lời lão nói rơi tõm vào màn đêm,
khiến sống lưng tôi lạnh toát. Tôi nhìn xuống những cụm rễ trúc gồ ghề trồi lên mặt đất, uốn lượn như những búi gân máu đen xì. Dưới lớp lá trúc rụng mục ải, những đoạn rễ trắng nhờ nhợ đâm ngang xẻ dọc, bám chặt vào từng tảng đất sét lầy lội.
Hai người tiếp tục đi sâu vào rừng chừng mười lăm phút. Càng lên cao, con đường mòn càng dốc ngược và hẹp dần, hai bên là những bụi trúc rậm rạp quệt vào vai áo ràn rạt. Bỗng nhiên, lão A Ngưu khựng lại.
Chiếc gậy trúc trong tay lão gõ mạnh xuống một gốc cây lớn trồi hẳn lên mặt đường. Lão đứng sững sờ, ngọn đèn bão trên tay hạ thấp xuống sát mặt đất. Ánh sáng vàng đục chiếu rọi vào một gốc trúc già khác thường. Gốc trúc này to bằng cả một ôm người lớn,
vỏ ngoài đen sẫm, nứt nẻ từng mảng lớn như da voi. Những chùm rễ của nó không chui sâu vào lòng đất mà trồi ngược lên trên, cuộn tròn lấy một tảng đá xanh nhẵn thín, ngoằn ngoèo bện chặt vào nhau thành một khối dị hình.
Lão A Ngưu đứng bất động, ánh mắt vàng đục mở trừng trừng nhìn vào khoảng tối thăm thẳm sau gốc trúc cổ thụ. Hơi thở của lão dồn dập, kéo lên từng tiếng khò khè trong lồng ngực lép kẹp.
- Chỗ này...
-
- Lão lẩm bẩm, giọng lão nghẹn ứ lại nơi cuống họng
- Đúng là chỗ này rồi. Sáu mươi mấy năm rồi mà cái gốc này vẫn chưa chịu chết mục đi.
Tôi tiến lại gần một bước, đứng ngang tầm với lão, khẽ hỏi:
- Có chuyện gì từng xảy ra ở đây sao lão?
Lão A Ngưu không đáp ngay. Lão đặt cây gậy trúc dựa vào tảng đá xanh,
rồi từ từ đặt chiếc đèn bão xuống một nhánh rễ to bè đang gồ lên mặt đất. Ngọn lửa lay lắt hắt ánh sáng mờ căm lên khuôn mặt nhăn nheo của lão, soi rõ từng nếp nhăn khắc khổ sâu hoắm như những rãnh cày trên đất hạn.
Bằng một cử chỉ chậm chạp và run rẩy, lão vươn bàn tay trái nắm lấy cổ tay áo chàm bên phải. Chiếc áo chàm cũ kỹ đã sờn rách, bạc phếch vì sương gió và ngả sang màu xám xịt của tro bếp. Lão kéo ống tay áo lên cao quá khuỷu tay.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão, cẳng tay gầy guộc trơ xương của lão hiện ra. Da thịt lão teo tóp, xám ngoét, những đường gân xanh ngoằn ngoèo nổi cộm lên chằng chịt. Nhưng đập thẳng vào mắt tôi là một vết thương cũ kỹ nằm ngay giữa bắp tay dưới.
Đó là một vết sẹo hình vòng cung sâu hoắm, co rúm lại thành một mảng thịt thâm xì xơ cứng. Vết sẹo lồi lõm không đều,
mép thịt bị kéo dúm dó về phía tâm, tạo thành hình dấu răng người rõ mồn một. Răng cửa, răng nanh cắn ngập sâu vào tận màng xương, dẫu cho mấy chục năm đã trôi qua, mảng da thịt ấy vẫn biến dạng, tím tái và không thể nào mọc lại lớp biểu bì bình thường.
Tôi nín thở nhìn vết tích khủng khiếp ấy. Dấu răng sâu đến mức có thể hình dung ra lực cắn cuồng loạn của kẻ đã ghim răng vào cánh tay này.
- Dấu răng này...
-
- Tôi buột miệng nói khẽ.
- Dấu răng của anh họ tôi
- Lão A Ngưu cất tiếng, ngón tay trỏ khô khốc của lão chậm rãi miết lên bờ mép sần sùi của vết sẹo thâm đen - Tên anh ấy là A Thủy. Năm ba mươi bảy,
anh ấy mười chín, còn tôi mới mười bốn tuổi. Hai anh em chạy nạn từ mạn trên bến sông dạt về đây, trong bụng chẳng có lấy một hạt cơm hay một mẩu vỏ cây nào suốt năm ngày ròng.
Lão A Ngưu ngước mắt nhìn vào rặng trúc tối đen trước mặt, nơi những thân cây đang đung đưa kẽo kẹt theo từng cơn gió lạnh:
- Đến ngày thứ sáu thì kiệt sức. Cả hai ngã gục xuống ngay cạnh gốc trúc già này. Trời mưa phùn, đất bùn lạnh ngắt dính bê bết vào mặt, vào mũi. Cơn đói nó không hành hạ bằng cái đau đớn bình thường đâu cậu Tô. Nó cào xé từng khúc ruột,
nó gặm nhấm buồng gan, nó làm cho đầu óc người ta quay cuồng, tai lùng bùng, mắt nổ ra đom đóm đỏ. Cậu sẽ ngửi thấy mùi thơm ở khắp mọi nơi. Mùi rơm ướt ngửi cũng ra mùi bánh nướng, hòn đá sỏi ven suối nhìn cũng ra củ khoai vùi tro.
Giọng lão hạ thấp xuống, run rẩy và đục ngầu ký ức kinh hoàng của một thời tàn khốc:
- Anh A Thủy nằm úp mặt xuống đống lá mục bên cạnh tôi. Tôi nghe tiếng anh ấy cào tay xuống đất, móng tay bật máu cắm sâu vào bùn sét. Rồi anh ấy bò lại gần tôi. Tôi tưởng anh ấy muốn đỡ tôi dậy,
nên tôi ráng hết sức chìa cánh tay này ra để nắm lấy vai anh. Nhưng anh ấy không nắm. Hai con mắt anh ấy trợn trừng, đỏ ngầu như hai hòn than cháy dở, trong con ngươi không còn chút hồn người nào nữa, chỉ có một luồng tà khí đói khát đến phát cuồng.
Lão A Ngưu thở dốc, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo chàm mỏng manh:
- Anh ấy chồm lên người tôi. Cái miệng há to hoác, nước dãi lẫn máu tươi từ khóe môi rỏ tong tòng xuống mặt tôi. Anh ấy gí sát mặt vào cánh tay tôi, rồi ngoạm một cú ngập răng vào thịt. Cậu có biết lúc cắn ngập vào tay tôi, anh ấy hét lên cái gì không?
Tôi lắc đầu, cổ họng nghẹn đắng, không thốt ra nổi một lời.
- Anh ấy hét lên: "Củ mài! Củ mài to quá, ngọt quá!"
- Lão A Ngưu cười khằng khặc, tiếng cười khô khốc như tiếng cành tre gãy vụn giữa rừng sâu - Anh ấy nhai nghiến ngấu, hàm răng nghiến chặt vào xương tay tôi rào rạo.
Máu tôi bắn ra, tanh nồng, vậy mà anh ấy vừa nuốt ừng ực vừa khóc rống lên vì sung sướng.
Anh ấy tưởng miếng thịt sống trên tay đứa em họ chính là củ mài béo bở đào được dưới gốc trúc.
Cái đói nó bẻ cong ngũ quan của con người ta, nó tráo đổi thực tại, biến máu thịt đồng loại thành đồ ăn cứu mạng.
Một luồng khí lạnh chạy dọc từ gáy xuống tận sống lưng tôi. Tôi nhìn chằm chằm vào vết sẹo vòng cung thâm đen trên tay lão già.
Hiện tượng ảo giác biến thịt sống thành củ mài, biến bùn đất thành bột bánh mà lão vừa nhắc đến, hoàn toàn trùng khớp với những dòng ghi chép rời rạc trong cuốn cổ thư về thuật tà Lĩnh Nam mà tôi từng đọc.
Tà khí sinh ra từ những cái chết đói oan khuất dưới lòng đất ven Tây Giang có khả năng thao túng tâm trí kẻ đang kiệt quệ.
Chúng mượn cơn đói để len vào ngũ quan, khiến nạn nhân nhìn bùn đất ra cao lương mỹ vị, nhìn người thân ra củ mài, thịt thú, để rồi tự biến mình thành loài quỷ dữ trước khi chết nghẹn trong đống đất đá.
- Rồi... sau đó thì sao?
-
- Tôi cố giữ giọng mình thật bình tĩnh để hỏi tiếp
- Lão làm cách nào thoát được?
- Tôi đau quá, hét lên rồi vớ được hòn đá xanh dưới gốc cây đập mạnh vào đầu anh ấy
- Lão A Ngưu hạ ống tay áo chàm xuống, che khuất vết sẹo đen ngòm - Anh ấy buông tay tôi ra, ngã ngửa ra đống lá mục. Miệng anh ấy vẫn còn ngậm một miếng thịt dính máu của tôi,
hai hàm răng vẫn tiếp tục nhai trút tàn lực, nhai cho đến khi cổ họng nghẹn cứng lại rồi tắt thở. Mắt anh ấy lúc chết vẫn mở to, trừng trừng nhìn lên ngọn trúc, miệng vẫn lẩm bẩm đòi ăn củ mài.
Lão A Ngưu cúi người nhặt đoạn gậy trúc lên, chống mạnh xuống nền đất nhão. Lão xoay người nhìn tôi, ánh mắt vàng đục của lão trong đêm tối bỗng trở nên sắc lạnh và thê lương đến tột cùng:
- Cậu Tô đi tìm hiểu chuyện Quỷ Thực Nê, cậu sợ ma quỷ dưới lòng bùn lầy ven sông.
Nhưng tôi sống ngần này tuổi đầu, tôi chỉ muốn bảo cho cậu biết một điều.
Khi cái đói nó ập đến đến bước đường cùng, khi dạ dày rỗng không cào cấu đến từng thớ thịt, thì chẳng có thứ ma quỷ nào dưới lòng đất đáng sợ bằng sự tha hóa của chính lòng người cả.
Người ta có thể ăn thịt lẫn nhau, xé xác người thân của mình chỉ vì một ảo ảnh củ mài do cái đói dựng lên.
Thứ quỷ dữ thực sự...
nó nằm ngay trong lòng kẻ đang đói lả.
Gió trên sườn đồi bỗng nhiên ngừng bặt. Rừng trúc đang xào xạc cọ xát bỗng chốc im ắng một cách kỳ lạ.
Sự tĩnh lặng đột ngột trùm xuống không gian, quánh đặc và ngột ngạt tựa hồ một tấm vải liệm ẩm ướt trùm kín lấy vạn vật. Mùi hôi thối của bùn lầy nồng nặc lạ thường lại từ đâu xộc thẳng vào mũi, tanh tưởi và lạnh toát.
Ngay sau lưng hai chúng tôi, từ trong bụi trúc rậm rạp nằm khuất sau gốc cây cổ thụ, bỗng vang lên một chuỗi âm thanh lạo xạo.
Đó là tiếng cọ xát sắc nhọn, khô khốc của hai hàm răng đang nghiến vào nhau ken két. Âm thanh nghiến răng mỗi lúc một dồn dập,
kéo theo tiếng nhai xé rào rạo, nhồm nhoàm như thể có một hàm hàm răng nhọn hoắt đang ra sức nghiền nát từng mảng thịt gân lẫn sỏi đá ngay trong bóng tối dày đặc sau lưng.