Bùn Quỷ Thực - Chương 6: Khói Ngải Cứu Trấn Tà Ma

Ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch đặt nơi góc chiếc bàn gỗ sứt sẹo, hắt ra một vùng sáng tù mù chẳng đủ soi rõ bốn góc gian buồng. Gió bấc từ ngoài đồng tràn về,…

Nội dung chương

Ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch đặt nơi góc chiếc bàn gỗ sứt sẹo,

hắt ra một vùng sáng tù mù chẳng đủ soi rõ bốn góc gian buồng. Gió bấc từ ngoài đồng tràn về, rít lên từng hồi qua những khe hở trên vách nứa đan thưa, đem theo hơi lạnh buốt giá và mùi tanh ẩm nồng nặc của bùn rữa từ mé vũng sình Bồ Tầm.

Tôi ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu cập kiêng, cặm cụi lật từng trang sổ tay để ghi chép lại những chi tiết vừa chứng kiến hồi ban chiều trên sườn đồi.

Ngón tay tôi cứng đờ vì rét buốt, đầu ngòi bút bi thi thoảng lại cày xước mặt giấy nham nhở.

Cảnh tượng nấm mồ đất đen tự co bóp như một lồng ngực sống, cùng bàn tay khô quắt xám xịt trồi lên từ kẽ nứt nắm chặt nhúm ngải cứu thẫm màu vẫn còn in đậm nơi đáy mắt tôi.

Mỗi lần gió lùa qua khe liếp rung lên bần bật, mùi bùn chết chóc ấy lại dội vào sống mũi, ngai ngái và lợm giọng, như thể có một bãi tha ma vừa bị ai đó xới tung lên ngay trước hiên nhà.

Tiếng dép lê lẹt xẹt trên nền đất nện vang lên từ gian ngoài, kéo theo tiếng kẽo kẹt của cánh liếp cửa buồng bị đẩy sang một bên.

Lão A Ngưu bước vào, thân hình gầy guộc hơi còng xuống dưới bóng tối chập chờn. Khuôn mặt già nua của lão lúc này căng thẳng tột độ, hai gò má hóp sâu hằn lên những nếp nhăn xám xịt. Dưới nách lão cắp một bó ngải cứu khô lớn,

lá cây đã ngả sang màu nâu đen vì khói bếp lâu ngày quyện chặt lại. Thứ thảo mộc này được bó thành từng con bằng lạt tre giòn, bám đầy một lớp bồ hóng mịn như nhung, toát ra mùi thơm hăng hắc đối nghịch hẳn với thứ mùi ẩm thối của đầm lầy.

- Đừng viết lách gì nữa, dẹp hết giấy mực đi

- Giọng lão khàn đặc, nặng trĩu vẻ âu lo.

Lão bước tới chiếc chõng tre kê sát mé tường đất ẩm,

đặt bó ngải cứu xuống rồi cúi người lôi từ gầm chõng ra một chiếc đĩa sành cũ đã mẻ mất một góc miệng. Lòng đĩa bám một lớp muội than đen kịt, chứng tỏ nó từng được dùng vào việc xông đốt rất nhiều lần trước đây.

Tôi đặt cây bút bi xuống cuốn sổ, ngẩng đầu nhìn lão già:

- Bác A Ngưu, chỗ ngải cứu này là...

- Ngải cứu ba năm treo gác bếp,

chỉ dùng khi có chuyện chẳng lành. Lão ngắt lời tôi, hai bàn tay thô ráp bắt đầu bẻ gãy từng đoạn thân ngải khô giòn. Tiếng gãy kêu lách tách giòn rụm trong căn buồng vắng. Hồi chiều trên đồi Bồ Tầm, cậu cũng nhìn thấy thứ trồi lên từ nấm đất rồi đấy. Đất đã mở miệng,

nghĩa là đám đói dưới ấy bắt đầu động. Đêm nay gió xoay hướng bắc, thổi thẳng từ đầm lầy quét qua rặng trúc vào mé làng. Hơi tanh của bùn nặng thế này, chúng nó sắp lần theo hơi người mà tìm về.

Lão A Ngưu lấy từ trong túi áo chẽn ra một bao diêm gỗ đã sờn mép, quẹt mạnh một que.

Đốm lửa bùng lên le lói soi rõ những ngón tay gầy guộc đầy sẹo rỗ của lão.

Lão châm lửa vào nhúm lá ngải khô đặt giữa đĩa sành.

Lớp lá khô ngấu nghiến đón lấy ngọn lửa, thoạt tiên bùng lên một cụm khói mỏng màu xám nhạt, sau đó ngọn lửa lụi dần, nhường chỗ cho những đốm than hồng âm ỉ gặm nhấm từng thớ lá khô giòn.

Khói ngải cứu cuộn tròn bốc lên nghi ngút, đậm đặc và cay xộc vào tận cuống họng. Mùi thơm nồng,

hăng đắng đặc trưng của thứ thảo dược tích tụ tinh hoa đất trời qua ba mùa phơi gác bếp nhanh chóng tràn ngập gian buồng chật hẹp, tạm thời đẩy lùi được mùi hôi tanh lợm giọng của bùn sình đang chực chờ nuốt trọn không gian.

Tôi bị làn khói đặc táp vào mặt, không kìm được khẽ ho sặc sụa hai tiếng. Lão A Ngưu không hề chớp mắt, bàn tay già cỗi thoăn thoắt bốc từng vốc lá khô ném thêm vào đĩa sành để ngọn khói bốc lên càng lúc càng dày.

- Ngồi yên đấy, hít lấy hơi khói này vào

- Lão nghiêm giọng, hai mắt vẫn dán chặt vào đĩa sành đang nghi ngút lửa ngầm - Hơi bùn năm ba mươi bảy có độc tính làm mê muội tâm can. Hít phải thứ khí ấy lâu dần,

lục phủ ngũ tạng sẽ sinh ra cảm giác thèm thuồng quái đản, đến lúc ấy nhìn đất bùn cũng hóa thành chè kho, bột nếp. Khói ngải này là thứ duy nhất ngăn không cho tà khí bám vào kinh mạch.

Nói đoạn, lão bưng chiếc đĩa sành đang nghi ngút khói đứng dậy. Lão đi chầm chậm quanh bốn góc gian buồng,

bước chân bẹt xuống nền đất nện ẩm ướt không phát ra tiếng động. Cứ mỗi bước đi, lão lại phẩy tay lùa luồng khói xám tạt vào các kẽ nứt trên vách nứa, xông vào từng góc cột gỗ mốc thếch. Đi đến bậu cửa sổ đan bằng nan tre thưa, lão dừng lại rất lâu.

Lão dùng tay không bốc một vốc tro ngải cứu còn nóng rẫy, bóp vụn thành một thứ bột xám mịn màng.

Lão cẩn thận rải từng nhúm tro ấy dọc theo mép bậu cửa sổ, kéo dài thành một vệt xám mảnh ngăn cách giữa khoảng không bên ngoài đêm tối và chiếc bàn gỗ nơi tôi đang ngồi.

Xong xuôi, lão quay sang các khe nứt dưới chân tường đất, nơi bùn non ẩm ướt đang rịn ra từng giọt nước đen ngòm, lão cũng rải kín một lớp tro dày đè lên trên.

Mỗi khi bột tro ngải chạm vào những vệt nước bùn rịn ra từ lòng đất, một âm thanh xèo xèo nhỏ xíu lại rộ lên, kèm theo những sợi khói đen mỏng bốc mùi khét lẹt như da thịt bị thiêu cháy.

Lão A Ngưu thở hắt ra một hơi dài, đặt chiếc đĩa sành xuống góc buồng ngay sau lưng tôi rồi quay người lại. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, ánh mắt lão lạnh ngắt như hai mảnh sành vỡ:

- Cậu nghe cho kỹ đây. Từ giờ cho đến khi gà gáy sáng,

bất kể ngoài trời có động tĩnh gì, cũng tuyệt đối không được bước chân ra khỏi ngưỡng cửa buồng này. Chiếc đĩa ngải cứu này tôi để ở đây, tàn khói của nó sẽ che khuất hơi thở của cậu. Nhưng bùa ngải chỉ che được mắt, không che được tai.

Tôi cảm thấy cổ họng mình nghẹn ứ, sống lưng chợt lạnh toát:

- Nếu có người bên ngoài gọi thì sao bác?

- Không có người nào cả

- Lão A Ngưu gằn giọng từng tiếng, thanh âm khô khốc vang lên giữa bốn bức vách ẩm thấp - Đêm hôm khuya khoắt ở chốn rừng trúc này, trừ hai chúng ta ra thì không một người sống nào dám bén mảng ra ngoài đường. Đêm nay,

nếu có tiếng đập cửa sổ, tiếng bước chân đi vòng quanh vách liếp, hay thậm chí có ai gọi đích danh tên họ của cậu ngoài kia, tuyệt đối không được mở mồm đáp lời. Một tiếng "ơi", một lời "ai đấy" cũng đủ để mở đường cho chúng nó lách qua khe nứa mà chui vào.

Lão bước thêm một bước lại gần tôi, ngón tay trỏ khẳng khiu cùi cụi như cành củi khô chỉ thẳng vào mặt tôi:

- Và điều quan trọng nhất: khi nghe thấy âm thanh lạ vang lên sau lưng,

cấm kỵ quay đầu lại nhìn. Cậu có giác quan nhạy cảm hơn người thường, cái vía của cậu rất dễ bị dẫn dụ. Cậu mà quay đầu, ba ngọn lửa trên hai vai và đỉnh đầu sẽ bị âm phong thổi tắt. Đến lúc ấy, đừng trách tôi không cứu được cậu.

Dứt lời, lão A Ngưu không chờ tôi kịp phản ứng, quay người sải bước ra khỏi buồng. Cánh liếp nứa khép lại đánh cạch một tiếng khô khốc, để lại một mình tôi ngồi trơ trọi giữa làn khói ngải cứu cay nồng đang cuồn cuộn bốc lên từ góc phòng.

Bên ngoài gian nhà chính, tiếng bước chân của lão già lẹp xẹp một lúc rồi tắt hẳn. Chỉ còn lại tiếng gió bấc gầm rít qua rặng trúc sau nhà. Gió đập liên hồi vào các tấm liếp,

làm cả căn nhà tranh rung lên từng chập ken két. Mùi lá ngải đắng nghét quyện chặt vào không khí, xông thẳng lên trần nhà rồi chìm dần xuống, bao bọc lấy tôi như một tấm lưới vô hình.

Tôi ngồi thu lu trên ghế, hai tay nắm chặt lấy mép chiếc bàn gỗ. Chiếc đồng hồ đeo tay cũ kỹ phát ra từng tiếng tích tắc nhỏ giọt, chậm chạp và nặng nề.

Mười một giờ đêm. Rồi mười hai giờ đêm.

Không gian xung quanh quánh đặc lại trong một sự tĩnh lặng chết chóc. Tiếng gió bấc hình như cũng yếu dần đi,

không còn gầm rú từng cơn như lúc trước nữa, mà chuyển thành những luồng khí lạnh lùa qua các khe nứa, thổi lay lắt tim đèn dầu hỏa. Ngọn lửa vàng vọt chao đảo nghiêng ngả, kéo theo chiếc bóng của tôi trên vách đất giật nảy từng nhịp kỳ dị.

Chính vào lúc sự tĩnh mịch đạt đến mức nghẹt thở, một âm thanh lạ bắt đầu xuất hiện.

Lạo xạo... rào rạo...

Âm thanh đó phát ra từ ngay sát vách đất sau lưng tôi, chỉ cách chiếc chõng tre chừng một sải tay. Nó không phải tiếng gió thổi, cũng không phải tiếng chuột bọ đào hang. Đó là âm thanh của một hàm răng người đang nghiến chặt vào nhau,

gặm nhấm, cắn xé một vật gì đó dai và cứng. Tiếng cọ xát lạo xạo vang lên đều đặn, khô khốc, giống như ai đó đang dùng hết sức bình sinh để nhai ngấu nghiến những đoạn rễ cây mục chôn sâu dưới chân tường.

Tôi cứng đờ toàn thân, từng sợi lông tơ trên cánh tay dựng đứng cả dậy.

Rào rạo... ực... rào rạo...

Tiếng nhai nuốt mỗi lúc một rõ rệt hơn, chen lẫn vào đó là tiếng ừng ực nghẹn ứ nơi cổ họng,

y hệt như kẻ đó đang cố nuốt trọn những cục đất bùn nhão nhoét trôi qua thực quản mà không có lấy một giọt nước làm trơn. Âm thanh ấy nhơ nhớp, nhầy nhụa, vang lên ngay bên tai tôi qua một lớp vách nứa mỏng manh.

Mùi bùn tanh tao lại dội lên nồng nặc,

lấn át cả mùi khói ngải cứu đang cháy dở. Giác quan thứ sáu trong cơ thể tôi lập tức căng lên như một sợi dây đàn sắp đứt. Một luồng ớn lạnh buốt giá từ dưới sàn đất nện chạy dọc theo sống lưng, bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi.

Tôi muốn thở ra một hơi thật sâu để trấn tĩnh lại,

nhưng hai hàm răng tôi lúc này đã tự động va vào nhau lập cập. Nhớ lại lời dặn dò đầy nghiêm khắc của lão A Ngưu, tôi cắn chặt môi dưới đến rớm máu để ngăn chặn cơn run rẩy, hai bàn tay siết chặt lấy cuốn sổ tay bìa da đặt trên mặt bàn.

Đừng quay đầu. Tuyệt đối không được quay đầu lại.

Tôi tự nhắc đi nhắc lại câu nói ấy trong đầu như một câu thần chú hộ thân. Ánh mắt tôi dán chặt vào ngọn lửa le lói trên đĩa sành nơi góc buồng. Bó ngải cứu đã cháy gần hết,

chỉ còn lại một đống tàn tro màu xám bạc đang phập phồng những đốm lửa đỏ li ti. Khói ngải mỏng dần đi, để lộ ra những khoảng trống lạnh lẽo trong không khí.

Đúng lúc đó, âm thanh nhai rễ cây sau vách nứa đột ngột ngừng bặt.

Căn phòng lại rơi vào một khoảng lặng rợn cả gáy. Nhưng chỉ vài giây sau, từ phía bên kia vách đất, một thanh âm thì thào u uất cất lên giữa màn đêm giá lạnh.

- Triều... Hành...

Tiếng gọi mỏng như một sợi tơ rách, kéo dài lê thê và méo mó.

Tôi nín thở, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng như muốn nhảy bung ra khỏi lồng ngực. Tiếng gọi ấy không chỉ xuất phát từ một người. Nó là một sự pha trộn hỗn tạp giữa nhiều âm sắc khác nhau quyện lại làm một. Có giọng khản đặc đứt quãng của một ông lão hấp hối,

có tiếng rên rỉ nghẹn ngào của một người đàn bà đói lả, và lẩn khuất bên dưới còn có cả tiếng the thé run rẩy của một đứa trẻ con đang khóc đòi ăn cơm.

Những thanh âm ấy hòa lẫn vào nhau, tạo thành một khúc đồng ca ma quái luồn qua từng kẽ hở của vách nứa, dội thẳng vào ốc tai tôi.

- Triều Hành ơi... đói quá...

- Cho... một miếng... một miếng đất thôi...

- Ra đây... cỗ bàn nhiều lắm... Triều Hành ơi...

Giọng nói ấy lúc bổng lúc trầm, khi thì dập dờn như ở tít ngoài đầm Bồ Tầm xa xôi, lúc lại áp sát ngay sau gáy tôi,

phả ra từng luồng khí lạnh buốt làm rợn ngợp cả một vùng da gà sau gáy. Những kẻ nằm sâu dưới lớp bùn năm ba mươi bảy đang gọi tên tôi. Chúng biết tôi đang ngồi ở đây, sau bức vách nứa này, bên cạnh ngọn đèn dầu tù mù này.

Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán tôi, chảy dài xuống thái dương cay xè mắt.

Tôi cắn chặt môi đến mức vị mặn chát của máu ứa ra tràn ngập khoang miệng.

Cơn đau thể xác giúp tôi giữ lại được một chút tỉnh táo cuối cùng giữa mớ âm thanh ma mị đang ra sức kéo giật tâm trí tôi quay ngược lại phía sau.

Tôi không đáp lời. Tôi không hề nhúc nhích dù chỉ một ngón chân.

Những đốm than đỏ trên đĩa tro ngải cứu góc phòng bỗng nhiên lóe sáng lên một nhịp rồi lụi tàn hẳn, biến thành một vệt tro xám lạnh lẽo. Làn khói bảo vệ cuối cùng tan biến vào không trung, nhường chỗ cho bóng tối và hơi lạnh tràn ngập gian buồng.

Tiếng thì thào ngoài vách nứa bỗng im bặt. Cơn gió bấc gầm rít ngoài trời cũng đột ngột ngưng bặt trong tích tắc, khiến cả thế giới như rơi vào một khoảng chân không câm lặng tuyệt đối.

Và rồi, ngay sát sau gáy tôi, trên mặt nan tre của khung cửa sổ thưa.

Cộc. Cộc. Cộc.

Một ngón tay khô khốc gõ ba tiếng dứt khoát lên mặt nan tre, từng tiếng một rành rọt, lạnh lẽo gõ thẳng vào màng nhĩ tôi.

Chương khác

Xem thêm