Bùn Quỷ Thực - Chương 9: Cơn Đói Ngấm Vào Giấc Mộng

Cơn nghẹt thở ập đến ngay trước khi trời hửng sáng, nặng nề và buốt giá hệt như một khối đá tảng đè chặt lên lồng ngực. Tôi mở bừng mắt giữa bóng tối…

Nội dung chương

Cơn nghẹt thở ập đến ngay trước khi trời hửng sáng, nặng nề và buốt giá hệt như một khối đá tảng đè chặt lên lồng ngực.

Tôi mở bừng mắt giữa bóng tối tranh tối tranh sáng của gian buồng ngủ nhà lão A Ngưu. Cả người tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh, từng khớp xương cứng đờ, hai lá phổi thắt lại đau nhói vì thiếu dưỡng khí. Trong cơn mê man nửa tỉnh nửa mê kéo dài suốt nửa đêm,

tôi liên tục thấy bóng dáng một đứa trẻ với cái bụng phình to như cái trống da bò. Đứa trẻ ấy trườn qua trườn lại trên nóc mùng, bàn tay gầy khẳng khiu như chân gà thọc sâu vào cổ họng tôi. Nó móc từng vốc đất trắng.

Tiếng sương đêm rỏ giọt từ mép mái rạ xuống máng nước bằng bương tre ngoài hiên vang lên từng tiếng cộc, cộc khô khốc. Gió bấc ngoài đồng đã ngưng bặt từ bao giờ. Không gian quánh lại trong một sự tĩnh mịch ngột ngạt đến lạ thường.

Tôi nằm bất động trên chiếc phản gỗ thô mộc,

cố gắng điều hòa lại nhịp thở đứt quãng. Hơi lạnh từ những khe liếp nứa luồn qua lớp chăn bông mỏng manh, liếm láp lên da thịt từng đợt rùng mình. Thế nhưng, thứ đang đánh thức toàn bộ khứu giác của tôi lúc này lại không bắt nguồn từ cơn gió lạnh ngoài vườn.

Đó là một mùi tanh tưởi quen thuộc đến gai người.

Mùi bùn ươn, thứ mùi của rêu rác mục rữa ngâm dưới đáy đầm Bồ Tầm lâu năm trộn lẫn với mùi tanh nồng của máu cá chết, đang bốc lên ngùn ngụt ngay bên trong bốn bức vách đất. Mùi hương đậm đặc quẩn quanh chóp mũi,

tanh đến mức khiến cuống họng tôi dâng lên từng cơn buồn nôn khan. Tôi có thể ngửi thấy rõ vị đất sét ướt át bám vào từng thớ gỗ của thành giường, xông thẳng vào khoang mũi như thể có ai vừa đổ cả một xô bùn sống lên ngay cạnh chỗ tôi nằm.

Tôi hít sâu một hơi để trấn tĩnh, đưa bàn tay run rẩy sờ soạng trên chiếc chõng con kê sát đầu giường. Ngón tay chạm vào lớp kim loại lạnh buốt của chiếc đèn pin bấm.

Tách.

Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn sợi đốt lóe lên xé toạc màn sương mờ mờ đang bao phủ căn buồng. Tôi quét luồng sáng một vòng từ vách đất trát rơm lên trần nhà lợp lá cọ mục, rồi từ từ hạ thấp cổ tay rọi xuống nền nhà bằng đất nện phẳng phiu.

Ánh đèn pin dừng lại ở góc buồng, ngay mép bậu cửa sổ đan bằng nan tre. Đồng tử tôi co thắt lại dữ dội.

Bậu cửa sổ khép hờ lúc tối giờ đây đã hé mở một khoảng rộng bằng hai gang tay. Trên thanh tre bóng nhẫy của bậu cửa,

một bãi bùn đen sì, nhơn nhớt vẫn còn đang rỉ nước tong tỏng xuống mặt đất bên dưới. Từ vị trí ấy, một chuỗi dấu vết kỳ dị nối đuôi nhau hiện rõ mồn một trên nền đất nện màu nâu xám.

Đó là những dấu chân trần.

Những vết chân ướt sũng bùn lầy đen đúa in thẳng tắp từ mép bậu cửa sổ trườn vào buồng. Chúng không mang hình dáng của bàn chân người lớn. Kích thước của từng vết in rất nhỏ thó,

chỉ dài chừng ba tấc rưỡi, rộng bề ngang bằng hai ngón tay chụm lại, hoàn toàn khớp với kích cỡ bàn chân của một đứa trẻ con tầm sáu hoặc bảy tuổi.

Nhưng điều làm da đầu tôi tê rần không nằm ở kích thước của chúng. Nền đất nện nhà lão A Ngưu vốn được đầm kỹ bằng vôi sống và mật mía từ hàng chục năm trước,

cứng chắc đến mức người lớn dẫm gót giày nặng nề lên cũng không để lại dù chỉ một vết hằn. Vậy mà lúc này, từng dấu chân trần bé xíu kia lại lún sâu hoắm xuống mặt sàn gần nửa lóng tay.

Mép vết chân nứt toác ra thành những đường rạn chân chim. Bùn đất xám xịt từ kẽ ngón chân trào ra,

nham nhở và ứ đọng nước đen, tạo cảm giác kẻ vừa dẫm lên đây không phải một đứa trẻ da bọc xương, mà là một pho tượng bằng đồng đen nặng hàng trăm cân mang theo cả khối bùn lầy ngàn năm bước tới.

Chuỗi dấu chân không đi thẳng. Chúng dẫm từng bước chậm rãi, bước thấp bước cao lảo đảo tiến về phía chiếc phản gỗ.

Tim tôi đập thình thịch như trống trận trong lồng ngực. Luồng sáng đèn pin run rẩy theo từng nhịp thở của tôi, soi rõ từng bước chân ma quái ấy quẩn quanh mép chiếu cói đúng ba vòng. Vết bùn cuối cùng dừng lại ngay sát cạnh mép vạt giường nơi tôi gối đầu,

mũi chân hướng thẳng về phía mặt tôi, trước khi chuỗi dấu vết ấy quay ngoắt một trăm tám mươi độ, cắm từng bước nặng trịch ngược trở lại khung cửa sổ hé mở.

Suốt nửa đêm qua, khi tôi chìm trong cơn mê man nghẹt thở, đã có một đứa trẻ ướt sũng bùn lầy đứng ngay trên đầu tôi, cúi xuống nhìn trân trân vào mặt tôi qua lớp màn rách.

Cạch!

Tiếng then cài cửa ngoài gian chính đột ngột bật mở làm tôi giật thót người. Ngay sau đó là tiếng bước chân cập rập vội vã kèm theo tiếng khạc nhổ quen thuộc của lão A Ngưu.

- Cậu Triều Hành! Dậy chưa? Ra tao bảo cái này...

Lão A Ngưu vừa bước đến ngưỡng cửa buồng ngủ, tay còn cầm chiếc điếu bát bằng gốm da lươn chuẩn bị châm đóm hút thuốc sớm. Nhưng câu nói của lão nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Mũi lão giật giật hai cái khi ngửi thấy mùi bùn tanh tưởi bốc lên ngột ngạt trong phòng.

Ánh mắt đùng đục của lão nhìn theo luồng sáng đèn pin của tôi, rồi rơi thẳng xuống hàng dấu chân lún sâu hoắm trên nền đất.

Choang!

Chiếc điếu bát rơi tuột khỏi tay lão A Ngưu, đập mạnh xuống nền đất vỡ tan tành thành từng mảnh gốm vụn. Nước điếu hôi hám cùng tàn thuốc vàng khè bắn tung tóe ra xung quanh. Cả người lão run lên bần bật,

hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng cành cạch rợn cả gáy. Mặt lão cắt không còn một giọt máu, trắng bệch như người chết trôi.

- Chết rồi... Nó vào tận đây rồi... Trời cao đất dày ơi, bùn sống vào tận trong nhà rồi!

-

- Lão A Ngưu ú ớ kêu lên, giọng khàn đặc đầy vẻ kinh hoàng.

- Bác Ngưu! Dấu chân này là của ai?

-

- Tôi bật dậy khỏi giường, bước nhanh tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc đang run rẩy của lão

- Có kẻ đột nhập vào ban đêm sao?

- Người sống nào dẫm lún được nền đất nện này hả cậu?

-

- Lão A Ngưu níu chặt lấy cổ tay tôi, móng tay cắm sâu vào da thịt tôi buốt nhói

- Bùn quỷ đấy! Hồn đói năm ba bảy đội bùn lên tìm miếng ăn đấy! Tao đã bảo rồi mà, hôm qua cụ Bảy kể chuyện chiếc bánh đất sét, hơi thở của người sống đã đánh động cái thứ nằm dưới lòng đầm Bồ Tầm!

Không đợi tôi kịp lên tiếng, lão A Ngưu đã hớt hải quay người chạy vụt ra gian bếp. Tiếng lục lọi xoong nồi, chum vại va vào nhau loảng xoảng vang lên gấp gáp giữa sớm tinh sương.

Chỉ một thoáng sau, lão ôm trở vào một chiếc hũ sành màu nâu sẫm,

nắp đậy kín bằng vải điều. Mùi rượu nồng nặc hòa lẫn với vị cay hăng của gừng già giã nhuyễn lập tức lấn át mùi tanh tao trong căn buồng. Lão run rẩy mở nắp hũ, hai tay bốc từng nắm gừng ngâm rượu xối xả ném xuống những dấu chân bùn trên sàn nhà.

- Mau! Cậu cầm lấy chai rượu này vẩy lên bậu cửa sổ!

-

- Lão vừa thở hồng hộc vừa quát lớn, giọng vỡ vụn ra vì khiếp đảm

- Xối rượu gừng vào! Đất sống sợ hơi cay, ma đói sợ vị gừng! Phải phá ngay cái đường dẫn bùn này, không thì tối nay nó kéo cả đàn cả lũ vào bẻ cổ cả hai bác cháu mình!

Tôi làm theo lời lão, cầm lấy chai rượu gừng tưới một vệt dài dọc theo mép bậu cửa sổ bằng tre. Thứ chất lỏng màu vàng sậm tiếp xúc với lớp bùn đen sền sệt bỗng phát ra những tiếng xèo xèo nhè nhẹ,

giống hệt như mỡ sôi đổ vào chảo lửa. Một làn khói mỏng màu xám tro bốc lên từ vết bùn, mang theo mùi khét lẹt của da thịt cháy xém trộn lẫn với rơm rạ mục.

Lão A Ngưu quỳ sụp xuống đất, liên tục vốc tro bếp từ góc nhà rải đè lên những vết chân lún sâu. Đôi bàn tay chai sạn của lão cào cấu trên nền đất nện, miệng không ngừng lầm rầm những câu khấn vái bằng tiếng địa phương:

- Cơm có nơi ăn, áo có nơi mặc, hồn ai nấy giữ, xác ai nấy yên. Chốn này không có đất Quan Âm, chốn này không có bánh đất nướng. Xin người chết đói quay về bãi sình, xin vong linh dưới sâu đừng quấy nhiễu nhà nghèo...

Nhìn lão già hoảng loạn vùi tro vào từng vết chân bùn, tôi bất chợt sực nhớ ra một chuyện cực kỳ quan trọng.

Chiếc máy ghi âm kỹ thuật số.

Tối qua, trước khi chìm vào giấc ngủ sau buổi trò chuyện với cụ Bảy,

tôi đã cài đặt chế độ tự động ghi âm dựa trên cảm biến âm thanh rồi đặt nó ngay trên chiếc hộp gỗ ở đầu giường nằm. Thiết bị này cực kỳ nhạy, chỉ cần một tiếng động nhẹ vượt quá ngưỡng tĩnh lặng của đêm khuya là nó sẽ lập tức kích hoạt bộ nhớ.

Tôi vội vã quay lại chỗ chiếc chõng con, cầm máy ghi âm lên. Màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu nhấp nháy ánh sáng xanh dịu. Trên thanh trạng thái hiển thị rõ một tệp âm thanh mới vừa được ghi lại vào rạng sáng nay.

Thời gian bắt đầu ghi: đúng ba giờ mười lăm phút sáng.

Tôi cắm chiếc tai nghe vào cổng kết nối, ấn nút phát lại rồi đưa lên tai, đồng thời điều chỉnh âm lượng lên mức cao nhất. Lão A Ngưu thấy tôi đứng sững lại thì cũng ngừng tay cào tro, ngước đôi mắt đỏ ngầu nhìn tôi đầy nghi ngại.

Những giây đầu tiên của đoạn băng chỉ tràn ngập tiếng gió rít nhè nhẹ qua khe liếp và nhịp thở nặng nhọc của chính tôi khi đang bị bóng đè. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc ngoài gian khách điểm từng nhịp chậm rãi.

Thế nhưng, khi đồng hồ điểm sang phút thứ mười bảy, âm thanh bắt đầu biến đổi một cách quái đản.

Răng rắc.

Đó là tiếng cót két của các nan tre trên bậu cửa sổ bị kéo giãn ra từ từ. Tiếp theo là một âm thanh ươn ướt, nhầy nhụa rơi bộp xuống sàn nhà đất nện, như thể một bọc giẻ ướt sũng vừa bị ném từ trên cao xuống.

Và rồi, một chuỗi tiếng động kỳ quái vang lên ngay sát màng nhĩ tôi.

Lép bép... lép bép...

Tiếng bùn nhão cọ xát vào mặt nan tre, sau đó là tiếng bước chân dẫm lên nền đất khô khốc. Nhưng xen lẫn giữa những tiếng bước chân nặng trịch ấy không phải là sự im lặng.

Đó là một tiếng thở khò khè, nghẹn ứ đến cùng cực. Âm thanh nghe như tiếng một người đang cố hít thở trong khi cổ họng ngập ngụa bùn đất và sỏi đá. Từng hơi thở rít qua kẽ răng run rẩy, đứt quãng và khô khốc.

- ... Đói... đói quá...

Một giọng nói thì thào méo mó vang lên từ trong tai nghe. Giọng nói của một đứa trẻ con, the thé và non nớt, nhưng lại mang một sự thê lương lạnh buốt khiến toàn thân tôi nổi gai ốc:

- ... Anh Bảy ơi... em thèm bánh đất... cho em... một miếng...

Tiếng thì thào dừng lại ngay sát micrô của máy ghi âm,

kèm theo tiếng nhóp nhép của môi miệng nhai trệu trạo một thứ đáng sợ khô cứng. Sau đó là tiếng bùn nhão lép bép quay ngược trở ra cửa sổ, rồi đoạn băng đột ngột ngắt quãng bằng một tiếng rít chói tai của từ trường nhiễu loạn.

Tôi từ từ tháo tai nghe ra khỏi tai, ngón tay run rẩy đến mức suýt làm rơi chiếc máy xuống đất.

Lời trăn trối mà cụ Bảy kể lại tối qua về đứa em trai chết vì tắc ruột do ăn đất sét trắng năm 1937 hoàn toàn trùng khớp với giọng nói vừa phát ra từ máy ghi âm. Linh hồn của đứa trẻ ấy,

hoặc thứ tà niệm hình thành từ cái chết bi thảm năm đó, thực sự đã tìm đến tận căn buồng này.

- Nó... trong đó có tiếng gì?

-

- Lão A Ngưu run giọng hỏi, đôi mắt lão dán chặt vào chiếc máy kim loại nhỏ bé trên tay tôi.

- Tiếng đứa trẻ đòi ăn bánh đất

- Tôi đáp, cổ họng khô khốc như vừa nuốt phải tro tàn.

Lão A Ngưu nghe xong thì rên rỉ một tiếng não nề, hai tay ôm lấy đầu rồi ngồi bệt xuống đống tro bếp nham nhở:

- Oan nghiệt... Thằng bé Tiểu Mã năm ấy chết thảm nhất vùng. Bụng nó chứa toàn đất sét trắng cứng như đá. Đêm qua cậu hỏi kỹ chuyện bánh đất quá, cái tên của nó bị lôi lên khỏi bùn lầy rồi! Bùn quỷ không buông tha cho kẻ nào tò mò về chuyện năm ba bảy đâu!

Tôi không trả lời lão A Ngưu. Cơn ớn lạnh từ sống lưng lan tỏa khắp các đầu ngón tay. Tôi cúi người xuống, cầm chiếc đèn pin soi kỹ lại vị trí dấu chân cuối cùng in sát cạnh mép gối của mình, nơi lão A Ngưu chưa kịp rải tro bếp che phủ.

Dưới ánh sáng quét ngang sát mặt sàn, lớp bùn đen sẫm xung quanh dấu chân đã bắt đầu khô quắt lại dưới tác động của không khí lạnh, nứt nẻ thành từng mảng nhỏ như da rắn.

Và ngay giữa vết lõm sâu hoắm của gót chân đứa trẻ, có một vật thể lạ đang trồi lên khỏi mặt đất nện.

Tôi ngồi thụp xuống, dí sát luồng sáng đèn pin vào vật thể ấy.

Đó không phải là một mảnh gốm vỡ từ chiếc điếu bát của lão A Ngưu, cũng không phải một cọng rơm rạ mục.

Ngay tại vị trí dấu chân bùn cuối cùng in sát cạnh gối tôi, một chiếc xương gà khô cháy đen cắm ngập một nửa xuống nền đất nện. Đầu chiếc xương nhọn hoắt,

chĩa thẳng đứng lên trời như một chiếc cọc phong ấn thu nhỏ, xung quanh vết cắm rỉ ra một vệt chất lỏng đen ngòm quánh đặc, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của thịt thối rữa chôn sâu dưới đáy mồ.

Chương khác

Xem thêm