Bùn Quỷ Thực - Chương 12: Chiếc Nón Rách Của Bác Phu Bùn
Hơi ẩm bốc lên từ mé đầm Bồ Tầm mang theo thứ mùi nồng nặc của bùn lầy ngâm rễ cây mục rữa. Tôi men theo con đường mòn nhỏ đầy gai góc, bước chân dẫm…
Nội dung chương
Hơi ẩm bốc lên từ mé đầm Bồ Tầm mang theo thứ mùi nồng nặc của bùn lầy ngâm rễ cây mục rữa. Tôi men theo con đường mòn nhỏ đầy gai góc,
bước chân dẫm trên lớp lá rụng dày xốp, tiến sâu vào rặng dâu tằm hoang phế nằm sát mép nước. Cả một vạt dâu rộng lớn xơ xác tiêu điều, những thân cây gầy guộc trơ trụi cành lá chĩa thẳng lên nền trời xám xịt của vùng biên Lĩnh Nam.
Ở mảnh đất này, người ta đồn rằng rặng dâu tằm hoang là nơi tụ khí âm nặng nề nhất sau bãi sình lầy. Thời trước, khi tằm ăn rỗi nhả tơ, đất đai trù phú nuôi sống biết bao miệng ăn. Nhưng từ sau mùa đói năm 1937,
cây dâu bị bóc sạch vỏ để nấu canh cầm hơi, tằm chết khô trong nong, cả vùng đất hóa thành một bãi tha ma không bia mộ. Đêm xuống, sương mù từ sông Tây Giang tràn qua mặt đầm, phủ một lớp màng trắng đùng đục lên từng nhánh cây khô khốc.
Tôi dừng chân trước một gốc dâu tằm cổ thụ to bằng hai người ôm. Vỏ cây nứt nẻ từng mảng lớn, rỉ ra những giọt nhựa sẫm màu quánh đặc.
Dưới gốc cây, tôi đặt chiếc nón lá rách tơi tả vừa vớt được ở mép sình lầy khi chiều. Vành nón bằng tre đã gãy vụn nhiều khúc, từng lớp lá cọ tước xơ xác,
bết dính những mảng bùn đen khô cứng cùng rêu nước bốc mùi chua nồng. Chiếc nón này trôi dạt dưới đáy bùn suốt mấy mươi năm qua, nằm lẫn trong đám rễ bèo tây mục nát cho đến khi một trận mưa rào cuốn trôi lớp đất bề mặt, để lộ ra chóp nón mục ruỗng.
Theo tập tục chiêu hồn người chết đuối vùng Lĩnh Nam mà lão A Ngưu từng dặn dò, người chết trôi nơi đầm lầy nếu không tìm thấy xương cốt thì phải dùng vật tùy thân còn vướng lại trần thế để dẫn lối.
Tôi rút từ ba lô ra ba cây nến trắng thô ráp làm bằng mỡ heo. Đặt từng cây nến thành hình tam giác bao quanh vành nón rách, tôi quẹt diêm thắp lửa.
Tách.
Tàn diêm rụng xuống nền đất ướt. Ngọn lửa vàng le lói bùng lên,
soi rõ những sợi chỉ khâu đứt đoạn bám đầy đất cát trên vành nón. Xung quanh tĩnh mịch đến rợn cả gáy. Không có tiếng ếch nhái kêu ran, không có tiếng dế rỉ rả, toàn bộ sinh vật hình như đều trốn chạy khỏi hơi thở tanh nồng của đầm nước.
Một luồng gió bấc từ mặt sông Tây Giang đột ngột thốc mạnh vào rặng dâu. Ba ngọn nến trắng chao đảo dữ dội,
tim nến lách tách nổ nhỏ từng tiếng đanh gọn. Màu lửa vàng rực trong chớp mắt chuyển hẳn sang sắc xanh le lói, lạnh ngắt, hắt lên thân cây dâu cổ thụ những vệt sáng ma quái.
Hơi sương dâng cao cuồn cuộn từ mé đầm, quấn chặt lấy gốc dâu tằm.
Từ sau những cành cây khẳng khiu trơ trụi,
một cái bóng mờ nhạt bắt đầu tụ lại. Ban đầu bóng hình ấy chỉ là một vệt sương lam mỏng manh dập dờn theo từng đợt gió, nhưng sau tiếng thở dài não nuột phát ra từ thinh không, đường nét của một thiếu nữ gầy gò dần hiện rõ ngay trước mắt tôi.
Cô gái trạc chừng mười bảy tuổi, vóc người nhỏ thó mảnh khảnh.
Cô khoác trên mình bộ áo vải thô màu nâu bạc phếch, từng mảng vải rách nát để lộ ra xương quai xanh nhô cao cùng những mảng da thịt bầm tím vết bùn.
Mái tóc dài xơ xác bết chặt vào hai bên gò má hốc hác, đôi mắt trũng sâu hoắm ầng ậc nước nhưng không hề có tròng đen, chỉ có một màu đục ngầu như nước đáy ao tù.
Cô gái bước từng bước nhẹ bẫng trên thảm lá mục, không tạo ra một tiếng động nhỏ nào. Đôi bàn tay gầy guộc run lẩy bẩy, mười đầu ngón tay khẳng khiu như cành củi khô từ từ vươn ra, nhẹ nhàng vuốt ve lên vành nón rách nằm giữa ba ngọn nến trắng.
- Nón của mẹ...
-
- Giọng nói vang lên nghẹn ngào, mỏng manh như sợi tơ dâu sắp đứt, lướt qua tai tôi lạnh buốt
- Mẹ đan cho em... ngày em tròn mười bảy...
Tôi nắm chặt chiếc máy ghi âm trong túi áo, cẩn thận lùi lại nửa bước để không kinh động đến vong hồn, cất giọng trầm xuống:
- Em là cô Ba Cửu?
Thiếu nữ không ngẩng đầu lên, những ngón tay gầy guộc vẫn miết dọc theo từng nan tre gãy nát của chiếc nón lá, từng giọt nước đùng đục từ hốc mắt cô nhỏ xuống, thấm ướt lớp đất sình lầy:
- Người trong làng gọi em là Ba Cửu... Vì em sinh vào ngày mùng chín tháng ba... Nhà nghèo xơ xác, cả đời em chưa từng được một bữa cơm no trọn vẹn...
Cô gái nghẹn ngào nấc lên từng tiếng xé ruột xé gan. Giọng kể của cô hòa lẫn với tiếng gió rít qua rặng dâu trơ trụi, đưa tôi quay trở về mùa đông tang tóc của năm Đinh Sửu 1937.
Năm ấy, trời làm hạn hán ròng rã suốt sáu tháng trời, sông Tây Giang trơ đáy, ruộng đồng nứt toác chân chim. Rồi một trận lũ quét bất ngờ từ thượng nguồn đổ về, biến toàn bộ vùng hạ lưu thành biển nước bùn. Khi nước rút đi, hoa màu thối rữa dưới bùn lầy,
lá dâu ngập úng chuyển sang màu đen thui. Tằm trong nong chết hàng loạt, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc khắp thôn cùng ngõ hẻm. Nạn đói ập đến nhanh như một cơn cuồng phong, quét sạch trơn chút lương thực dự trữ cuối cùng của người dân bờ Tây Giang.
Gia đình cô Ba Cửu rơi vào bước đường cùng kiệt quệ. Cha cô nằm liệt giường vì kiệt sức, hai chân teo tóp lại như hai thanh củi. Ba đứa em thơ của cô,
đứa lớn nhất mới lên bảy, đứa nhỏ nhất hãy còn ẵm ngửa, suốt ngày đêm bò lăn lộn trên chiếc phản tre ọp ẹp, khóc lóc đòi ăn. Bụng của chúng trướng to vì uống nước lã trừ bữa, da bọc xương, đôi mắt lồi ra đờ đẫn nhìn lên mái rạ thủng lỗ chỗ.
Mẹ cô Ba Cửu khóc đến cạn khô dòng lệ, ngày ngày đi đào từng gốc cỏ chỉ, bới từng vỏ cây dâu khô về giã nhỏ nấu thành thứ cháo chát ngắt. Nhưng vỏ cây cũng nhanh chóng cạn kiệt, người trong làng bắt đầu bứt cả rễ bèo thối dưới đầm Bồ Tầm lên nuốt.
Đúng lúc cả nhà đang thoi thóp chờ chết bên hiên tranh rách nát, một gã lái buôn từ đất ngoài đặt chân đến thị trấn Vọng Ngưu Đôn.
Gã dong một chiếc thuyền gỗ lớn đậu bến sông,
mang theo giọng nói lơ lớ của người phương xa. Gã đi khắp các ngõ ngách trong làng, ngó nghiêng vào từng túp lều rách, tìm kiếm những gia đình có con gái mới lớn. Gã không mua bán bằng tiền đồng hay bạc vụn, gã ra giá trực tiếp bằng lương thực.
- Gã bảo... một đứa con gái mười bảy tuổi đổi lấy nửa bao ngô hạt...
-
- Hồn ma Ba Cửu run rẩy siết chặt vành nón rách, thanh âm nghẹn đắng hờn oán
- Nửa bao ngô... đổi lấy một mạng người... Nuôi lớn mười bảy năm trời, cái giá rẻ mạt đến thế đấy...
Trước cái chết đang kề cận ba đứa em thơ, cha mẹ cô không còn lựa chọn nào khác. Ông bố nằm trên giường quay mặt vào vách đất rách nát.
hai vai run bần bật từng cơn. Người mẹ ôm chặt lấy Ba Cửu vào lòng, vừa khóc vừa lấy chiếc nón lá mới đan còn thơm mùi tre tươi đội lên đầu con gái, dặn dò cô đi theo người ta ráng ngoan ngoãn hầu hạ để có miếng cơm sống qua ngày loạn lạc.
Gã lái buôn kéo nửa bao ngô hạt vứt phịch xuống thềm đất, buộc miệng bao bằng sợi dây thừng bện chặt. Gã hẹn sáng sớm hôm sau khi trời vừa hửng sương sẽ đem thuyền đến rước Ba Cửu đi về mạn ngược.
Buổi tối hôm ấy, cả túp lều xao động trong niềm hy vọng mong manh. Người mẹ run rẩy mở miệng bao,
bốc ra từng nắm ngô hạt màu vàng ruộm nấu một nồi cháo lớn cho cả nhà cầm cự. Mùi thơm ngai ngái của ngô tỏa khắp gian nhà ẩm thấp, khiến lũ trẻ đói lả vùng dậy, chen chúc quanh chiếc nồi sứt quai, nuốt nước bọt ừng ực.
Ba Cửu ngồi co ro bên góc bếp, chiếc nón rách úp trên đùi, lòng trĩu nặng nỗi buồn tủi khi sắp phải lìa xa gia đình bước vào chốn vô định.
Nhưng bi kịch thật sự chỉ bắt đầu phơi bày khi màn đêm buông xuống sâu hơn.
Đêm hôm đó, Ba Cửu trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Khát nước, cô lần mò xuống chái bếp tìm gáo múc nước trong chum. Khi bước qua bao ngô hạt nằm ở góc nhà, cô vô tình vấp phải đáy bao. Dây buộc lỏng lẻo tuột ra, lớp ngô bên trong tràn ra nền đất ẩm.
Ba Cửu vội quỳ xuống gom ngô lại, nhưng những ngón tay cô chạm phải thứ gì đó lạo xạo, xốp và lạnh buốt.
Cô bàng hoàng bới sâu xuống đáy bao.
Dưới ánh trăng mờ hắt qua khe liếp, sự thật trần trụi hiện ra xé nát tim can cô gái trẻ.
Lớp ngô hạt vàng ươm mẩy hạt chỉ là một lớp mỏng dính rải đều trên bề mặt để che mắt người mua.
Toàn bộ phần ruột bên dưới của nửa bao tải hoàn toàn là bùn sét khô đập vụn trộn lẫn với cát sạn đen ngòm và những hạt ngô mốc xanh mốc đỏ đã bốc mùi thối rữa.
Gã lái buôn táng tận lương tâm đã dùng thứ bùn đất pha sạn này để lừa đổi lấy một mạng trinh nữ.
Kinh hoàng tột độ, Ba Cửu chạy vội lên gian nhà trên định báo cho cha mẹ. Nhưng tất cả đã quá muộn.
Nồi cháo ngô nấu buổi tối đã bị cả nhà cô đói khát vét sạch đến hạt cuối cùng. Cơn đói cồn cào khiến ngũ quan của họ tê liệt, không một ai nhận ra thứ bột sền sệt béo ngậy ấy thực chất là bùn sét hòa lẫn chất mốc độc hại.
Tiếng rên rỉ đau đớn bắt đầu vang lên từ chiếc phản tre.
Ba đứa em nhỏ quằn quại ôm bụng giãy giụa kịch liệt. Đất sét gặp nước trong dạ dày bắt đầu trương nở,
vón cục lại thành những khối rắn đanh, bít chặt ruột gan non nớt của lũ trẻ. Cha mẹ cô lăn lộn dưới đất nện, hai tay cào cấu điên cuồng vào cổ họng, nôn thốc nôn tháo ra những bãi bùn đen sì quánh đặc lạo xạo cát sạn.
- Mẹ ơi... Cha ơi...
-
- Ba Cửu gào khóc trong tuyệt vọng, cô nhào tới đỡ mẹ dậy nhưng người đàn bà khốn khổ chỉ trợn trừng hai mắt, tròng mắt vỡ tơ máu đỏ lòm.
Bụng của họ căng phồng lên như những chiếc trống cái sắp nổ tung. Từng tiếng thở đứt quãng ngập tràn bọt máu và bùn đen. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ,
tiếng khóc của lũ trẻ yếu dần rồi tắt hẳn. Ông bố chết gập người trên ngưỡng cửa. Mười đầu ngón tay cắm sâu vào nền đất. Người mẹ trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay Ba Cửu, khóe miệng vẫn trào ra những mảng bùn thối rữa.
Cả một gia đình năm miệng ăn chết thảm khốc chỉ sau một bữa cháo bùn lừa lọc.
Hồn ma Ba Cửu ngửa mặt lên trời, tiếng khóc than vang vọng khiến rặng dâu tằm xung quanh rung bần bật, lá khô rụng lả tả xuống vũng sình lầy:
- Em gào thét tên gã buôn... Em chạy ra bờ sông tìm thuyền của gã... Nhưng bến sông vắng tanh... Gã đã nhổ sào chuồn mất từ nửa đêm... Gã biết thứ bùn ấy ăn vào sẽ giết người... Gã chỉ muốn cướp sạch mọi thứ rồi bỏ trốn...
Nỗi uất ức cùng cực bóp nghẹt tâm can cô gái mười bảy tuổi. Cha mẹ chết thảm,
đàn em chết oan, danh dự bị chà đạp, cuộc đời rơi vào hố sâu tuyệt vọng không lối thoát. Cô quay trở lại căn nhà đất ngập tràn xác người thân, ôm lấy chiếc nón lá rách nát của mẹ vào lòng, rồi cứ thế cắm đầu chạy trong bóng đêm mịt mùng.
Cô không chạy vào làng cầu cứu, vì cô biết cả cái làng Vọng Ngưu Đôn này ai nấy đều đang ngấp nghé bên bờ vực của thần chết, chẳng còn ai đủ sức mà đoái hoài đến thảm cảnh của kẻ khác.
Ba Cửu chạy thẳng ra mé đầm Bồ Tầm. Đứng trước vùng bùn đen quánh đặc sâu không thấy đáy, cô ôm chặt chiếc nón rách trước ngực, nhắm nghiền mắt lại rồi lao mình xuống dòng sình lầy lạnh buốt.
Bùn nhão nuốt chửng thân xác xuân thì của cô trong sự ngạt thở kinh hoàng. Bùn xộc vào mũi, tràn vào họng, nhấn chìm cô xuống tầng sâu tăm tối nhất của đầm lầy, vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời nữa.
Gió sông Tây Giang rít lên từng hồi ai oán qua rặng dâu hoang.
Ba cây nến trắng cắm trên mặt đất bỗng bùng cháy dữ dội, ngọn lửa xanh lè cao vút lên rồi lụi tàn dần, bốc lên những sợi khói đen mỏng manh có mùi mỡ khét lẹt.
Bóng hình của cô Ba Cửu bắt đầu tan rã. Đôi mắt đùng đục của cô nhìn chằm chằm vào tôi lần cuối cùng, bàn tay cô từ từ buông vành nón rách ra:
- Cậu tìm kiếm người xưa... Cậu hãy nhớ lấy cái giá của bùn đất năm ba bảy... Bùn nuốt mạng người... nhưng lòng dạ kẻ buôn người còn tanh tưởi hơn cả bùn đầm lầy...
Dứt lời, thân ảnh thiếu nữ vỡ òa thành một dải sương mù màu lam mỏng, lượn lờ vòng quanh thân cây dâu cổ thụ ba vòng rồi chìm hẳn xuống mặt nước đen ngòm của đầm Bồ Tầm.
Sương đêm tan dần, để lại không gian lạnh lẽo buốt giá.
Dưới ánh đèn pin cầm tay rọi xuống, trên vạt cỏ dại quanh gốc dâu tằm trơ trọi chỉ còn đọng lại những vệt nước nhờn dính bết, đùng đục như thứ nhựa tằm chết úng lâu ngày. Mùi tanh tưởi của bùn sình nồng nặc bám chặt vào từng thớ gỗ.
Tôi cúi người nhặt chiếc nón rách lên, khẽ phủi đi lớp đất cát bám trên mặt lá.
Dưới ánh sáng trắng của đèn pin, ánh mắt tôi đột ngột khựng lại ở phần chóp nón mục nát.
Nơi giao nhau giữa các nan tre bị gãy, có một mẩu chỉ đỏ đã phai màu được luồn khéo léo qua kẽ lá. Mẩu chỉ đỏ này được thắt nút theo hình mắt cáo phức tạp, ở giữa buộc chặt một mảnh giấy nhỏ bằng ngón tay cái đã ố vàng vì ngâm nước lâu năm.
Tôi cẩn thận dùng nhíp gắp mảnh giấy ra, nhẹ nhàng mở lớp giấy bết dính. Trên mặt giấy xỉn màu, những nét mực chu sa đỏ quạch hiện rõ mồn một. Đó là một đạo bùa trấn yểm thu hồn mang phong cách phù chú của vùng núi Tương Tây xa xôi.
Nét chữ ngoằn ngoèo như rắn trườn, ở góc dưới còn điểm một dấu triện hình đầu trâu nhỏ xíu.
Kẻ lái buôn năm xưa không đơn thuần là một kẻ trục lợi nạn đói. Việc gã mang ngô độn bùn độc đến thị trấn Vọng Ngưu Đôn,
việc gã cố tình thắt bùa trấn yểm vào nón của nạn nhân. Tất cả đều nằm trong một sự sắp đặt rùng rợn từ vùng Tương Tây, nhằm biến những người chết đói thành một bãi tha ma oan hồn nuôi dưỡng thứ bùn quỷ dưới đáy đầm Bồ Tầm.
Tôi siết chặt mảnh giấy bùa trong lòng bàn tay, ngước mắt nhìn về phía cánh rừng trúc tối om phía xa. Gió đêm vẫn gầm gào thổi qua rặng dâu xơ xác, báo hiệu những bí mật chôn vùi dưới lòng đất Lĩnh Nam đang từng bước trồi lên theo từng lớp bùn đen.