Bùn Quỷ Thực - Chương 14: Bụi Tre Khô Bên Bờ Mương
Bàn tay khô quắt rụt sâu vào lòng bếp lò rồi tan thành tro bụi nguội ngắt, để lại chái bếp hoang tàn trong sự im lìm lạnh toát. Tôi kéo chặt khóa áo…
Nội dung chương
Bàn tay khô quắt rụt sâu vào lòng bếp lò rồi tan thành tro bụi nguội ngắt, để lại chái bếp hoang tàn trong sự im lìm lạnh toát.
Tôi kéo chặt khóa áo khoác gió, bước qua bậc cửa mục nát của nhà mụ Cả Lý. Bên ngoài, trời đã ngả về canh năm. Màn đêm đen đặc chuyển dần sang màu chì xám xịt,
nhưng không gian vẫn nặng trĩu sương ẩm và khí lạnh bốc lên từ lòng đất Vọng Ngưu Đôn. Những ngọn gió thổi từ phía lòng sông Tây Giang dội ngược vào triền dốc, mang theo thứ mùi sình lầy tanh tưởi quen thuộc của đầm Bồ Tầm.
Theo lời kể của những cụ già am hiểu tích xưa trong thị trấn, ở phía đầu làng có một gò đất mấp mô nhô cao hơn hẳn những bãi tha ma xung quanh. Người ta gọi nơi đó là gò Trâu Nằm, hoặc cái tên rợn cả gáy hơn là gò Đống Đói. Năm một chín ba bảy,
nạn đói tràn qua cướp đi sinh mạng của hàng chục đứa trẻ chăn trâu. Xác chúng chết vất vưởng dọc bờ đầm, người lớn gom lại đào những cái hố nông choèn vùi tạm trên gò cao để tránh nước lũ mé sông tràn vào.
Tôi lần theo bờ ruộng cằn cỗi mọc đầy cỏ may và lau sậy khô khốc để leo lên dốc. Dưới đế giày cao su,
đất đá vụn lạo xạo kêu ken két. Càng lên cao, ngọn gió càng thổi thốc từng luồng rát rạt vào mặt, cuốn theo cát sỏi li ti và hơi nước lạnh buốt khiến sống mũi cay xè.
Gò Trâu Nằm trơ trọi giữa trời rạng sáng, bốn bề không một bóng cây lớn che chắn, toàn những mô đất nhấp nhô lởm chởm đá cuội xám xịt. Đứng trên đỉnh gò nhìn xuống,
thung lũng Bồ Tầm hiện ra tối tăm như một cái miệng vực khổng lồ đang há to nuốt chửng bóng đêm. Mặt nước đầm lầy phẳng lặng không một gợn sóng, ánh lên sắc đen nhờn nhợt của dầu mỡ ứ đọng.
Gió bỗng đổi chiều, gầm rít liên hồi qua các khe đá rỗng.
Vút. Chát.
Âm thanh sắc lẹm xé toạc màn gió rít. Tiếng một ngọn roi mây quất mạnh vào không khí nghe giòn tan, tiếp sau đó là tiếng chân trâu nện thình thịch xuống lớp sỏi đá ẩm ướt.
Tôi đứng sững lại giữa lưng chừng mỏm đất, tay siết chặt chiếc đèn bão đã vặn nhỏ bấc.
Từ mé dốc thoai thoải dẫn xuống thung lũng, tiếng la hét the the của trẻ con bắt đầu vọng lên. Giọng nói ấy đứt quãng, lạc hẳn đi vì khản đặc, hòa lẫn vào tiếng thở hồng hộc nặng nhọc:
- Trâu ơi... về ăn cỏ... Về đi... Tao đói quá... Má ơi... Cho con miếng cơm...
Mỗi tiếng thét vang lên lại kéo theo một vệt rách toạc của gió lạnh. Không gian mờ đục sương sớm đặc quánh lại, tụ thành một vùng mây mù nhờ nhờ ngay trước mỏm đá mồ côi nằm trơ trọi bên mép vực.
Bóng hình một đứa trẻ hiện rõ dần trên phiến đá nứt toác.
Đó là một cậu bé chừng chín tuổi, mình trần trùng trục, nước da tái xám ngắt bám đầy những vệt đất khô cằn.
Hai cánh tay và hai cẳng chân của nó khẳng khiu trơ trọi từng khớp xương, nhỏ thó hệt như những cành củi gãy rụng sau cơn bão.
Cổ nó gầy guộc đến mức chiếc đầu to gộc trĩu nặng dập dờn trên đôi vai nhô cao hai xương quai xanh sắc nhọn.
Đôi mắt trũng sâu hoắm, lòng đen co nhỏ bằng hạt đỗ, bao quanh là tròng trắng đùng đục rỉ ra những giọt ghèn vàng khè.
Điểm ghê rợn nhất đập vào mắt tôi là phần thân dưới của đứa trẻ.
Tương phản hoàn toàn với tứ chi tong teo khô quắt, cái bụng của nó phình to dị dạng, căng tròn bóng nhẫy như một chiếc trống cái bị nén chặt quá mức.
Lớp da bụng mỏng tang bị kéo căng đến mức trong suốt, nổi cộm chằng chịt những đường gân xanh, gân tím ngoằn ngoèo tựa rễ cây si.
Thậm chí qua lớp da căng mọng ấy, tôi nhìn thấy những khối đen kịt, lổn nhổn đang chuyển động chậm chạp bên trong nội tạng của nó.
Thằng bé ngồi bệt trên mỏm đá, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy bụng dưới. Tiếng da thịt va đập vào nhau phát ra âm thanh lộp bộp nặng nề:
- Ục... ọc... Đói... Con đói quá má ơi...
Nó là thằng Tiểu Mã, đứa trẻ chăn trâu của xóm ngoài từng được ghi chép vắn tắt trong cuốn gia phả mục nát của dòng họ họ Trần ở Vọng Ngưu Đôn.
Tôi đứng cách phiến đá chừng năm bước chân, hạ thấp chiếc đèn bão xuống cạnh gối. Ánh sáng vàng vọt hắt lên gương mặt méo mó của linh hồn đứa trẻ. Tôi khẽ cất lời, cố giữ cho giọng mình thật trầm tĩnh:
- Tiểu Mã... Em có nghe thấy anh nói không?
Đứa bé giật nảy mình, cái đầu trơ xương ngửa ra sau một góc gãy gập kỳ quái. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt dại đi vì đói,
miệng há hốc để lộ hàm răng đen sì khấp khểnh mòn vẹt vì cắn vỏ cây. Nó không trả lời câu hỏi, chỉ giơ cánh tay que củi lên quệt ngang khóe miệng dính đầy dịch vàng bốc mùi thum thủm:
- Cậu có cơm không... Cho em xin một hột... Một hột dính đũa thôi cũng được... Cả tuần nay em nhai lá dâu trừ bữa... Ruột gan em nó cắn nhau rách toạc rồi...
Tiếng rên rỉ nghẹn ngào khiến không khí rạng sáng càng thêm buốt giá. Tôi lắc đầu,
trong túi áo tôi chỉ có cuốn sổ tay, máy ghi âm và vài mảnh bùa cũ nhặt được từ hai linh hồn trước. Sự bất lực cào xé tâm can tôi khi nhìn vào cái bụng căng tròn sắp vỡ của đứa trẻ.
Tiểu Mã cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay khẳng khiu lại cào cấu vào lớp da bụng bóng nhẫy. Từng móng tay cáu bẩn cào rách từng vệt máu xám loãng trên da, nhưng hình như nó chẳng hề cảm thấy đau đớn. Nỗi đói khát năm xưa vượt xa mọi cực hình thể xác:
- Chiều hôm đó... trời nóng như thiêu... Đàn trâu chẳng còn cọng cỏ nào để gặm, chúng nó cắm đầu liếm láp những hòn sỏi nóng ran... Em dắt trâu mò xuống mé đầm Bồ Tầm... Mắt em tối sầm lại, hai tai lùng bùng nghe tiếng người ta gõ chén xin cơm...
Thằng bé bắt đầu nhớ lại buổi chiều định mệnh của năm một chín ba bảy. Giọng nó lúc thì thầm thì nhỏ giọt, lúc lại rít lên rin rít qua kẽ răng:
- Em đói lả người, hai đầu gối quỵ xuống bùn lầy. Em bò trên mặt đầm... Rồi em thấy... Em thấy lạ lắm cậu ơi...
Bàn tay gầy guộc của nó vung vẩy giữa khoảng không vô định, chỉ về phía lòng thung lũng đen ngòm phía dưới:
- Bùn không đen nữa... Nước đầm bỗng hóa thành nước đường trong vắt... Dọc theo mé nước,
từng tảng, từng khối trắng phau phau trồi lên khỏi mặt đất... Đó là đường phèn! Những tảng đường phèn to bằng cái thúng, trong suốt, lấp lánh dưới nắng chiều... Em ngửi thấy mùi mật mía thơm lừng... Mùi thơm ngọt ngào bay thẳng vào cuống họng, làm nước dãi em trào ra giàn giụa...
Đó chính là ảo ảnh do Quỷ Thực Nê tạo ra. Loài quỷ bùn đất ăn sâu vào tâm thức của những kẻ sắp chết đói, bóp méo thị giác và khứu giác của họ, biến thứ bùn non tanh tưởi độc hại thành của ngon vật lạ để dụ dỗ người ta tự chôn vùi sự sống.
Tiểu Mã trợn trừng mắt, ánh mắt lộ rõ vẻ điên dại của kẻ chết chìm trong cơn mê muội:
- Em mừng quá... Em hét lên gọi mẹ... Em bảo mẹ ơi ở đầm có đường, nhiều đường lắm, nhà mình không phải chết đói nữa rồi! Em nhào tới tảng đường gần nhất... Em vục cả hai tay vào...
Nó vừa nói vừa làm lại động tác năm xưa. Đôi bàn tay xương xẩu vồ vập cào bới vào không khí, rồi đưa vụt lên miệng.
- Đường phèn dẻo quánh... Đường phèn mịn như mỡ gà, mát lạnh cả lưỡi... Em ngoạm từng tảng lớn... Em tọng lấy tọng để vào họng... Nuốt không kịp thở... Càng nuốt lại càng thấy ngọt lịm...
Nó ngửa cổ, há to miệng nuốt ừng ực. Từng tiếng nghẹn ngào vang lên rõ mồn một giữa đỉnh gò hoang. Nhưng trong mắt tôi, thứ nó đang hồi tưởng nuốt vào miệng là những vốc bùn non đáy đầm Bồ Tầm, thứ bùn nhờn dính, tanh tưởi, tích tụ oán khí ngàn năm của đầm lầy.
- Em ăn nhiều lắm... Ăn đến mức hai má phồng rộp... Vừa nhai vừa cười sằng sặc... Đàn trâu đứng trên bờ nhìn em, chúng nó rống lên từng hồi kinh hãi, nhưng em mặc kệ... Em tưởng mình đang được dự tiệc của nhà địa chủ...
Giọng Tiểu Mã đột ngột trầm xuống, vỡ vụn thành tiếng nấc nghẹn ngào. Đôi mắt nó co giật liên hồi, hai tròng mắt trợn ngược để lộ toàn màng trắng bợt:
- Nhưng nuốt xong hết một bụng đường... Em thấy buốt... Lạnh buốt từ rốn lạnh lên tận ức...
Nó quỳ sụp xuống mặt đá, hai tay bấu chặt lấy chiếc bụng trướng to tướng:
- Bùn... Bùn trong bụng bắt đầu sống dậy... Nó không tan ra như đường... Bùn gặp nước dạ dày liền hút kiệt sinh khí trong người em rồi nở bung ra... Nở to từng tấc, từng tấc một!
Những vệt gân máu trên bụng Tiểu Mã bỗng nhiên giật nảy tanh tách. Mặt ngoài da bụng căng phồng lên,
bóng loáng như mặt gương soi. Âm thanh lục bục phát ra từ sâu bên trong, như thể có hàng ngàn con sâu đất đang ngọ nguậy, đùn đẩy lớp sình lầy quánh đặc tích tụ trong ruột nó.
- Đau quá má ơi! Ruột con cứng đơ rồi! Bụng con nặng như đeo cối đá!
Tiếng thét thất thanh của thằng bé xé toạc màn sương sớm lạnh lẽo.
Nó ngã vật ra mỏm đá, hai chân giãy giụa đập thình thịch xuống đất.
Cơn đau quằn quại của một đứa trẻ bị bùn đất đóng bánh trong ổ bụng tái hiện trọn vẹn trước mắt tôi.
Bùn non sau khi lọt vào dạ dày người đói lả sẽ kết dính với dịch tiêu hóa,
trương nở đến cực hạn rồi hóa thành một khối đất sét rắn như đá tảng. Khối đất sét bít kín toàn bộ đường ruột. Nó ép nghẹt các mạch máu và chèn ép phổi. Nạn nhân chết trong sự ngạt thở và vỡ nội tạng tàn khốc.
- Em không đứng dậy nổi... Khối đá trong bụng kéo ghì em xuống... Em chỉ còn cách dùng hai cùi chỏ bò lê trên sỏi đá... Em muốn bò về nhà với má...
Tiểu Mã vừa khóc vừa bò lết trên mặt phiến đá gồ ghề. Da thịt đầu gối và bàn tay nó cọ xát vào đá tảng, để lại những vệt chất nhầy xám xịt rỉ ra từ lỗ chân lông:
- Con trâu mộng trung thành ngậm lấy vạt áo rách của em lôi đi... Nhưng cái bụng nặng quá... Nặng như quả núi ngàn cân... Nó lôi em lên đến lưng chừng gò đất này thì em đứt thở...
Tiếng gào xé ruột của đàn trâu năm xưa như vẫn còn vương vất trong từng đợt gió rít qua khe đá. Đứa trẻ nằm co quắp trên nền đất lạnh, hai mắt trợn trừng nhìn lên bầu trời đen kịt của năm một chín ba bảy, chờ đợi cái chết từ từ nghiền nát từng đoạn ruột.
- Em chết nằm cong queo như con tôm luộc... Bụng em to đến mức người ta không thể đặt em vào trong manh chiếu rách... Họ phải vần em xuống hố như vần một cối đá... Bùn trong bụng em... Chết rồi nó vẫn không chịu buông tha...
Tiểu Mã nằm bất động trên mỏm đá mồ côi, tiếng thở dốc dần chuyển thành những tràng nấc cụt thê lương.
Trời phía đông bắt đầu le lói những tia sáng yếu ớt màu đỏ bầm, xuyên qua lớp mây mù dày đặc phủ trên rặng núi xa xa. Giờ giao thời giữa đêm và ngày sắp kết thúc, âm khí bắt đầu tán dần theo làn sương muối bốc hơi khỏi mặt đất.
Thân ảnh khẳng khiu của Tiểu Mã nhạt nhòa dần trong ánh sáng ban mai. Chiếc bụng trướng to tướng của nó xẹp xuống từng chút một, biến thành những dải khói xám bốc mùi đất ẩm trôi dạt vào không gian.
Trước khi dải sương mù hoàn toàn tan biến, phần đầu của đứa trẻ bỗng ngoẹo sang một bên.
Đôi mắt trắng dã của nó nhìn trừng trừng vào mặt tôi. Đó là cái nhìn thấu tận tâm can của một kẻ đã trải qua tận cùng của sự lừa mị và đau đớn nơi trần thế.
Cánh tay gầy guộc run rẩy của nó từ từ nâng lên,
ngón tay trỏ khẳng khiu bám đầy bùn đen chĩa thẳng về phía cánh rừng trúc rậm rạp nằm ở mé tây đầm Bồ Tầm. Nơi đó, những thân trúc cao vút đan cài chằng chịt vào nhau tạo thành một bức tường xanh đen u ám, ngăn cách thung lũng lầy lội với thế giới bên ngoài.
Tiểu Mã mở miệng, giọng nói của nó lần này không còn the the như tiếng trẻ con đòi ăn, mà biến thành âm thanh trầm đục, nghẹn ngào như tiếng bùn sôi sủi bọt dưới lòng đất:
- Đừng nhìn... Chớ có dại dột mà nhìn bùn mé rừng trúc ra kẹo ngọt... Đằng kia có thứ quỷ ăn hồn... Chớ có nuốt lấy một hạt đất... Bùn ở đó sinh ra để nuốt sống người ta...
Tiếng rít cuối cùng vừa dứt thì một luồng gió mạnh từ mé sông thổi thốc lên gò cao, cuốn phăng toàn bộ bóng hình tàn tạ của đứa trẻ vào khoảng không vô định.
Phiến đá mồ côi trở lại vẻ trơ trọi nguyên thủy của nó.
Trên mặt đá xám xịt,
chỉ còn đọng lại một vũng chất nhầy màu đen nhờn nhợt, bốc lên mùi sình lầy nồng nặc và tanh tưởi. Vũng bùn ấy từ từ khô lại dưới ngọn gió sớm, nứt toác thành những mảng vảy xám hệt như lớp vảy trên da bụng căng phồng của thằng bé vừa biến mất.
Tôi đứng lặng hồi lâu trên đỉnh gò Trâu Nằm. Gió sớm quất mạnh vào tà áo khoác, mang theo cái lạnh tê tái ngấm sâu vào từng thớ thịt. Dưới chân gò,
đầm Bồ Tầm dần lộ diện dưới ánh sáng tờ mờ của buổi sớm. Mặt nước phẳng lặng như gương, nhưng dưới đáy sâu của lớp bùn non đen đặc kia, biết bao sinh mạng vô tội của năm một chín ba bảy đã bị chôn vùi trong những ảo ảnh lừa lọc tàn độc.
Thằng Tiểu Mã chết vì nhìn bùn non ra đường phèn.
Sự đói khát cùng cực làm tê liệt lý trí, khiến con người ta sẵn sàng tin vào những điều phi lý nhất để tự huyễn hoặc bản thân trước khi bị tà thuật của bùn quỷ cắn nuốt sạch sẽ.
Lời cảnh báo trăn trối của đứa bé chăn trâu về vạt rừng trúc phía tây đầm lầy vẫn ong ong bên tai tôi như một hồi chuông báo động.
Tôi cúi người tắt ngọn đèn bão, cất cuốn sổ ghi chép vào túi áo ngực rồi chỉnh lại ba lô trên vai. Ánh mắt tôi hướng thẳng về phía vạt rừng trúc đen kịt đang đung đưa xào xạc theo chiều gió sớm. Ở nơi đó,
sương muối phủ dày đặc trên những gốc trúc già, che giấu đi những nấm mồ vô danh và những bí mật rùng rợn nhất của nạn đói năm xưa đang đợi người đến lật mở.