Bùn Quỷ Thực - Chương 17: Hồn Ma Thôn Nữ Kể Giấc Mơ
Gió bấc cuối đông thốc từng cơn buốt nhọn qua kẽ ngói vỡ của mái đình Vọng Ngưu Đôn. Âm thanh rít rào ma quái vang lên luồn qua những thanh rui mè mục…
Nội dung chương
Gió bấc cuối đông thốc từng cơn buốt nhọn qua kẽ ngói vỡ của mái đình Vọng Ngưu Đôn. Âm thanh rít rào ma quái vang lên luồn qua những thanh rui mè mục nát, nghe như tiếng một người đàn ông đang thở dốc vì kiệt sức sau một chặng đường dài không có hồi kết.
Tôi lần bước qua khoảng sân đình lát gạch Bát Tràng đã vỡ nát gần hết, cỏ bấc và rêu xanh mọc trùm lên những đường rãnh lồi lõm. Mảnh ngói trong túi ngực vẫn còn âm ỉ tỏa nhiệt,
nhắc nhở tôi về những dấu vết u uất từ thời đói kém năm 1937 vẫn chưa hề tan biến khỏi mảnh đất này. Ánh sáng từ ngọn nến sáp trắng trên tay tôi run rẩy chao đảo theo từng đợt gió rít, hắt lên bốn bề cột lim mốc thếch những vệt sáng nhờ nhợt.
Nơi bậu cửa đá dẫn vào gian tiền tế, một bóng người đang ngồi thu lu.
Người đàn ông ngồi bó gối, hai cùi chỏ tì chặt lên đùi, đầu gục sát vào giữa hai đầu gối nhô cao khẳng khiu như hai gốc rễ cây khô trồi lên khỏi mặt đất. Bộ quần áo rách rưới trên mình người ấy xơ xác từng dải vải xám xịt,
dính bết bùn khô và bụi đất, gần như hòa lẫn vào lớp rêu phong xám xịt bám chặt chân cột đá.
Tôi dừng bước cách bậu cửa chừng năm thước, cất tiếng khẽ:
- Ai đang ngồi ở ngưỡng cửa đình đó?
Bóng người không trả lời ngay. Âm thanh duy nhất đáp lại tôi là tiếng gió bấc luồn qua các khe nứt của bậc thềm đá,
cùng tiếng răng va vào nhau cầm cập từng hồi khô khốc. Đó là cái lạnh không thuộc về mùa đông trần thế, mà là cái rét buốt thấu tận xương tủy tích tụ từ đáy mồ sâu hàng chục năm ròng.
Tôi nhấc chân bước thêm hai bước, nâng cao ngọn nến trong tay.
Dưới ánh nến vàng vọt chập chờn, người đàn ông từ từ ngẩng đầu lên. Gương mặt người ấy hóp lại đến mức da bọc sát vào khung xương sọ, hai gò má nhô cao nhọn hoắt như hai lưỡi cày. Đôi hốc mắt sâu hoắm đen ngòm không có tròng mắt,
chỉ có hai cái hố thăm thẳm tối om hướng thẳng về phía luồng sáng le lói. Đôi môi thâm tím, khô nẻ nứt toác thành từng đường rãnh rỉ máu đen, run rẩy mấp máy từng tiếng đứt quãng:
- Lúa... Có ai phát cháo cứu tế chưa... Quan trên đã cho mở kho thóc chưa...
Hai bàn tay khẳng khiu, gân guốc co quắp của người đàn ông run rẩy nâng lên trước ngực. Mười ngón tay trơ xương đen đúa, móng tay gãy vụn bám đầy đất bùn, đang bấu chặt lấy một túm giẻ rách bằng vải thô nhuộm củ nâu đã rách bươm nhiều chỗ.
Tôi ngồi xổm xuống trước bậc đá, giữ ngọn nến ở khoảng cách vừa đủ để không làm lay động luồng âm khí quanh người ông ta:
- Bác là ai? Cơn đói năm ba bảy đã qua lâu lắm rồi, sao bác vẫn ngồi ở ngưỡng cửa này?
Bóng ma run lên bần bật. Nghe thấy con số năm ba bảy, hai hốc mắt sâu hoắm của người đàn ông bỗng giật giật, một dòng nước màu vàng đục như nước bùn rỉ ra từ khóe mắt khô khốc, chảy dài qua những rãnh nhăn nheo trên má:
- Tôi là Trần Văn Quý... Tôi không kịp... Tôi về trễ quá rồi... Làng xóm chẳng còn ai, đình làng cũng rỗng không...
Bằng những ngón tay run rẩy, Trần Văn Quý cẩn trọng mở từng nếp gấp của túm giẻ rách mục nát. Bên trong mảnh vải thô lấm lem ấy không có vàng bạc hay ngọc ngà,
mà chỉ đựng chừng một vốc hạt lúa. Nhưng đó không phải là những hạt lúa vàng ươm mẩy hạt của vụ mùa no ấm. Từng hạt lúa đều lép xẹp, vỏ trấu khô quắt, thâm đen và cứng đờ như đã hóa thạch từ rất nhiều năm trước.
- Đây là giống lúa... Giống lúa nếp hương của nhà tôi...
-
- Giọng Trần Văn Quý nghẹn lại trong cổ họng, khàn đặc như tiếng cọ xát của hai hòn đá cuội dưới đáy giếng cạn
- Năm ấy trời làm hạn hán,
rồi đến lũ lụt tháng sáu, sâu bệnh cắn sạch từng gốc mạ. Cả cánh đồng Vọng Ngưu Đôn biến thành một bãi sình lầy nứt nẻ. Nhà tôi có sáu miệng ăn, gom góp vét sạch cả đáy bồ chỉ còn lại đúng một bát lúa lép này để dành làm giống cho vụ sau...
Trần Văn Quý cúi đầu nhìn vốc lúa đen đúa trong lòng bàn tay, hai vai run lên từng chặp:
- Nhưng làm gì còn vụ sau nữa...
Tháng chín năm ba bảy, người trong làng bắt đầu ngã chết la liệt.
Ban đầu người ta còn đào hố chôn nhau, sau đó người sống không còn sức nhấc nổi cán cuốc, đành để thây người chết nằm rải rác ngoài bụi tre, bờ ruộng.
Mẹ tôi nằm liệt trên phản gỗ, hai mắt trợn trừng nhìn lên xà nhà vì kiệt sức.
Bà nắm lấy tay tôi, bảo cả nhà phải bỏ làng mà đi...
Đi về phương nam, xuống mé bờ sông lớn...
Nghe đâu dưới mạn hạ lưu có ghe gạo cứu tế của nhà hảo tâm cập bến...
Tôi chăm chú nhìn từng cử động run rẩy của Trần Văn Quý, hỏi nhỏ:
- Rồi cả nhà bác dắt díu nhau đi hết sao?
- Đi... Ai còn lê được bước chân thì đều phải đi...
-
- Trần Văn Quý gật đầu thật chậm, những khớp xương cổ kêu lách cách
- Sáng hôm ấy sương muối phủ trắng xóa rặng tre đầu làng. Mẹ tôi bảo bẻ đôi chỗ lúa giống lép này ra, chia cho mỗi người một nhúm nhét vào túi áo để lận lưng phòng khi ngất lịm dọc đường. Cha tôi dắt tôi,
tôi dắt đứa em gái mới lên bảy, mẹ tôi thì gượng bò theo sau. Cả đoàn người trong xóm dắt díu nhau như một bầy ma đói lảo đảo bước ra khỏi cổng làng. Đường thiên lý hun hút, gió bấc thổi rách cả manh áo tơi...
Ánh nến trên tay tôi bỗng chao nghiêng dữ dội dù gió ngoài sân đình đã ngớt. Xung quanh bậc thềm đá, mùi ẩm mốc của vỏ trấu thối rữa quyện với mùi đất ẩm bốc lên ngột ngạt.
Trần Văn Quý run run dùng ngón tay cái miết nhẹ lên một hạt lúa lép, giọng kể chìm sâu vào ký ức u tối:
- Đi được hai ngày đường thì em gái tôi ngã quỵ bên vệ cỏ mục. Chân nó sưng phù lên như củ chuối nước, da thịt nứt ra rỉ nước vàng tanh tưởi. Nó không khóc nổi nữa,
chỉ thều thào đòi uống nước. Cha tôi tìm thấy một vũng nước đục ngầu dưới mương bèn bốc cho nó một ngụm, nhưng vừa nuốt vào thì nó nôn ra toàn bọt mép lẫn mảnh rễ cỏ khô... Đến nửa đêm hôm đó, con bé tắt thở trong lòng tôi...
Người đàn ông ngẩng mặt lên trần đình, hai hốc mắt rỉ thêm những giọt nước đục ngầu:
- Cậu có biết người chết đói trông thảm thế nào không? Khi chết, cái miệng cứ há hốc ra, môi co quắp lại như vẫn đang đòi ăn, đòi một miếng cháo hoa lót dạ. Cha tôi sợ con bé chết đói thành ma lang thang vất vưởng,
bèn quỳ xuống vốc một nắm đất ven đường nhét đầy vào miệng em tôi... Cha tôi vừa nhét đất vừa khóc nấc lên... Ông bảo: "Nuốt đi con... ngậm cho chặt miệng lại... coi như bụng đã có cái ăn rồi, đừng có thèm khát nữa mà tội nghiệp..."
Nhét xong nắm đất, chúng tôi lấy mấy nhánh cành khô phủ lên xác nó rồi lại cắm đầu cắm cổ bước tiếp...
Từng lời kể của Trần Văn Quý rơi vào màn đêm tĩnh mịch của ngôi đình phế tích,
nặng nề và đau đớn đến nghẹt thở. Sự cùng cực của nạn đói năm 1937 không chỉ tước đoạt mạng sống của con người, mà còn nghiền nát nhân tính, biến những hành động tiễn biệt người thân thành nỗi ám ảnh kinh hoàng.
- Rồi đến lượt mẹ tôi gục xuống ở ngã ba đường dẫn sang đất Hồ Nam...
-
- Trần Văn Quý tiếp tục, giọng nói như nghẹn lại ở thanh quản
- Rồi cha tôi ngã xuống bờ mương khi hai cha con chỉ còn cách bến sông một ngày đường. Lúc cha tôi nhắm mắt,
tôi cũng làm y như những gì ông đã làm cho em gái... Tôi bốc bùn non nhét đầy vào miệng cha... Bùn trào qua kẽ răng ông, đen ngòm và tanh tưởi... Tôi vừa nhét vừa lẩm bẩm cầu xin ông tha tội...
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng, cất tiếng hỏi:
- Còn bác? Sao bác không đi tiếp xuống phía nam tìm ghe gạo cứu tế mà lại quay về ngôi đình này?
Trần Văn Quý cười, một nụ cười méo mó đến rợn cả gáy trên khuôn mặt chỉ còn da bọc xương:
- Ghe gạo nào? Chẳng có ghe gạo nào cả! Tất cả chỉ là lời đồn đãi ác độc để lừa những kẻ đói khát rời khỏi nhà cửa. Khi tôi lết được đến mé bờ sông,
dưới bến chỉ có những bãi bồi sình lầy đầy rẫy xác chết trương phình dạt vào rặng lau sậy. Nhưng trên con đường chạy nạn ấy, tôi đã nhìn thấy một cảnh tượng quái gở...
Bóng ma người đàn ông bỗng chồm người về phía trước, hai bàn tay run bần bật đưa sát lại gần tôi, hạ thấp giọng thì thầm:
- Đó là vào một đêm trăng non mờ mịt sương muối... Khi tôi đang nằm thoi thóp bên vệ đường cạnh những xác người thối rữa, tôi nhìn thấy một đoàn người đi ngược hướng... Họ không phải người chạy nạn đói,
quần áo họ lành lặn, mặc toàn áo dài thụng màu đỏ thẫm như màu máu đọng... Họ đi thành hàng dài từ phía biên giới Hồ Nam đi xuống, đầu đội mũ chóp nhọn, tay cầm gậy gỗ có gắn lục lạc đồng kêu leng keng từng nhịp chậm rãi...
Tôi nín thở, lắng tai nghe từng lời:
- Đoàn người áo đỏ ấy làm gì giữa bãi tha ma người chết đói?
- Họ đi tìm những cái xác chết vì nuốt bùn...
-
- Trần Văn Quý rùng mình, cả bộ xương kêu lách cách dưới lớp áo rách
- Họ cầm những chiếc đèn lồng giấy màu trắng vẽ hình bùa chú ngoằn ngoèo soi vào từng cái xác nằm bên đường.
Cứ thấy xác nào miệng đầy bùn đất, họ liền dừng lại, dùng dao con rạch cổ họng cái xác ra, lấy một cái muỗng gỗ múc lấy nắm bùn trong cuống họng cho vào một chiếc hũ sành màu đen mang sau lưng...
Tôi nghe thấy tên dẫn đầu lẩm bẩm bằng tiếng Hồ Nam đặc sệt...
Hắn nói bọn họ đang thu mua các linh hồn ăn bùn...
Hắn bảo những kẻ chết vì nhét bùn lấp cơn đói có oán khí nặng nhất, là vật liệu tốt nhất để nuôi dưỡng thứ gì đó nằm sâu dưới lòng đất Vọng Ngưu Đôn...
Ký ức của Trần Văn Quý khớp hoàn toàn với những manh mối mà tôi vừa thu thập được từ cụ Bảy và bác phu bùn. Bọn thuật sĩ tà đạo năm xưa không chỉ lợi dụng nạn đói để đầu độc dân làng bằng rễ cỏ đuôi chuột hay chôn sống người phu xe kéo,
mà chúng còn chủ động đi gom góp những linh hồn chết trong oán hận cùng cực dọc theo các ngả đường thiên lý. Mạng sống của hàng ngàn người dân Lĩnh Nam năm 1937 đã bị biến thành một bàn cờ tế lễ đẫm máu.
- Tôi sợ quá...
-
- Trần Văn Quý tiếp tục lẩm bẩm, hai hốc mắt trợn trừng nhìn vào bóng đêm vô định
- Tôi sợ bị bọn người áo đỏ ấy rạch họng cướp mất hồn phách. Tôi lấy hết chút tàn lực cuối cùng,
bỏ chạy thục mạng... Tôi không dám đi về phương nam nữa, tôi quay đầu bò ngược trở về làng... Tôi muốn về chết ở quê hương, chết dưới mái đình này để tổ tiên che chở...
Giọng ông ta yếu dần, tiếng thở dốc ngày một dồn dập:
- Tôi lết rách cả hai đầu gối, cào rách cả mười đầu ngón tay trên sỏi đá để bò về đến bậc cửa đình Vọng Ngưu Đôn.
Lúc ấy trong túi áo tôi chỉ còn lại nắm hạt lúa lép này...
Tôi đói quá, đói đến mức lục phủ ngũ tạng như bị thiêu đốt.
Tôi nhét từng hạt lúa lép vào miệng nhai ngấu nghiến...
Vỏ trấu khô ráp cứa nát vòm họng tôi, cắm phập vào lưỡi tôi chảy máu ròng ròng, nhưng bên trong chẳng có lấy một chút hạt gạo nào...
Toàn là trấu rỗng...
Toàn là vỏ trấu mục nát...
Trần Văn Quý đưa hai bàn tay cào cấu xuống mặt bậc đá rêu phong. Móng tay của ông ta cào vào đá tạo nên những vệt xước trắng xóa cùng tiếng ken két ghê rợn:
- Nuốt hết vỏ trấu rồi mà bụng vẫn cồn cào như có trăm ngàn con bọ cắn xé.
Tôi bò vào gian tiền tế, dùng móng tay cào bới lớp đất nện dưới chân cột đình...
Tôi tìm giun, tìm dế, tìm bất cứ thứ gì cựa quậy trong đất ẩm để tọng vào mồm...
Nhưng đất đình cằn cỗi quá, chỉ có vôi vữa và rễ cây khô...
Tôi cào đến khi mười đầu ngón tay bật hết móng, máu hòa vào đất bụi...
Rồi tôi lết ra lại bậu cửa này...
nằm gục xuống đây...
và không bao giờ dậy được nữa...
Nỗi đau đớn tột cùng tích tụ suốt hơn tám mươi năm như vỡ òa trong từng câu chữ của oan hồn kẻ bỏ quê. Bỏ làng ra đi để tìm đường sống,
cuối cùng lại phải dùng chút hơi tàn cuối cùng bò về nơi chôn nhau cắt rốn chỉ để gục chết bên bậc cửa ngôi đình hoang phế, miệng ngậm đầy vỏ trấu khô và đất cát.
Tôi đặt ngọn nến xuống bậc đá, từ từ đưa bàn tay ra phía trước:
- Bác Quý... Hãy buông bỏ nắm lúa lép ấy đi. Cơn đói năm ba bảy đã chấm dứt rồi. Quê hương bây giờ lúa đã đầy đồng, người làng không còn phải ăn trấu, ăn bùn nữa đâu.
Trần Văn Quý ngơ ngác nhìn tôi, rồi nhìn xuống vốc lúa đen đúa đang được bọc trong mảnh giẻ rách trên tay mình.
Đôi bàn tay run rẩy của ông ta khẽ mở ra.
Tôi đưa ngón tay định chạm vào một hạt lúa đã hóa thạch để cảm nhận chút tàn dư ký ức của người xưa. Nhưng ngay giây lát ngón tay tôi sắp chạm tới bề mặt lớp vỏ trấu thâm đen, những hạt lúa lép bỗng mềm nhũn ra một cách kỳ lạ.
Lớp vỏ trấu khô ráp tan rã trong tích tắc,
hóa thành một nắm bùn đen nhão nhoét, bốc lên mùi sình lầy tanh tưởi quen thuộc của đầm Bồ Tầm. Thứ bùn nhão ấy lạnh ngắt, sền sệt chảy tràn qua các kẽ ngón tay khẳng khiu của Trần Văn Quý, rỏ từng giọt nặng trĩu xuống bậc đá rêu phong.
Tách... Tách... Tách...
Từng giọt bùn rơi xuống đá, lập tức sủi bọt trắng xóa như bị nung nấu bởi một thứ nhiệt lượng vô hình.
Trần Văn Quý nhìn trân trân vào hai bàn tay trống rỗng của mình,
nơi vốc bùn đen đang tan chảy thành những dòng nước đục ngầu ngấm dần vào lòng đất. Hai hốc mắt sâu hoắm của ông ta từ từ khép lại, nét mặt co quắp vì đói khát bỗng chốc giãn ra, nhường chỗ cho một vẻ thanh thản kỳ lạ.
Một tiếng thở dài não nuột, kéo dài thăm thẳm vang lên giữa gian tiền tế ngôi đình.
Thân hình xơ xác của người đàn ông bỏ quê bắt đầu mờ nhạt dần. Làn sương xám bao bọc quanh bóng ma tan loãng theo từng đợt gió bấc rít qua mái ngói vỡ, cuốn theo những mảnh vải vụn mục nát hòa vào màn đêm đen kịt ngoài sân đình.
Bậc đá trước cửa đình lại trở về vẻ lạnh lẽo, hoang tàn vốn có.
Nơi Trần Văn Quý vừa ngồi bó gối, chỉ còn lại một vũng nước bùn đen loang lổ trên mặt rêu xanh. Ở chính giữa vũng bùn ấy, một vài mảnh trấu mục nát nổi lềnh bềnh, đen đúa và khô khốc.
Tôi cúi người nhặt lấy ngọn nến sáp, soi kỹ vũng nước bùn dưới chân bậc đá.
Bên dưới lớp bùn nhão vừa tan ra từ nắm lúa lép, mặt đá xanh của ngạch cửa đình làng bỗng lộ ra một ký hiệu lạ kỳ được khắc chìm rất sâu. Ký hiệu ấy hình một chiếc chuông đồng bị một ngọn lửa đỏ quấn quanh,
nét khắc sắc lẹm và còn rất mới, hoàn toàn tương đồng với dấu vết của ngọn lửa bị xích trên mảnh ngói vỡ trong túi áo tôi.
Đoàn thầy cúng áo đỏ từ Hồ Nam đi xuống năm 1937... Những kẻ thu mua linh hồn ăn bùn...
Mọi manh mối đang dần xâu chuỗi lại thành một bức tranh tàn khốc hơn nhiều so với những gì được ghi chép trong những trang sử địa phương thông thường. Nạn đói năm Ất Sửu không chỉ đơn thuần là thiên tai,
mà nó đã bị một thế lực tà thuật đen tối biến thành một lò luyện ngục khổng lồ nhằm thu gom oán khí của những kẻ chết đói.
Gió bấc lại gầm lên từng chặp bên ngoài rặng tre già.
Từ phía bìa rừng trúc nằm ở mé đông thôn Vọng Ngưu Đôn, nơi có ngôi miếu Thổ Địa hoang phế nằm chìm sâu trong bóng tối,
một mùi hương tàn thoang thoảng nồng nặc mùi ẩm mốc bỗng theo chiều gió xốc thẳng vào trong sân đình. Mùi hương ấy không phải trầm hương cúng tế thần linh, mà mang theo hơi hướng lạnh lẽo của tro giấy tiền vàng mã bị nước mưa dầm ướt sũng.
Tôi thổi tắt ngọn nến, cất cuốn sổ ghi chép vào túi áo khoác rồi siết chặt quai ba lô. Đêm nay ở Vọng Ngưu Đôn,
những linh hồn bị chôn vùi dưới lớp bùn đói năm ba bảy hình như đang lần lượt trỗi dậy để cất lên lời trăn trối cuối cùng. Bước chân tôi hướng thẳng về phía rừng trúc âm u, nơi ngôi miếu Thổ Địa hoang phế đang đợi chờ trong bóng tối mịt mùng.