Bùn Quỷ Thực - Chương 19: Tiếng Gõ Đũa Ba Tiếng Một Nhịp

Gió bấc thổi thốc qua vạt cỏ may ven đầm Bồ Tầm, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng đồng bằng sông nước Lĩnh Nam vào cữ cuối đông. Rời khỏi ngôi miếu…

Nội dung chương

Gió bấc thổi thốc qua vạt cỏ may ven đầm Bồ Tầm, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng đồng bằng sông nước Lĩnh Nam vào cữ cuối đông. Rời khỏi ngôi miếu hoang rách nát,

tôi lần theo con đường mòn nhỏ men theo bờ nước, rảo bước giữa màn đêm đen đặc quánh. Hơi sương lạnh giá bám đầy trên vạt áo bông, buốt buốt từng đợt áp sát vào da thịt.

Giữa cánh đồng hoang vắng lặng, tiếng động lạ lùng ban nãy càng lúc càng rõ rệt hơn.

Cạch... lách cách...

Âm thanh đanh gọn vang lên đều đặn, sắc lẻm và khô khốc giữa không gian chết chóc. Âm thanh ấy giống hệt tiếng những quân cờ bằng đá gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ lim dày dặn, phát ra từ phía gốc cây gạo gai cổ thụ đứng sừng sững ở rìa ngoài đầm lầy.

Tôi cúi thấp người, luồn qua một bụi dứa dại mọc lởm chởm gai góc, thận trọng nấp mình sau đám lau sậy rậm rạp. Ánh đèn pin đã được tôi tắt hẳn từ trước, chỉ còn dựa vào thị lực thích nghi dần với bóng tối cùng trực giác nhạy bén dẫn đường.

Cây gạo gai hiện ra lừng lững giữa bãi đất trống. Thân cây to chừng ba người ôm, vỏ ngoài xám xịt,

lồi lõm những chiếc gai nhọn hoắt to bằng ngón chân cái, tua tủa chĩa ra ngoài như những chiếc đinh rỉ sắt. Cành cây khẳng khiu vươn lên nền trời xám đục, trơ trọi không một chiếc lá, chia nhánh gãy khúc hệt bàn tay quỷ khổng lồ đang cố cào xé màn đêm.

Ngay dưới bóng cây râm ran hơi lạnh ấy, trên một phiến đá vôi bằng phẳng, hai bóng người gầy guộc đang ngồi đối diện nhau.

Lớp sương mỏng lờ mờ bao phủ lấy hai kẻ lạ mặt.

Cả hai đều mang dáng dấp của những người đàn ông trung niên, thân hình khô quắt đến mức lớp da xám xịt dính chặt vào khung xương sườn nhô cao.

Một người vận chiếc tạp dề bằng vải thô rách bươm đã ố đen những vệt huyết khô, hai bắp tay gân guốc co rút lại thành từng múi thịt teo tóp.

Người kia khoác chiếc áo the dài đã mục nát đến hở cả hai bả vai, trên sống mũi gãy lệch mang một chiếc kính tròn chỉ còn trơ gọng sắt gỉ.

Dưới quê Lĩnh Nam vào những năm trước thế chiến, người làm nghề đồ tể mổ lợn thường đeo tạp dề da bò hoặc vải thô bọc quanh bụng, còn những thầy bói dạo rong ruổi khắp các chợ phiên thì khoác áo the cũ mang kính râm che mắt chột.

Nhìn vóc dáng và trang phục mục nát ấy, tôi nhận ra danh tính của hai kẻ đang ngồi trước mặt qua những mẩu chuyện chép dở của người già trong thôn.

Đó là Lão đồ Tạ chuyên nghề chọc tiết lợn ở chợ Đôn và Thầy bói Lục từng hành nghề đoán quẻ trước cửa đình.

Hai người họ ngồi bất động, đôi mắt trũng sâu đen ngòm nhìn chăm chú vào mặt phiến đá.

Trên mặt phiến đá nhẵn thín kia, ai đó đã dùng mảnh đá sắc vạch ra những đường rãnh ngang dọc,

tạo thành một bàn cờ tướng sơ sài. Giữa hai bên là dòng kẻ biểu thị ranh giới Sở hà Hán giới, song bên trên mặt bàn đá hoàn toàn trống trơn. Không hề có một quân cờ tròn bằng gỗ mun hay bằng đá nào.

Cạch.

Lão đồ Tạ thình lình vươn bàn tay khẳng khiu đầy vết sẹo dài xuống mép bùn ướt dưới chân gốc cây gạo. Những ngón tay đen đúa,

móng tay cáu bẩn đất cát nhào nặn thật nhanh một nhúm bùn đen đặc, vo tròn lại thành một viên bùn nhỏ bằng quả táo dại. Lão giơ cao viên bùn ấy lên khoảng không, cánh tay rung bần bật vì dùng sức, rồi dằn mạnh xuống một giao điểm trên rãnh đá.

Một tiếng gõ khô khốc kỳ dị lại phát ra từ viên bùn dẻo quẹt.

- Xe chín bình tám! Lão Lục, nước cờ này ông đỡ bằng mắt à? Khóa chặt nẻo xuất tướng của ông, phen này ông hết đường chạy sang sông!

Giọng nói của Lão đồ Tạ the thé, khàn đặc như tiếng cưa rỉ nghiến trên thân gỗ mục, bên trong âm thanh còn lẫn cả tiếng lạo xạo của đất cát nghiền nát giữa hai hàm răng.

Ngồi đối diện, Thầy bói Lục khẽ ngẩng cái đầu chỉ còn da bọc xương lên. Chiếc gọng kính rỗng không trượt xuống cánh mũi nhọn hoắt, để lộ hai hốc mắt sâu hoắm rỉ ra hai dòng dịch vàng nhờ nhờ. Lão không hề tỏ ra nao núng, chỉ nhếch mép cười khùng khục trong cổ họng:

- Đồ tể quen thói sát phạt hung hăng, nước cờ cạn cợt thế mà cũng đòi vỗ ngực xưng hùng. Muốn qua sông bắt tướng của Lục này, ông còn phải đợi nước cạn ba năm nữa!

Vừa dứt lời, Thầy bói Lục thò bàn tay run rẩy sang vạt đất pha sét bên cạnh thềm rễ cây. Lão bốc lên một nhúm đất sét màu xám tro,

thứ đất dẻo quánh thường dùng để nặn nồi niêu, nhét một hòn sỏi nhỏ vào giữa rồi bóp chặt lại. Cánh tay khẳng khiu của lão vung lên, đập viên đất sét xuống mặt đá, chắn ngay trước viên bùn của đối phương:

- Pháo hai tiến bảy! Đè đầu xe của ông! Ăn bùn thì ăn cho sạch, đánh cờ thì nhìn cho sâu, vội vã làm cái thói gì!

Viên đất sét vừa chạm phiến đá cũng phát ra một tiếng "cạch" chói tai, như thể hai khối kim loại va đập kịch liệt vào nhau.

Tôi ghìm chặt hơi thở dưới bụi rậm, căng mắt quan sát cảnh tượng quái gở trước mặt. Bàn cờ hoàn toàn vô hình trong thực tế,

thứ họ đặt xuống chỉ là bùn lầy và đất sét ẩm ướt bốc mùi tanh hôi, nhưng trong ảo thức của hai vong hồn đói khát này, từng nhúm đất nhão nhoét lại mang sức nặng của những quân cờ sinh tử.

Sau khi hạ xong quân "Pháo", Thầy bói Lục đưa ngón tay trỏ dính đầy bùn xám lên miệng, từ tốn liếm sạch lớp bùn bám trên kẽ móng tay. Lão chép chép miệng, vẻ mặt thỏa mãn như vừa nếm được một thìa cao lương mỹ vị:

- Đất sét non ở chân rễ gạo vẫn là thứ êm bụng nhất,

lão Tạ ạ. Nó mịn như bột gạo giã kỹ, nuốt vào đến đâu là lấp đầy cái lỗ thủng trong bao tử đến đấy. Chỉ cần uống thêm một ngụm nước đầm cho nó nở bung ra, cảm giác no căng tức cả ngực, sướng rêm cả người.

Lão đồ Tạ trợn trừng hai hốc mắt trống rỗng, khịt khịt cái mũi nham nhở sẹo:

- Đất sét của ông chát xít, sít cổ họng, nuốt vào rách cả thực quản chứ béo bở gì! Đất sét chỉ tổ làm cứng bụng, ba ngày không đi tiêu được rồi thối ruột mà chết. Phải là thứ bùn đen dưới đáy Bồ Tầm kia kìa. Tầng bùn mặt thì đắng ngắt vì rễ cỏ mục,

nhưng lặn sâu xuống độ ba sải tay, xúc lấy lớp bùn đáy mịn màng... chao ôi, nó trơn tuột, ngậy béo như mỡ lợn lá vừa rán trên chảo nóng!

- Mỡ lợn cái con khỉ khô!

-

- Thầy bói Lục hừ mạnh một tiếng, nhổ toẹt một bãi nước bọt đen ngòm xuống đất.

- Bùn đáy đầm của ông toàn mùi tanh tưởi của xác cá chết rữa, nhớt nhát như đờm dãi. Năm ba bảy, nếu tôi không nghe lời xúi dại của ông bò ra bờ đầm cào bùn đáy về nuốt, thì ruột gan tôi đâu có bị cào rách toác ra như mảnh chiếu rách thế này?

- Thế ai là kẻ đòi ăn trước?

-

- Lão đồ Tạ bỗng nhiên gầm gừ, thân hình nghiêng hẳn về phía trước, hai cánh tay chống lên mặt đá khiến những đường rãnh cờ rung lên bần bật.

- Năm ấy lúa cháy rụi ngoài đồng, người làng chết la liệt từ đầu ngõ đến cuối thôn,

lợn gà không còn một mống để mổ. Tôi với ông trốn ra gốc gạo này, chia nhau từng vốc đất sét, từng bọc bùn nhuyễn. Ai bảo ông rằng chúng ta đánh cờ để quên đi cái đói? Đánh cờ là để xem đứa nào còn tỉnh táo giữ được phần bùn của mình!

Giọng của hai bóng ma mỗi lúc một gay gắt hơn, vọng ra giữa đồng hoang như tiếng gió hú rít qua kẽ nứt của vách đá.

Núp sau bụi dứa dại, tôi bắt đầu hiểu rõ bi kịch của hai con người này vào năm Ất Sửu 1937.

Cơn đói khủng khiếp đã càn quét sạch sẽ mọi thứ có thể bỏ vào miệng, biến con người thành những bộ xương biết đi lang thang tìm kiếm bất cứ thứ gì để nhét vào dạ dày rỗng không.

Lão đồ Tạ và Thầy bói Lục từng là đôi bạn uống rượu quen mặt ở quán nước đầu thôn, khi thảm họa ập đến, họ cùng nhau dắt díu trốn ra gốc gạo gai này cầm cự.

Họ tìm thấy một mạch bùn non mịn màng dưới rễ cây gạo nối liền với đầm Bồ Tầm. Để ngăn chặn bản năng điên loạn muốn nuốt chửng tất cả trong một lần rồi chết vì tắc ruột,

hai người đặt ra quy ước: khắc bàn cờ lên đá, mỗi lần đi một nước cờ mới được phép bốc một nhúm bùn nhỏ nhét vào miệng. Họ dùng từng nước đi, từng thế cờ để níu giữ chút nhân tính và sự tỉnh táo cuối cùng trước miệng vực của cơn đói khát.

Thế nhưng, cơn đói chưa từng buông tha cho bất kỳ ai dựa vào chút lý trí mỏng manh ấy.

- Ông gian lận!

-

- Thầy bói Lục đột ngột đập mạnh bàn tay xuống phiến đá, khiến nắm bùn vỡ toang ra thành nhiều mảnh.

- Chiều hôm đó gió lạnh cắt da, ông vờ đi nước Mã chiếu tướng để tôi mải mê suy nghĩ, rồi ông thò tay vét sạch cái hốc rễ cây nơi tôi cất giấu phần bùn mịn nhất! Ông ăn vụng bùn của tôi!

- Tôi không ăn vụng!

-

- Lão đồ Tạ rống lên, bờ vai gầy nhấp nhô dữ dội.

- Nắm bùn đó là do tôi lặn xuống đầm Bồ Tầm bới lên từ trưa trật, máu tay tôi còn dính đỏ lòm trên lớp bùn non! Chính ông, cái lão thầy bói chột mắt, nửa đêm bò lại gần tôi, dùng cái gậy tre chọc thủng bọc lá chuối của tôi để cướp bùn!

- Là của tôi! Tôi đói! Ruột tôi cháy ra tro rồi!

- Của tôi! Cổ họng tôi khô khốc, tôi phải ăn!

Âm thanh gầm rú xé toạc màn đêm hoang lạnh. Hai cái bóng ma quái chồm hẳn lên phiến đá, không còn để ý gì đến bàn cờ dở dang dưới thân. Ký ức kinh hoàng của mùa đông năm ấy hình như đang tái hiện sống động ngay trước mắt tôi.

Qua lời kể đứt quãng và những cử động co giật điên cuồng của họ, tôi nhìn thấy bi kịch của buổi chiều định mệnh năm 1937.

Ván cờ tàn cuộc không có người thắng kẻ thua.

Cơn đói cào xé ruột gan đã đánh sập sợi dây lý trí cuối cùng.

Khi nhìn thấy nhúm bùn non mịn màng cuối cùng còn sót lại dưới hốc rễ gạo, một người đã lao vào vồ lấy.

Kẻ kia lập tức nhảy bổ tới giằng co.

Họ lao vào nhau cắn xé như loài dã thú. Bàn tay mổ lợn thô kệch bóp nghẹt cổ họng thầy bói, còn những ngón tay gầy guộc mang đầy móng nhọn của thầy bói thì cào nát mặt gã đồ tể. Giữa cơn vật lộn điên cuồng dưới gốc gạo, nắm bùn nhão bị bóp nát,

nhét đầy vào miệng, vào mũi của cả hai kẻ đói khát. Họ ôm chặt lấy nhau, lăn lộn vào hốc rễ ngập bùn lạnh buốt, nghẹn ứ đất cát trong khí quản cho đến khi cả hai cùng tắt thở, trừng trừng nhìn nhau bằng đôi mắt chết không nhắm lại được.

- Đánh cờ... Ta phải đánh cờ tiếp...

-

- Thầy bói Lục bỗng run rẩy lùi lại, ngồi phịch xuống phiến đá, hai tay ôm lấy đầu.

- Còn một nước nữa... Đi hết nước này là lúa trên đồng sẽ chín... Người ta sẽ gánh xôi nếp ra cúng miếu... Ta sẽ được ăn xôi...

Lão đồ Tạ cũng từ từ buông thõng hai cánh tay đầy vết cào xước, đôi mắt trống hoác nhìn vào khoảng không vô định trên cành gạo gai:

- Không có xôi đâu, lão Lục ơi... Vùng này tận số rồi... Ông có nhớ cái đêm bọn người mặc áo đỏ từ bờ sông đi lên không? Bọn chúng đứng quanh đầm lầy, rải bột chu sa đỏ rực xuống dòng nước...

Thầy bói Lục khẽ rùng mình, chiếc gọng kính rỉ sét rung lên bần bật:

- Nhớ... Tôi nhớ... Mùi hương tàn nồng nặc buốt cả óc...

- Bùn này đâu phải bùn đất bình thường nơi thôn dã.

-

- Lão đồ Tạ thì thầm, giọng nói chìm sâu vào sự kinh hãi tột cùng.

- Tôi nghe bọn người áo đỏ đó nói với nhau bằng tiếng xứ lạ mạn ngược... Thứ bùn tanh tưởi này trôi theo mạch nước ngầm từ mấy cái lò luyện trấn yểm ngàn năm bên mạn Hồ Nam đổ dồn về đây. Chúng dẫn dòng oán khí từ phương Bắc xuống,

biến vùng đầm Bồ Tầm thành cái ao nuôi quỷ đói. Người chết vì đói càng nhiều, bùn càng quánh đặc, quỷ dưới đáy đầm càng mau lớn... Chúng ta... chúng ta chỉ là mấy hạt lúa lép rớt vào cối xay thịt của bọn chúng mà thôi...

Những lời thì thào của Lão đồ Tạ như những mũi kim băng cắm thẳng vào tâm trí tôi.

Đoàn người áo đỏ từ Hồ Nam, lò luyện trấn yểm ngàn năm, mạch nước ngầm dẫn oán khí nuôi quỷ...

Mảnh ngói vỡ có hình ngọn lửa bị xích, ký hiệu chữ Phạn ngược trên tấm tã lót của đứa trẻ chết nghẹn, tất cả những manh mối rải rác suốt dọc đường ghi chép bỗng chốc nối liền lại thành một sợi dây xích khổng lồ, đen tối và rợn ngợp.

Nạn đói năm 1937 tại Vọng Ngưu Đôn không đơn thuần là sự nghiệt ngã của thiên nhiên, mà là một đại trận tà thuật man rợ được dàn dựng công phu từ vùng núi Tương Tây xa xôi.

Tôi mải mê lắng nghe từng câu chữ, trong lòng chấn động dữ dội đến mức quên mất vị trí hiểm nghèo của bản thân. Cơ thể tôi vô thức dịch chuyển sang bên phải để nhìn rõ hơn nét mặt của hai linh hồn dưới gốc gạo.

Bàn chân tôi vừa hạ xuống mép cỏ khô.

Rắc!

Một nhánh cành gạo gai mục nát nằm khuất dưới lớp lá rụng gãy đôi dưới sức nặng của gót giày.

Tiếng gãy giòn tan vang lên giữa đêm khuya thanh vắng, nghe rõ mồn một như một tiếng nổ nhỏ.

Gió bấc trên cành cây bỗng nhiên ngừng bặt.

Mọi tiếng thì thầm cãi vã, tiếng thở than rên xiết bên bàn cờ đá lập tức im bặt. Không gian xung quanh gốc gạo gai rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng tim mình đang đập thình thịch sau lồng ngực.

Tôi nín thở, bất động hoàn toàn sau rặng dứa dại, hai bàn tay nắm chặt vạt áo bông lạnh ngắt.

Dưới bóng cây trơ trụi, thân hình của Lão đồ Tạ và Thầy bói Lục vẫn ngồi yên bất động bên mép phiến đá, lưng hướng về phía bụi rậm nơi tôi đang ẩn náu.

Nhưng ngay sau đó, một cảnh tượng kinh hoàng diễn ra khiến máu trong người tôi như đông cứng lại.

Không hề có một cử động nào của bờ vai hay phần thân dưới, hai cái đầu lâu khô quắt bọc da xám từ từ vặn ngược ra sau.

Chúng xoay chuyển một cách chậm rãi,

phát ra những tiếng "khục... khục khô khốc của các khớp xương cổ đã mục rữa từ lâu. Từng đốt sống cổ kêu răng rắc dưới lớp da mỏng manh. Hai cái đầu xoay trọn một vòng một trăm tám mươi độ, đối diện trực tiếp với lùm cây nơi tôi đang nấp.

Bốn hốc mắt trống rỗng đen ngòm trừng trừng nhìn thẳng vào mắt tôi qua kẽ lá dứa dại.

Dưới ánh sáng lờ mờ của màn sương đêm, khóe miệng của hai cái xác khô từ từ kéo dếch lên tận mang tai, tạo thành hai nụ cười méo mó, quái đản đến cùng cực.

Khi bờ môi nứt nẻ của họ hé mở, tôi nhìn thấy rõ mồn một bên trong khoang miệng: từng kẽ răng đen đúa đều dính đầy bùn đất sền sệt, lổn nhổn những hạt cát thô và rễ cây mục nát.

Bùn đen từ từ ứa ra từ khóe môi họ, rỉ thành từng dòng sền sệt chảy dài xuống cằm, nhỏ tong tỏng xuống ngực áo.

- Ai... Ai đến đánh cờ đấy?...

-

- Hai cái miệng đầy bùn đồng thanh cất lên, giọng nói nhừa nhựa, lạo xạo như tiếng sỏi cọ xát vào nhau.

- Bùn ngon lắm... Xuống đây... Ăn cùng chúng tao một vốc...

Một luồng khí lạnh buốt giá xộc thẳng vào mặt tôi, tanh nồng mùi tử thi và sình lầy lâu năm.

Chưa kịp để tôi có bất kỳ phản ứng nào, thân ảnh của hai kẻ chơi cờ bỗng nhiên nhạt nhòa đi. Lớp sương xám quanh phiến đá cuộn xoáy dữ dội, cuốn lấy hai bộ xương khô quắt kéo ngược về phía sau.

Thân thể của Lão đồ Tạ và Thầy bói Lục như tan chảy ra thành hai dòng khói đen nhờ nhờ, từ từ luồn lách qua lớp vỏ xù xì đầy gai góc rồi chui tọt vào trong thân cây gạo gai cổ thụ.

Những chiếc gai nhọn hoắt hình như rung rinh nhè nhẹ sau khi nuốt trọn hai vong hồn đói khát, phát ra những tiếng rít khe khẽ như thể tiếng thở dài thỏa mãn của một loài quái mộc.

Màn đêm lại trả về vẻ tĩnh mịch rợn cả gáy.

Dưới gốc gạo trơ trụi, chỉ còn lại phiến đá vôi lạnh căm nằm trơ trọi giữa bãi đất hoang. Trên mặt phiến đá,

nơi từng là những giao điểm của ván cờ dở dang, những vệt bùn non đen ngòm và đất sét xám xịt đang từ từ sủi bọt trắng xóa, bốc lên từng làn khói mỏng mang theo mùi vị tanh nồng của đáy đầm Bồ Tầm.

Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng xuống cổ họng khô khốc, lùi dần từng bước ra khỏi bụi rậm. Cơn gió bấc thình lình đổi hướng, từ phương Bắc xa xôi cuồn cuộn thổi thốc về, làm rúng động toàn bộ cánh đồng hoang lạnh lẽo.

Chương khác

Xem thêm