Bùn Quỷ Thực - Chương 21: Bà Đồng Huyện Tương Tây
Chiếc xe đò rách nát mang biển số Hồ Nam trườn qua từng khúc cua tay áo, bánh xe nghiến rào rạo lên mặt đá dăm vụn vỡ. Suốt chặng đường dài từ bờ Tây…
Nội dung chương
Chiếc xe đò rách nát mang biển số Hồ Nam trườn qua từng khúc cua tay áo, bánh xe nghiến rào rạo lên mặt đá dăm vụn vỡ.
Suốt chặng đường dài từ bờ Tây Giang ngược lên vùng sơn cước phía bắc, tôi ngồi nép sát vào ô cửa kính cáu bẩn, một tay ghì chặt chiếc ba lô bạc màu trước ngực, bàn tay kia vẫn còn đau rát vì vết bỏng do mảnh bùa chu sa thiêu cháy ở vũng lầy Bồ Tầm.
Dưới đáy túi áo khoác, mảnh giấy bản thô ráp ghi ba chữ cổ "Thần Khê Động" cọ xát vào lớp vải lót, tỏa ra hơi ấm âm ỉ lạ thường giữa tiết trời chuyển mùa buốt giá.
Càng đi sâu vào địa phận Tương Tây, cảnh vật xung quanh càng biến đổi kỳ lạ. Đất thịt phù sa màu mỡ và những rặng trâm bầu um tùm của miệt Lĩnh Nam lùi dần về sau lưng, nhường chỗ cho những dãy núi đá vôi xám xịt,
cao ngút ngàn, dựng đứng như thể những nhát kiếm khổng lồ cắm thẳng lên nền trời âm u. Mây đen sà thấp ngang sườn núi, ẩm ướt và nặng trĩu hơi sương. Những rặng trúc mọc ken dày dọc các vách đá cheo leo, cành lá rủ rượi đẫm nước mưa lạnh buốt.
Xe dừng lại ở một ngã ba heo hút khi hoàng hôn vừa tắt hẳn. Người phụ xe gõ mạnh cọc sắt vào thành cửa,
cất giọng the thé gọi tên bến Đà Giang rồi giục tôi bước vội xuống vệ đường. Cánh cửa sắt han rỉ đóng sầm lại sau lưng tôi, kéo theo tiếng gầm rú của khối động cơ cũ kỹ khuất dần sau một khúc quanh mù mịt.
Trước mặt tôi, một con dốc dài trải đá cuội dẫn thẳng xuống mép nước.
Dòng sông Đà Giang vào cữ chập choạng tối chìm ngập dưới lớp sương lam dày đặc.
Thứ sương mù xám đục từ mặt sông bốc lên cuồn cuộn, nuốt trọn bờ bãi và chân các vách núi đá vôi hai bên.
Mặt sông rộng chừng trăm thước, nước sâu hun hút mang sắc xanh lục thẫm pha lẫn màu xám chì, bề mặt trông phẳng lặng nhưng bên dưới lại cuộn trào những dòng nước xiết nguy hiểm.
Luồng khí lạnh từ lòng vực phả thốc lên mặt khiến tôi khẽ rùng mình, kéo cao cổ áo khoác để ngăn những cơn gió bấc thổi rát từng mảng da gà.
Ở mép nước lởm chởm đá cuội trơn trượt, một chiếc thuyền gỗ dài hẹp nằm gối mũi vào bờ. Đầu thuyền cắm một cây sào tre dài đã lên nước bóng lẫy, đầu sào buộc một chiếc đèn bão cũ kỹ phát ra ánh lửa vàng vọt le lói trong màn sương mịt mù.
Ngồi trên mũi thuyền là một ông lão mặc chiếc áo tơi kết bằng lá cọ đã tơi tả,
đầu đội nón chóp nhọn, khóe miệng ngậm một tẩu thuốc bằng rễ tre hun khói. Khuôn mặt ông hằn sâu những nếp nhăn ngang dọc, da dẻ đen sạm vì phong sương, đôi mắt đùng đục nhìn chằm chằm vào khoảng sương xám trên mặt nước.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo của tôi trên đá cuội, ông lão chậm rãi nhả một ngụm khói đắng ngắt rồi quay sang nhìn.
- Muốn qua sông à?
-
- Ông cất giọng khàn đặc, chất giọng trầm nặng mang ngữ âm vùng núi Hồ Nam.
- Chuyến cuối rồi đấy. Trễ một tuần hương nữa thì sương đóng kín đáy hẻm, quỷ thần có mách lối cũng không tìm được bến bờ bên kia.
- Dạ, tôi muốn sang bên kia núi.
-
- Tôi đáp, bước xuống mép ván cầu ọp ẹp được bắc tạm từ bờ đá lên mạn thuyền.
- Trông cậy vào bác.
- Gọi tôi là Thẩm Lão Hán.
-
- Ông lão gõ tẩu thuốc vào mạn thuyền lách cách, tàn thuốc đỏ rực rơi xuống mép nước, xèo một tiếng nhỏ rồi lụi tắt.
- Trả bốn hào bạc lẻ. Lên thuyền thì ngồi yên ở khoang giữa, cấm ngoái đầu nhìn xuống lườn gỗ.
Lúc này tôi mới phát hiện ở khoang sau chiếc thuyền đã có hai người khách ngồi sẵn.
Đó là hai người đàn ông trung niên mặc áo chẽn chàm xanh viền chỉ đỏ, đầu quấn khăn sọc đen trắng theo lối người miền núi.
Trước ngực họ đặt hai chiếc gùi mây cỡ lớn phủ kín vải bạt đen thắt nút rất chặt.
Họ ngồi im như tượng đồng, lưng tựa vào vách thuyền, hai đôi mắt lạnh tanh nhìn lướt qua tôi rồi lập tức cúi gằm xuống khoảng tối dưới chân mạn gỗ.
Mùi thảo mộc khô ngai ngái xen lẫn mùi ngải tây bốc ra từ những chiếc gùi, tạo nên một thứ bầu không khí ngột ngạt khó tả.
Tôi chọn một góc khoang trống ở giữa, đặt chiếc ba lô lên đùi và siết chặt quai xách.
Thẩm Lão Hán không vội nhổ sào ngay. Lão đứng dậy trên mũi thuyền, thò tay vào chiếc giỏ mây treo cạnh be gỗ, rút ra một nắm gạo rang trộn lẫn tro lá ngải cứu đã cháy vụn. Miệng lão lẩm bẩm những câu khấn nhỏ vụn bằng tiếng địa phương cổ xưa,
âm điệu trầm đục nghe như tiếng rì rầm của rễ cây mọc dưới lòng đất. Lão vung tay rải nắm gạo rang thành một vòng tròn quanh mép thuyền, một phần rơi lách tách trên sàn gỗ, phần còn lại rơi xuống mặt nước xám ngắt.
Mặt sông nơi hạt gạo rơi xuống lập tức gợn lên những vòng sóng tròn kỳ lạ. Nước kêu ùng ục vài tiếng nhỏ rồi nuốt chửng những hạt gạo rang xuống lòng sâu hun hút.
- Mở lối đường âm, xin nương khúc sông lạnh.
-
- Thẩm Lão Hán nói khẽ một câu, đoạn rút cây sào tre dài cắm mạnh xuống đáy ghềnh đá.
Con thuyền gỗ khẽ rung lên, tách khỏi bờ đá lởm chởm rồi trôi êm ru vào giữa dòng nước chảy xiết của sông Đà Giang.
Màn sương mù lập tức bủa vây tứ phía. Ánh đèn bão trên đầu sào chỉ rọi sáng được một khoảng bán kính chừng năm thước quanh thân thuyền, ngoài phạm vi đó là một màu xám đục mịt mùng,
nuốt chửng cả bóng hình những vách núi cao sừng sững bên bờ. Không gian chung quanh rơi vào một cõi tĩnh lặng rợn cả gáy, chỉ có tiếng mái chèo gỗ của Thẩm Lão Hán khua nước nhịp nhàng, từng nhịp "ì oạp... ì oạp vang vọng giữa hai bờ hẻm núi sâu.
Chiếc thuyền trôi đến đoạn giữa lòng sông, nơi hai vách đá vôi khép lại thành một khe hẹp hun hút. Gió bấc từ đầu nguồn thổi thốc vào hẻm đá, rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe nứt tự nhiên trên vách núi.
Chính lúc này, giác quan thứ sáu của tôi bất chợt nhói buốt.
Một cơn rùng mình lạnh toát chạy dọc từ đốt sống lưng lên tận chân tóc. Đôi tai tôi ù đi trong tích tắc,
tiếng gió rít và tiếng khua nước như bị dìm xuống một tầng âm thanh sâu thẳm khác. Từ những hốc đá ngầm nằm sâu dưới đáy sông Đà Giang, hàng vạt âm thanh lạo xạo lờ mờ bắt đầu dội ngược lên mạn thuyền.
Đó là những tiếng thở dài nặng nhọc, đói khát và nghẹn ứ.
Đói quá... lạnh quá... cho một vốc...
Tiếng thở than rì rầm như có hàng chục cái miệng đang ngậm đầy cát sỏi và bùn lầy, cố sức há rộng dưới tầng nước xiết để gào thét. Tôi cúi đầu nhìn qua khe hở của các tấm ván sàn thuyền. Dưới làn nước xanh thẫm trôi băng băng,
những vệt sương ngầm cuộn xoáy thành từng dải màu đen nhánh, uốn lượn quanh đáy thuyền như thể những cánh tay khẳng khiu đang vươn lên từ cõi chết.
Hai người khách buôn miền núi ngồi ở khoang sau bỗng siết chặt hai bàn tay lại. Người ngồi bên trái run rẩy lần tràng hạt gỗ bồ đề trong bọc áo,
đầu gục sát vào đầu gối, miệng tụng niệm liên hồi những câu thần chú trừ tà bằng giọng tắc nghẹn. Người còn lại vội vàng lấy từ trong túi áo ra một vốc muối hạt thô, lén lút thả từng nhúm nhỏ qua khe hở mạn thuyền xuống dòng nước đen ngòm.
Thẩm Lão Hán khẽ liếc mắt nhìn hai người khách buôn, giọng lão cất lên lạnh như băng:
- Cất muối đi. Ở khúc sông này, các người thả muối chỉ tổ làm chúng nó xót ruột mà trèo lên thuyền thôi. Ngồi yên đó!
Hai người khách buôn lập tức rụt tay lại, cơ thể cứng đờ ra, không dám nhúc nhích dù chỉ một đầu ngón tay.
Thẩm Lão Hán cắm sâu cây sào tre xuống lòng sông để ghìm mũi thuyền ngược dòng nước xoáy. Khi lão rút sào lên, tôi nhìn thấy phần ngọn sào ngập trong nước bám đầy một thứ bùn đen quánh đặc,
sủi lên từng đám bọt khí nhỏ li ti bốc mùi tanh nồng nặc của cá chết và rễ cây thối rữa. Thứ bùn này có màu sắc đen sẫm khác thường, dẻo quánh hệt như lớp bùn non ở đầm Bồ Tầm dưới Vọng Ngưu Đôn.
Lão chèo đò lấy tay áo quẹt lớp bùn bám trên thân sào, thở dài một tiếng nặng trịch:
- Dưới đáy khúc sông này nhiều xương người lắm. Năm ba bảy, nạn đói từ phương nam tràn lên, người ta dắt díu nhau chạy trốn qua hẻm núi này mong tìm đường sang đất Hồ Nam. Nhưng đến bến phà thì kiệt sức. Cả trăm con người ngã gục ngay bên mép nước,
đói đến mức cào đất mà ăn, rồi nước lũ đầu nguồn đổ về cuốn phăng tất cả xuống các hốc đá ngầm dưới đáy vực. Xác thịt rữa nát hòa vào đất cát, biến thành thứ bùn độc tích tụ ngót mấy chục năm nay vẫn chưa tan hết.
Tôi nhìn lớp bùn đen sẫm trên đầu ngọn sào tre của lão, lồng ngực thắt lại. Manh mối từ lời trăn trối của Hương Bà hiện về rõ mồn một. Đại trận trấn yểm năm Đinh Sửu quả thực đã vươn những xúc tu đen tối của nó từ vùng núi sâu Tương Tây này,
thông qua các mạch nước ngầm chằng chịt dưới lòng đất để dẫn oán khí xuống tận hạ lưu vùng Lĩnh Nam.
Tôi nuốt ngụm nước bọt khô khốc, hạ thấp giọng dò hỏi:
- Bác Thẩm, bác chèo đò ở bến Đà Giang này bao năm, đã từng nghe nhắc đến Thần Khê Động bao giờ chưa?
Nghe thấy ba chữ "Thần Khê Động", động tác đẩy sào của Thẩm Lão Hán đột ngột khựng lại.
Chiếc thuyền gỗ chao nghiêng trên một ngọn sóng ngầm, nước sông bắn tung tóe qua be thuyền làm ướt sũng gấu quần của tôi. Hai người khách buôn phía sau cũng giật nảy mình, ngẩng phắt đầu dậy nhìn tôi bằng ánh mắt hoảng hốt xen lẫn kinh sợ tột cùng.
Thẩm Lão Hán từ từ xoay nửa khuôn mặt lại. Dưới ánh đèn bão hắt hiu, đôi mắt đục ngầu của lão trợn to, gân máu nổi hằn trên trán:
- Cậu hỏi chỗ đó để làm cái gì? Cậu là người phương nam, từ vùng biển Lĩnh Nam tới đây đúng không?
- Tôi là người đi sưu tầm ghi chép chuyện dân gian.
-
- Tôi bình tĩnh đáp, ánh mắt nhìn thẳng vào vẻ mặt đang căng thẳng tột độ của lão.
- Tôi nghe người già dưới Vọng Ngưu Đôn kể lại, năm ba bảy có một nhánh người thuộc dòng dõi Hương Bà mang theo đồ tế khí bỏ trốn lên vùng Thần Khê Động này.
Thẩm Lão Hán thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo tơi lá cọ. Lão nhìn trừng trừng vào tôi một lúc lâu, đoạn lắc đầu quầy quậy:
- Đừng tìm.
Quay về phương nam mà sống đi cậu trẻ ạ.
Chỗ đó không phải là nơi người sống có thể bén mảng tới.
Dòng họ Hương Bà Lĩnh Nam năm xưa trốn sang đây đúng là có thật, nhưng bọn họ đến đây đâu phải để tị nạn.
Họ đến để canh giữ một cái lò luyện cổ xưa nằm sâu trong lòng núi Thần Khê.
Người của dòng họ đó sống cô độc trong những căn nhà sàn dựng giữa hẻm đá, không giao thiệp với người trần gian, suốt ngày chỉ bầu bạn với bùa chú và cây ngải độc.
Lão nghiến răng, hạ giọng thì thào:
- Mấy năm nay, mạch nước dưới chân núi Thần Khê bắt đầu trào bùn đen ra sông lớn. Người bên bờ sông bảo rằng phong ấn của nhà họ Hương đang suy yếu,
những thứ bị giam cầm từ năm ba bảy sắp chui lên rồi. Cậu tìm đến đó, khéo lại nộp mạng cho đụn đất sống trong hũ đồng của họ!
Câu nói của lão lái đò rơi vào khoảng không tĩnh mịch, đè nặng lên tâm trí tôi.
Dòng họ Hương Bà năm xưa quả nhiên đã chọn vùng núi Tương Tây hiểm trở này làm cứ địa để giam giữ cội nguồn của thảm họa.
Và bức vẽ nhánh sông kẹp giữa hai dãy núi trên mảnh bùa chu sa chính là chỉ dấu dẫn đến căn nhà sàn của người truyền thừa cuối cùng.
Cơn gió bấc lại rít lên lồng lộng, đẩy chiếc thuyền gỗ vượt qua khúc sông hẹp nhất của Đà Giang.
Trước mũi thuyền, màn sương mù bắt đầu loãng dần, để lộ ra bờ đá gồ ghề của sườn núi bên kia. Ánh sáng vàng vọt từ cây đèn bão rọi lên một dải đất dốc đứng, mọc đầy những cây dương xỉ khổng lồ và bụi rậm gai góc.
Khi chiếc thuyền từ từ áp sát mép nước bên bờ bắc, tôi giật mình nhận ra một quang cảnh kỳ quái dựng sừng sững dọc theo mép bờ đá.
Dưới làn nước xâm xấp mép bờ, hàng chục cây cọc trúc vót nhọn hoắt được cắm sâu vào nền đá cuội.
Đầu mỗi cọc trúc đều buộc những sợi chỉ đỏ đã xơ xác vì nắng mưa, đan chéo vào nhau tạo thành một mạng lưới hình bát quái vắt ngang mép nước.
Trên thân các cọc trúc, những vệt máu gà khô đen sì cùng bột chu sa đã kết tủa thành từng mảng vảy cứng ngắc, tạo nên một hàng rào phong ấn tà thuật cổ truyền ngăn cách lòng sông với sườn rừng phía trên.
Chiếc thuyền gỗ khẽ dội vào bờ đá một tiếng "cục" khô khốc.
Thẩm Lão Hán giữ chặt cây sào tre, không chịu bước chân lên bờ dù chỉ nửa bước. Lão quay lưng về phía sườn dốc, giọng nói lộ rõ vẻ bất an:
- Cập bến rồi. Đi men theo lối mòn đá bên tay phải,
vượt qua hai con dốc đứng sẽ tới con đường dẫn vào rừng trúc. Nhưng tôi khuyên cậu lần cuối, nếu thấy mùi bùn tanh thì phải quay đầu lại ngay. Nước sông Đà Giang dạo này đang cạn, nhưng lũ quỷ ăn bùn dưới lòng đất thì đang thức giấc đấy.
Tôi móc mấy đồng bạc lẻ đặt vào lòng bàn tay chai sạn của lão chèo đò, gật đầu cảm tạ:
- Đa tạ bác Thẩm đã chỉ đường.
Hai người khách buôn miền núi phía sau vẫn ngồi im thin thít, không ai dám cất tiếng thở dài, chỉ trừng trừng nhìn mạng lưới cọc trúc buộc chỉ đỏ nơi mép nước như thể đang nhìn vào cửa ngục chốn trần gian.
Tôi khoác chặt quai ba lô lên hai vai, bước qua mép ván gỗ rồi nhảy xuống bờ đá cuội. Đôi giày bệt lún sâu vào lớp đất ẩm ướt pha lẫn bùn non trơn trượt.
Phía sau lưng tôi, tiếng sào tre của Thẩm Lão Hán vội vã chống mạnh xuống nền đá. Con thuyền gỗ nhanh chóng quay mũi,
rẽ nước chèo ngược trở lại lòng sông sương mù. Tiếng sào gõ vào mạn thuyền "cốc... cốc... cốc nhịp nhàng vang lên để định hướng giữa màn sương xám xịt. Rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chìm nghỉm hẳn vào tiếng gió núi gầm gừ.
Chỉ còn tôi đứng trơ trọi bên mép rừng hoang lạnh.
Trước mặt tôi là một con dốc đá cheo leo, hẹp đến mức chỉ vừa một thân người lách qua,
uốn lượn ngoằn ngoèo men theo vách núi dựng đứng rồi biến mất vào bóng tối dày đặc của rừng trúc nguyên sinh. Không khí nơi đây ẩm ướt lạ lùng, từng giọt nước lạnh buốt rỏ tong tỏng từ các cành cây cao xuống nền lá mục dưới chân.
Tôi bấm bật chiếc đèn pin mang theo bên mình, luồng ánh sáng trắng yếu ớt quét qua những thân trúc già đen kịt, cao vút mọc san sát nhau như một bức tường thành tự nhiên.
Tôi lấy lại bình tĩnh, nhấc bước chân đầu tiên đặt lên lối mòn đá rêu phong.
Nhưng vừa bước được ba bước, bước chân tôi đột ngột khựng lại giữa chừng.
Từ sâu thẳm trong tán rừng trúc đen kịt phía trước mặt, một thanh âm thanh mảnh, lạnh lẽo bất thần vang lên phá tan sự tĩnh lặng của màn đêm.
Keng... keng... keng...
Đó là tiếng chuông đồng rỉ sét đang khẽ rung lên từng nhịp rời rạc theo chiều gió bấc. Cùng lúc với tiếng chuông ma quái ấy,
một luồng gió lạnh buốt từ khe núi sâu thốc thẳng vào mặt tôi, mang theo mùi tanh nồng nặc, quánh đặc của bùn ướt và tử thi xộc thẳng vào sống mũi.